SỞ GD - ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN
TỈNH VĨNH PHÚC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) với Cương lĩnh và Nghị quyết đã vạch ra phương
hướng đi lên CNXH và bước đầu thực hiện CNH-HĐH đất nước. Đại hội Đảng VIII (1996) tiếp tục
con đường CNH-HĐH và Đại hội Đảng IX (2001) đánh giá việc thực hiện chiến lược do Đại hội
VII vạch ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI: " Chiến lược đẩy mạnh
CNH-HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp"
Phải thấy rằng: sự phát triển của một quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc lớn vào tiềm năng tri
thức của dân tộc đó. Giáo dục cùng với KH-CN là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội.
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển KH - KT và đem lại sự thịnh vượng cho
nền kinh tế quốc dân. Có thể khẳng định rằng: không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển
nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Ý thức được điều đó, Đảng ta đã thực sự coi "Giáo
dục là quốc sách hàng đầu" Hội nghị TW 4 khoá VII đã khẳng định "Giáo dục - Đào tạo là chìa
khoá để mở cửa tiến vào tương lai". Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã tiếp tục khẳng định "Muốn tiến
hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con
người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững". Đại hội đảng lần thứ X (2006) tiếp tục
nhấn mạnh Đảng ta coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển.
Đội ngũ giáo viên có một vai trò vô cùng quan trọng để làm cho giáo dục thực hiện được sứ mệnh
cao cả đó. Hồ Chủ tịch đã từng nói "Không có thầy thì không có giáo dục". Rõ ràng phát triển đội
ngũ giáo viên là yêu cầu cấp thiết, là yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển giáo
dục.
Cùng với giáo dục của cả nước, trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang nỗ lực thực
tạo trong giai đoạn mới.
Nếu nắm được đặc điểm công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, đề xuất và thực thi
được các giải pháp khắc phục tình trạng trên, sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý phát triển đội ngũ
giáo viên ở trường THPT Bình Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Nghiên cứu tài liệu.
- Các văn kiện của Đảng về phát triển đất nước, phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ CNH,
HĐH, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010, Dự thảo chiến lược phát triển giáo
dục giai đoạn 2009-2020.
- Giáo trình, tài liệu, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT và Sở GD& ĐT
Vĩnh Phúc
- Các tạp chí, tập san giáo dục
7.2. Nghiên cứu thực tiễn:
Quan sat, am thoai, phong võn can bụ quan ly, giao viờn trng THPT Bỡnh Sn, tụng kờt kinh
nghiờm quan ly giao duc cua trng THPT Bỡnh Sn.
7.3. Phng phap hụ tr.
- iờu tra
- Khao sat
- Thụng kờ
- Bang biờu
- S ụ.
PHN NI DUNG
CHNG I
C S KHOA HC CA VIC QUN Lí
NHM PHT TRIN I NG GIO VIấN THPT
1.1. C S Lí LUN
Quan ly la s tac ụng liờn tuc co tụ chc, inh hng cua chu thờ lờn khach thờ vờ cac mt chinh
tri, vn hoa, xa hụi, kinh tờ bng hờ thụng cac luõt lờ, cac chinh sach, cac nguyờn tc, cac phng
phap va biờn phap cu thờ nhm tao ra mụi trng va iờu kiờn cho s phat triờn cua ụi tng.
Theo tác giả Trần Kim Dung: Quản lý nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt
động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con ngời của một tổ chức nhằm đạt đợc kết
quả tối u cho tất cả tổ chức và nhân viên.
Nh vậy, và vấn đề quản lý nguồn nhân lực không chỉ là đơn thuần chỉ là vấn đề quản trị hành chính
nhân viên.
Trong nha trng, ụi ngu giao viờn trong tõp thờ s pham. Tõp thờ s pham trong trng hoc la
tụ chc cua tõp thờ lao ụng s pham, ng õu la hiờu trng. Tõp thờ s pham liờn kờt cac giao
viờn, can bụ, nhõn viờn thanh mụt cụng ụng giao duc co tụ chc, co muc ich thụng nhõt, co
phng thc hoat ụng nhm thc hiờn nhiờm vu giao duc cua nha trng.
ụi ngu giao viờn la lc lng chu yờu, quan trong nhõt trong tõp thờ s pham nha trng lam
nhiờm vu giang day, giao duc trong nha trng, la nhõn tụ quyờt inh chõt lng ao tao cua nha
trng. Vi võy cõn bụi dng ờ phỏt trin ụi ngu giao viờn.
ụi ngu giao viờn trong tõp thờ s pham cung co nhng c iờm giụng nh c iờm cua tõp thờ
s pham.
c iờm vờ muc tiờu: Muc tiờu cua tõp thờ s pham hoan toan thụng nhõt vi muc tiờu giao duc
cua trng THPT la "Nhm giup hoc sinh cung cụ va phat triờn nhng kờt qua giao duc cua trung
hoc c s, hoan thiờn hoc võn phụ thụng va nhng hiờu biờt thụng thng vờ ky thuõt va hng
nghiờp, cú iu kin phỏt huy nng lc cỏ nhõn ờ la chn hng phỏt trin, tiờp tuc hoc ai hoc,
cao ng, trung hoc chuyờn nghiờp, hoc nghờ, hoc i vao cuục sụng lao ụng" (Mc 4, iu 27,
Lut Giỏo dc 2005).
Trong qua trinh hoat ụng thc hiờn muc tiờu o, tp th s phm nha trng am bao c s
thụng nhõt gia nhu cõu li ich cua tng thanh viờn vi muc tiờu cua tõp thờ va muc tiờu xa hụi. S
thụng nhõt va hai hoa ba li ich o la iờu kiờn tiờn quyờt trong s tụn tai va phat triờn cua tõp thờ.
"Trong thc tiờn cua tõp thờ s pham, mụi bc ờu co s ụi choi gia muc tiờu ca nhõn va tõp
thờ va võn ờ hoa hp cac muc ich o. Nờu trong mụt tõp thờ con cam thõy mõu thuõn gia muc
ich chung va muc ich riờng thi co nghia la tõp thờ o cha c tụ chc ung n. Chi ni
nao muc ich chung va muc ich riờng hoa hp, ni nao khụng co s lac iờu thi õy tõp thờ la
tõp thờ vng manh" (Macarencụ).
c iờm vờ tụ chc: tp th s phm a dang vờ c cõu tụ chc, bao gụm: Cac tụ chc hanh
chinh, tụ chc ang va cac tụ chc oan thờ.
Quá trình tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường biểu hiện ở sự giao tiếp, thích nghi, tìm hiểu,
đánh giá, cảm hoá, thuyết phục, bắt chước, lan truyền cảm xúc cho nhau. Các trạng thái tâm lý xã
hội của tập thể sư phạm thường thể hiện ở tâm lý và dư luận lành mạnh của tập thể, truyền thống
của tập thể, bầu không khí tâm lý - đạo đức tập thể.
Khi các thuộc tính này được khơi dậy và phát huy thì sẽ trở thành động lực và sức mạnh tinh thần
của tập thể.
Giá trị của tập thể sư phạm: Giá trị mang ý nghĩa xã hội to lớn của tập thể sư phạm đó là nhiệm vụ
giáo dục thế hệ trẻ, những công dân tương lai của đất nước. Có thể nói tập thể sư phạm góp phần
quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Trong quá trình lao động sư phạm, để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng cao cả của
mình, tập thể sư phạm đã khẳng định những giá trị của tập thể mình và chính bản thân mỗi giáo
viên cũng có điều kiện để thỏa mãn những nhu cầu lợi ích của mình để không ngừng hoàn thiện
nhân cách. Trong tập thể sư phạm phải bảo đảm tốt nhất mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân - tập thể
- xã hội.
Phát triển đội ngũ là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng
thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Các hoạt
ng ú cú th c cung cp trong vi gi, vi ngy hoc thm chớ ti vi nm, tựy vo mc tiờu
hc tp; v nhm to ra s thay i hnh vi ngh nghip cho ngi lao ng theo hng i lờn, tc
l nhm nõng cao kh nng v trỡnh ngh nghip ca h. Nh vy, xột v mt ni dung, phỏt
trin i ng bao gm bn loi hot ng l: giỏo dc, o to, bi dng v phỏt trin.
Giỏo dc: c hiu l cỏc hot ng hc tp chun b cho con ngi bc vo mt ngh
nghip hoc chuyn sang mt ngh mi, thớch hp hn trong tng lai.
o to: c hiu l ỏcc hot ng hc tp nhm giỳp cho ngi lao ng cú th thc hin cú
hiu qu hn chc nng, nhim v ca mỡnh. ú chớnh l quỏ trỡnh hc tp lm cho ngi lao ng
nm vng hn v cụng vic ca mỡnh, l nhng hot ng hc tp nõng cao trỡnh , k nng
ca ngi lao ng thc hin nhim v lao ng cú hiu qu hn.
Bồi dỡng: là hoạt động nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho cán bộ, công
chức trong một tổ chức hành chính nhà nớc khi mà những kiến thức, kỹ năng đợc đào tạo trớc đây
đã lạc hậu, không đủ để thực hiện có hiệu quả hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong tổ chức đó.
Sự thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội diễn ra thờng xuyên dới tác động của tiến bộ khoa học -
+ Về nhiệm vụ nhà giáo, luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu chuẩn, trong đó có các
tiêu chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn
nghiệp vụ" ( Điều 70).
+ Mục 3 - Chương IV nói về chính sách đối với nhà giáo "Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà
giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo".
+ Điều 72 - Chương IV nêu nhiệm vụ của nhà giáo: "Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất
lượng và hiệu qủa giảng dạy và giáo dục".
- Điều lệ trường THPT:
+ Điều 33 nói về trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên: Trình độ chuẩn của giáo viên THPT là
tốt nghiệp ĐHSP. Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn quy định này được nhà trường, cơ quan quản
lý giáo dục tạo điều kiện để đạt trình độ chuẩn.
+ Điều 3 Chương I nói về nhiệm vụ, quyền hạn của trường THPT là "Quản lý giáo viên nhân viên
và học sinh"; "tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo
dục trung học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành".
- Trong giải pháp thứ hai của Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020 của Bộ
GD&ĐT nêu "Tổ chức các chương trình đào tạo đa dạng nhằm nâng cao chuẩn trình độ đào tạo
cho đội nguc nhà giáo. Đến năm 2020 có 80% số giáo viên mầm non và 100% số giáo viên tiểu
học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 100% số giáo viên THCS và THPT đạt trình độ đại học trở
lên; 20% số giáo viên các trường trung cấp nghề và 35% số giáo viên các trường cao đẳng nghề
đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 80% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 15%
là tiến sỹ; 100% giảng viên đại học có trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ".
" Tăng cường trật tự, kỷ cương; xây dựng, củng cố môi trường sư phạm; phấn đấu để mọi hoạt
động của nhà trường đều có tác dụng giáo dục thiết thực và sâu sắc đối với học sinh. Các tập thể sư
phạm phải đảm bảo nêu cao tính gương mẫu; không chỉ giáo dục học sinh bằng việc lên lớp, giảng
bài mà trước hết phải bằng thái độ tận tuỵ với nghề, thương yêu học sinh về mọi mặt " (864/SGD-
GDTrH- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2009-2010 của Sở giáo dục và đào tạo Vĩnh
Phúc).
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
cá nhân và cộng đồng. Không những phát triển về số lượng mà điều quan trọng là đã nâng cao
được chất lượng đội ngũ giáo viên trên các mặt: năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm. Một vài
năm học gần đây, số giáo viên giỏi (cấp tỉnh) ngày một tăng lên. Số giáo viên được xếp loại chuyên
môn khá ngày một nhiều. Nhà trường không có giáo viên bị xếp loại chuyên môn yếu, kém. Thành
tích đó được thể hiện ở kết quả thanh tra chuyên môn của Sở GD - ĐT Vĩnh Phúc ( mỗi năm thanh
tra một lần), thể hiện ở kết quả thi học sinh giỏi ( cấp tỉnh) hàng năm.
Dưới đây là bảng thống kê xếp loại chuyên môn giáo viên năm học 2008-2009 (Nguồn nhà trường)
Môn SL
Xếp loại
Ghi chú
G K TB Y
Văn 9 2 4 3 0
Sử 4 1 1 2 0
Địa 4 1 2 1 0
Anh văn 5 0 2 3 0
GDCD 2 1 1 0 0
Toán 11 2 6 3 0
Lý 8 0 2 6 0
Hoá 3 1 1 1 0
Sinh 6 1 2 3 0
TD 3 1 1 1 0
Tin 2 1 1 0 0
Kỹ CN 2 0 1 1 0
Kỹ NN 2 0 1 1 0
- Tổ chức phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy học. Năm học 2008 - 2009 có
một số sáng kiến kinh nghiệm được Hội đồng khoa học nhà trường đánh giá cao.
- Động viện, phát động phong trào tự học: Giáo viên có ý thức tự học, tự bồi dưõng qua dự giờ, sưu
tầm và đọc thêm tài liệu.
- Động viên, khuyến khích giáo viên đi học nâng cao trình độ. Trường có 6 thạc sỹ và 3 giáo viên
Số học
sinh dự thi
Số học
sinh đạt
giải
Giải nhất
Giải nhì
Giải ba
Giải KK
2005 – 2006 112 67 0 0 7 60
2006 – 2007 119 83 1 2 9 71
2007 – 2008 258 119 4 9 19 87
2008 - 2009 201 97 2 5 24 66
2.2. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT
BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC
2.2.1. Những tồn tại chung về chất lượng đội ngũ giáo viên THPT. Một bộ phận giáo viên trình
độ chuyên môn yếu, phẩm chất nhân cách kém. Đa số giáo viên sử dụng phương pháp dạy học và
giáo dục lạc hậu, nặng về truyền thụ kiến thức, ít coi trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tư
duy độc lập sáng tạo và thái độ đúng đắn trong học tập, trong cuộc sống.
2.2.2. Những tồn tại riêng của trường THPT Bình Sơn.
a. Về tư tưởng chính trị, đạo đức và lý tưởng nghề nghiệp: Đa số giáo viên có tư tưởng lập
trường tư tưởng chính trị vững vàng , đạo đức trong sáng, yêu nghề. Nhưng chưa có sự nhạy bén,
mẫn cảm và chưa có khả năng thích ứng về mặt xã hội trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện
nay. Bên cạnh đó có một vài thành viên chữa mẫu mực trong phẩm chất, đạo đức, như tư tưởng cá
nhân vẫn còn lấn át tư tưởng tập thể, hay đòi hỏi quyền lợi, thường gắn nhiệm vụ với hưởng thụ,
phạm còn ở mức độ thấp. Có nhiều giáo viên kiến thức khoa học tương đối vững nhưng thiếu năng
lực sư phạm, như việc thiết kế giáo án môn học, tổ chức giờ học thiếu khoa học, nghệ thuật truyền
thụ , khả năng giao tiếp với học sinh, ứng xử các tình huống trong giảng dạy và giáo dục còn hạn
chế. Có nhiều giáo viên thiếu kinh nghiệm trong phương pháp giáo dục học sinh, chưa gắn việc
giáo dục học sinh vào trong nội dung môn học, bài dạy. Thậm chí có giáo viên còn thờ ơ trong việc
giáo dục đạo đức học sinh, xem đó là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm, của BGH, của đoàn thanh
niên.
Trong công tác chủ nhiệm, có một số giáo viên chưa có năng lực tổ chức sinh hoạt tập thể, thuyết
phục, cảm hóa học sinh, ứng xử các tình huống sư phạm.
d) Năng lực làm công tác xã hội hoá giáo dục.
Đa số giáo viên chưa nắm vững nội dung công tác này, họ chỉ thực hiện công tác này một cách thụ
động. Họ xem đó là việc của Nhà nước, của các cấp lãnh đạo. Trong các buổi sinh hoạt lớp, họp
phụ huynh, giáo viên diễn giải, thuyết trình vu vơ, hời hợt, chiếu lệ. Về phía quản lý, ban giám hiệu
cũng chưa có kế hoạch, chỉ đạo sát sao, chưa triển khai cụ thể đầy đủ.
e. Năng lực về tin học.
Hầu hết giáo viên có hiểu biết gì về tin học, về máy tính, có thể thiết kế giảng dạy bằng giáo án
điện tử. Nhưng đa sô giáo viên đều ngại thiết kế và giảng dạy bằng giáo án điện tử vì phải bỏ ra
nhiều thời gian để soạn bài và việc bố trí phòng học còn gặp nhiều khó khăn.
g) Năng lực ngoại ngữ.
Ngoài giáo viên ngoại ngữ, số giáo viên còn lại tuy đã được học trong trường đại học nhưng khi ra
trường đều không sử dụng do đó khả năng về ngoại ngữ rất kém. Đặc biệt số giáo viên công tác lâu
năm không có hiểu biết về tiếng Anh.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do nội dung, qui trình đào tạo. Trong lúc đó nhà trường chưa
có biện pháp, chủ trương học và nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giáo viên. Bản thân giáo viên
chưa có tinh thần và điều kiện tự học.
h) Về học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo cơ hội phát triển
Do điều kiện trường nằm ở vùng núi, cuối tỉnh, cuối huyện nên không thu hút được đội ngũ giáo
viên, nhiều giáo viên được phân về trường đã không đến nhận công tác, hàng năm giáo viên xin
chuyển trường rất nhiều dẫn đến tình trạng trường thiếu giáo viên trầm trọng kéo dài triền miên
trong những năm vừa qua ( năm 2008-2009 thiếu 16 giáo viên ). Từ chỗ thiếu giáo viên như vậy
viên, phải tự giác, tích cực chủ động trong việc tiếp nhận nội dung bồi dưỡng của cấp trên, đồng
thời nêu cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng. Mỗi giáo viên, khi nhận thức rõ sự cần thiết phải bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng họ sẽ có động cơ, thái độ đúng đắn, có quyết tâm cao, và từ đó nâng cao
chất lượng công tác.
3.1.3. Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa yêu cầu trước mắt và lâu dài. Trước mắt cần đảm bảo cho
giáo viên được cập nhật những kiến thức cần được điều chỉnh và đổi mới trong chương trình môn
học, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục. Về lâu dài, giáo viên cần được bồi dưỡng nâng chuẩn
lên trình độ thạc sĩ, tiến sĩ để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của người giáo viên của trường THPT
trong thời kỳ mới.
3.1.4. Đảm bảo vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của người quản lý trong công tác bồi dưỡng
là một nguyên tắc cơ bản. Hiệu trưởng giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng. Hiệu trưởng cần giáo dục để giáo viên nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải nâng cao và tự
nâng cao trình độ, năng lực. Hiệu trưởng cần thống nhất được yêu cầu xây dựng và phát triển đội
ngũ của toàn trường với mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên, thu hút mọi giáo viên vào các hình
thức học tập phù hợp.
Có rất nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo viên. Với đặc điểm tình hình riêng của trường
THPT Bình Sơn và vận dụng các nguyên tắc bồi dưỡng phát triển, tôi đề xuất một số biện pháp
sau:
3.2. TĂNG CƯỜNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ GIÁO VIÊN
VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ.
3.2.1. Nội dung tăng cường.
Những nội dung cần bồi dưỡng về nhận thức như sau:
Bồi dưỡng nhận thức về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển. Phải làm cho mọi người thấu
triệt giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển cá nhân và xã hội. Giáo dục được coi là đồng
nghĩa với sự phát triển. Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ
thuật và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Nền giáo dục phát triển nhân cách mỗi
cá thể và bản sắc dân tộc góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước.
Bồi dưỡng nhận thức về quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ
CNH, HĐH.
a) Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm
Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo đức của người thầy phải
được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người thầy cũng phải xứng đáng là tấm gương sáng
cho học sinh noi theo. Người hiệu trưởng khi xây dựng phong cách người thầy phải chú ý tới hai
mặt. Đó là thái độ đối với công việc và cách ứng xử trước những vấn đề, tình huống trong quan hệ
với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tình huống của thế thái nhân tình. Người thầy
muốn làm tốt công tác giáo dục phải có tác phong mẫu mực, tôn trọng và công bằng trong đối xử
với học sinh, phải xây dựng uy tín trước học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào
cũng không được làm hoen ố danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ cương,
nề nếp, lương tâm, trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho thầy cô giáo thêm tự
hào, gắn bó với nghề, trường để tạo động lực phát triển nhà trường.
Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng trong công tác bồi
dưỡng chất lượng giáo viên. Lòng nhân ái - tình yêu thương con người là cái gốc của đạo lý làm
người. Với giáo viên thì tình yêu thương ấy là cốt lõi, là cội nguồn sâu xa của lý tưởng nhân văn, là
đặc trưng của giáo dục. Tình thương yêu học sinh là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo sư phạm
và làm cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tình yêu thương học sinh thể hiện trong
các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là điểm xuất phát của tình yêu nghề nghiệp. ý thức,
thái độ và tình yêu nghề nghiệp thể hiện ở việc không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức để trở
thành tấm gương sáng, gây niềm tin đạo đức trước học sinh và nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đặt yêu cầu về đạo đức của người thầy lên hàng đầu "Dĩ nhân như giáo, dĩ ngôn như
giáo". Phải làm cho mọi giáo viên thấm nhuần khẩu hiệu "Tất cả vì học sinh thân yêu".
b) Bồi dưỡng năng lực sư phạm
Đây là một yêu cầu cơ bản, quan trọng trong công tác bồi dưỡng giáo viên. Năng lực sư phạm bao
gồm: năng lực tổ chức quá trình dạy học và tổ chức quá trình giáo dục. Tri thức khoa học sâu rộng
là nền tảng của năng lực sư phạm. Người giáo viên phải có tri thức khoa học sâu rộng, vững chắc
để từ đó phát triển năng lực sư phạm. Do vậy cần tập trung bồi dưỡng những nội dung cơ bản sau:
Thường xuyên cung cấp cho giáo viên những điều chỉnh, hoặc đổi mới trong nội dung hoặc
phương pháp giáo dục và dạy học của từng mặt giáo dục, của từng môn học trong chương trình. (Ví
dụ: Thực hiện tích hợp, lồng ghép giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, giáo dục môi trường,
giáo dục pháp luật…). Hoặc đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục theo hướng phát huy tính
d) Bồi dưỡng năng lực công tác xã hội hoá giáo dục
Đây là một trong bảy nhóm giải pháp để phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ
CNH, HĐH, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Chính nhờ chủ trương này
mà nguồn lực đầu tư cho giáo dục tăng lên và làm cho bộ mặt giáo dục nước nhà khởi sắc, tạo ra
một phong trào học tập rầm rộ và cả xã hội làm giáo dục.
Đối với trường THPT Bình Sơn, bước đầu nhờ công tác này mà bộ mặt nhà trường có thay đổi, nên
phải tiếp tục bồi dưỡng cho giáo viên năng lực làm công tác xã hội hoá giáo dục.
Phải làm cho giáo viên nắm được nội dung, yêu cầu của xã hội hoá giáo dục là "khuyến khích, huy
động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi
lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên học suốt đời; tiến tới một xã hội học tập".
Phải lập chương trình kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo công tác này một cách nghiêm túc, khoa học để
giáo viên có cơ sở thực hiện. Giáo viên cũng phải tự mình học tập, tự mình tạo mối liên hệ nhà
trường - gia đình - xã hội trong giáo dục học sinh. Phải phát huy vai trò người thầy trong việc phát
triển giáo dục.
e) Bồi dưỡng kiến thức khoa học bổ trợ
Trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang mở rộng hợp tác và hội nhập, đặc biệt bước vào thế kỷ
XXI, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học công nghệ thông tin đang phát triển như
vũ bão, Ngoại ngữ và tin học đang trở thành thứ vũ khí không thể thiếu được đối với sự hợp tác và
phát triển. ở nước ta phong trào học ngoại ngữ và tin học đang dấy lên rầm rộ. Cũng như trong
nhiều nhà trường, đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn đang gặp khó khăn về trình độ ngoại
ngữ và tin học. Vốn ngoại ngữ và tin học nghèo nàn đã cản trở rất lớn trong việc nâng cao chất
lượng giảng dạy, giáo dục và nhiều hoạt độngkhác. Do đó phải tổ chức bồi dưỡng năng lực ngoại
ngữ và tin học cho giáo viên. Phải tổ chức cho giáo viên học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh để
giáo viên biết đọc, biết viết tiếng Anh, biết sử dụng ở mức độ cần thiết. Phải bồi dưỡng cho giáo
viên hiểu được tin học, biết sử dụng máy vi tính để sử dụng hỗ trợ cho giảng dạy và các công tác
khác.
Sơ đồ:
Đa dạng hoá nội dung
bồi dưỡng
năng lực cao chuẩn bị nội dung theo chủ đề hội thảo. Khi đã thống nhất thì phải quyết tâm biến nó
thành hiện thực sâu rộng.
Đầu tư xây dựng thư viện và tổ chức hoạt động thư viện góp phần không nhỏ trong công tác bồi
dưỡng. Thư viện phải có đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn, nhiều sách tham khảo, các loại
báo và tạp chí đặc biệt là báo và tập san chuyên ngành. Xây dựng phòng đọc đáp ứng nhu cầu giáo
viên và học sinh. Nhân viên thư viện phải được đào tạo. Tổ chức giới thiệu sách mới, thảo luận
những vấn đề mà báo chí đặt ra, thiết thực phục vụ giảng dạy và giáo dục, khuyến khích giáo viên
mượn đọc, học tập.
Cần dành nhiều thời gian cho sinh hoạt chuyên môn và ưu tiên cho việc bồi dưỡng nâng cao tay
nghề. Các công việc hành chính có thể thông báo trên bảng, không biến buổi sinh hoạt chuyên môn
thành buổi thông báo hành chính sự vụ.
Tổ chức cho giáo viên nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Khuyến khích động viên phong trào viết
sáng kiến kinh nghiệm làm đồ dùng dạy học. Cần tổ chức nghiệm thu sáng kiến kinh nghiệm một
cách nghiêm túc, có sự đánh giá khách quan và những sáng kiến kinh nghiệm cần được áp dụng
phổ biến cho giáo viên toàn trường.
Tổ chức các lớp học ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Có thể động viên giáo viên theo học ở các
trung tâm, nhưng cách làm tốt nhất là tự tổ chức tại trường bằng cách vận động, khuyến khích giáo
viên bộ môn giảng dạy, giáo viên học góp kinh phí ở mức độ vừa phải và nhà trường dùng một ít
tiền trong quỹ khuyến học để hỗ trợ.
b) Bồi dưỡng ngắn hạn: Cử giáo viên tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn
do Sở hoặc Bộ tổ chức theo chuyên đề. Sau khi tham dự phải tổ chức phổ biến, áp dụng.
c) Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa.
Bố trí, tạo điều kiện để giáo viên tham gia các lớp học từ xa để nâng cao trình độ trên chuẩn.
d) Học các lớp tập trung
Vận động và cử giáo viên tham gia dự thi các lớp đào tạo thạc sĩ. Nhất là những giáo viên trẻ, giáo
viên có năng lực, có thành tích cao. Năm học 2007 – 2008, 2008-2009, 2009-2010 có 9 giáo viên
dự thi lớp thạc sĩ đã đậu và đang theo học tại ĐH Sư phạm Hà Nội I và ĐHQG Hà Nội.
e) Học theo cụm trường.
Tổ chức học chuyên đề cùng với các trường trong huyện, cụm có mời các chuyên viên hoặc những
đồng chí có năng lực, uy tín, được tham dự các chuyên đề báo cáo. Cũng có thể liên kết với vài
- Khen thưởng công bằng, có khuyến khích bằng vật chất hợp lý.
3.5. CÁC CHÍNH SÁCH THU HÚT GIÁO VIÊN
Tìm các nguồn vốn hợp pháp để tạo quỹ thu hút giáo viên về công tác tại trường từ các cơ
quan, tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, phụ huynh học sinh cho những giáo viên khá
giỏi, giáo viên là thạc sỹ về nhận công tác ở trường.
Tham mưu với UBND huyện, UBND xã tạo điều kiện cấp đất cho giáo viên xây nhà để an
cư, gắn bó lâu dài với trường.
Những giáo viên dạy giỏi được tạo điều kiện cử đi học cao học, được bồi dưỡng nâng cao
trình độ và được xem xét bổ nhiệm, đề bạt.
3.6.CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
a) Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá
Dựa vào tình hình trong và ngoài nhà trường, dựa vào tình hình đội ngũ, hiệu trưởng phải xây dựng
được kế hoạch cho từng nội dung bồi dưỡng. Phải có kế hoạch dài hạn (5 - 10 năm), kế hoạch ngắn
hạn (từng năm, từng tháng, tuần). Trong từng năm, từng tháng phải định hướng một số nội dung
bồi dưỡng cần thực hiện. Tiếp đó phải tổ chức chặt chẽ, phải nêu rõ mục đích, yêu cầu, phương
pháp thực hiện, phân công người phụ trách, thực hiện, điều tiết thời gian, kinh phí cho tập thể bàn
bạc, thảo luận đi đến thống nhất. Triển khai, chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên. Luôn đôn đốc, kiểm
tra, điều chỉnh. Để tạo điều kiện cho phong trào phát triển phải có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
kịp thời.
b) Người quản lý phải nắm được đặc điểm cơ bản của tập thể sư phạm, đội ngũ giáo viên. Đó là các
đặc điểm về mục tiêu, đặc điểm về lao động sư phạm, đặc điểm các yếu tố tâm lý, giá trị của tập
thể sư phạm.
c) Đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên, xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong
tập thể sư phạm, trong đội ngũ giáo viên.
d) Xây dựng bầu không khí tâm lý thuận lợi trong tập thể đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng cần phối
hợp với các tổ chức chính trị, xã hội thường xuyên tổ chức những sinh hoạt tập thể, những chuyến
tham quan, nghỉ mát, hội thảo, quan tâm đến những sinh hoạt tập thể, quan tâm đến đời sống vật
chất và tinh thần của từng giáo viên. Hiệu trưởng cần hoàn thiện phong cách quản lý của mình vì
phong cách quản lý của hiệu trưởng có ảnh hưởng tới bầu không khí tâm lý của tập thể sư phạm
qua tiếp xúc của hiệu trưởng với các giáo viên và điều tiết các quan hệ giữa các thành viên trong
- Đối với UBND huyện Sông Lô: Tạo điều kiện cấp đất làm nhà ở cho giáo viên để giáo viên yên
tâm công tác lâu dài.
- Đối với nhà trường THPT Bình Sơn: Cần tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên và phải thực
hiện thường xuyên công tác này. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, có kế hoạch đồng
bộ về việc bồi dưỡng phát triển giáo viên.
Sông Lô, tháng 12 năm 2009
Lê Gia Thanh - PHT