Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
------
Lãi suất cơ bản, vấn đề nóng bỏng trong thời gian qua đã trở thành đề tài cho
nhiều bài báo khi mà nền kinh tế tài chính toàn cầu rơi vào khủng hoảng.
Với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất đã và
đang được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và từ lâu được nhiều quốc gia trên
thế giới sử dụng như một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế. Đặc biệt là trong cơ
chế thị trường lãi suất trở thành công cụ đắc lực để NHTW thực thi chính sách tiền tệ
nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng kinh
tế... trong từng thời kỳ nhất định. Việc thi hành một chính sách lãi suất thích hợp là vô
cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc về NHNN. Với trọng trách to lớn đó NHNN đã
thường xuyên điều chỉnh lãi suất cho phù hợp, làm cơ sở ổn định hoạt động cho các
NHTM. Chính vì vậy mà việc điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN trong thời gian qua
đã tác động nhiều mặt đến hệ thống NHTM trên cả nước.
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự trên, em mạnh dạn trình bày đề tài:
“Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước và những tác động đến hệ thống
Ngân hàng thương mại giai đoạn từ năm 2008 đến nay”.
Đến đây, em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn Th.S Bùi Thị Thanh
Ngân, gia đình cùng nhiều bạn bè khác đã giúp em hoàn thành đề án này.
Kết cấu đề án gồm 3 phần:
• Phần I: Lý luận chung.
• Phần II: Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước và những tác động
đến hệ thống Ngân hàng thương mại giai đoạn từ 2008 đến nay.
• Phần III:Những vấn đề gặp phải và một số đề xuất trong thời gian tới
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 1
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian tìm hiểu thực tế nên đề án
khó lòng tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Em rất mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ
của giáo viên hướng để bài viết được hoàn thiện hơn.
1.2 Cơ sơ điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW sẽ
căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp
dụng trong toàn hệ thống ngân hàng. Thông thường, người ta quy định ba chỉ
tiêu cơ bản là lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn.
1.2.1. Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác
hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng
trong cơ chế thị trường.
Lãi suất cơ bản do NHTW xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế
của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều
hành chính sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất cơ bản, NHTW tác động vào thị
trường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tương quan cần
thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặc khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử
dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cơ sở hình thành lãi suất thị trường, tức là
lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hòa một cách tự nhiên lợi ích của
người gửi tiền, của người vay tiền và của tổ chức tín dụng.
Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ. Nếu
đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng (người gửi tiền và người vay
vốn) người ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều
này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các tổ chức tín dụng không được hạ
lãi suất một cách tùy tiện và vì yêu cầu phát triển sản xuất, các tổ chức tín dụng
không được tăng lãi suất cho vay quá mức. Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích
của các tổ chức tín dụng, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn
hệ thống các TCTD, người ta quy định lãi suất cơ bản theo chiều hướng ngược
lại đó là quy định lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu. Tuy nhiên
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 3
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc cho
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 4
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
trong nền kinh tế. Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn liền với thị trường nhiều
hơn và dễ biến động hơn. Thông thường, lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên ngân
hàng cộng với một biên độ gồm chi phí quản lý món vay, chi phí rủi ro…
Sử dụng lãi suất cơ bản phải linh hoạt tùy vào từng thời điểm như: hạn chế
tăng trưởng tín dụng bằng cách tăng lãi suất tiền vay và tăng lãi suất tiền gửi.
Biện pháp tăng lãi suất tiền vay nhằm khống chế tình trạng đồng vốn vay được
sử dụng tự do trên thị trường. Tăng lãi suất tiền gửi để thu hút một lượng tiền
nhàn rỗi trong lưu thông. Hai biện pháp này sẽ hỗ trợ cho nhau giúp NHNN chủ
động “cầm nắm” được thị trường tiền tệ. Nhờ vậy mà góp phần kiềm chế được
tình trạng lạm phát, kinh tế vĩ mô được điều tiết hợp lý, hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp trong đó các ngân hàng thương mại được đảm bảo.
1.2.2. Lãi suất tái chiết khấu
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, NHTW chuyển
sang điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là lãi
suất tái chiết khấu của NHTW. Lãi suất tái chiết khấu tác động và có ý nghĩa
hướng dẫn lãi suất thị trường một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh
doanh của các tổ chức tín dụng.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu tác động đến cung tiền tệ bằng cách ảnh
hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự giảm xuống
cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ. Còn
một sự tăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung
ứng tiền tệ.
Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng
tiền tệ, lãi suất chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những
cơn sụp đổ tài chính vì NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng. NHTW
cung cấp hệ thống dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các ngân hàng bị đe dọa
phá sản, do đó ngăn chặn những cơn sụp đổ tài chính.
Như vậy, lãi suất chiết khấu chính là một công cụ điều hành lãi suất của
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 6
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm
2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá lớn với người mua nhà. Thị
trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấu hiệu đóng băng và sụt giảm.
Trước tình hình trên, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính...
đã mua lại các hợp đồng thế chấp và biến chúng thành tài sản đảm bảo để phát
hành trái phiếu ra thị trường. Loại sản phẩm phái sinh này được đánh giá cao bởi
các tổ chức định giá tín dụng, nên thanh khoản tốt. Không chỉ dừng lại ở đó,
nhiều công ty bảo hiểm, trong đó có AIG, còn sẵn sàng bảo lãnh cho những hợp
đồng hoán đổi này. Chiến lược trên được đưa ra với mục đích giảm rủi ro cho
những khoản vay bất động sản. Tuy nhiên, trái lại nó tạo ra hiệu ứng sụp đổ dây
chuyền và khiến rủi ro bị đẩy lên cao hơn. Những bất ổn từ hoạt động cho vay
dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thị trường nhà đất đóng băng. Cuộc
khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và
cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiều nước châu
Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản.
2.1.2 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam từ cuộc khủng hoảng đến nay
Biến cố kinh tế thế giới tác động rõ nét tới độ ổn định và tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Năm 2008 đã đi qua với lãi suất cao và vấn đề
thanh khoản của hệ thống tín dụng, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng,
sụt giảm của TTCK đang tiếp diễn…
2.1.2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế đã làm chậm tốc
độ phát triển của kinh tế Việt Nam. Kế hoạch đầu năm 2008, tăng trưởng GDP
dự kiến từ 8,5 – 9%. Tháng 5 năm 2008 Quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng
GDP xuống 7%, nhưng đến tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế
chỉ là 6,52%.
Tổng cục Thống kê cho biết, theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối
năm 2008, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý 1/2009 chỉ đạt 3,14%, là
để giải quyết tình trạng quá nóng, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng đáng kể
nhằm hỗ trợ nhu cầu nội địa. Ngân hàng Nhà nước đã cắt giảm một nửa lãi suất
với các khoản vay chính sách xuống còn 7% từ giữa năm 2008 đến tháng 2/2009.
Cắt giảm lãi suất đối với vay chính sách và hỗ trợ lãi suất đã thúc đẩy tăng
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 8
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
trưởng tín dụng của ngân hàng. Chỉ số định lượng về chất lượng danh mục đầu
tư của ngân hàng (dựa trên thời gian thiếu nợ và nợ lũy tiến) đã cho thấy nợ xấu
tăng. Do lãi suất cho vay không được phép cao hơn lãi suất đối với vay chính
sách quá 50%, nên mức chênh lệch lãi suất của các Ngân hàng thương mại bị thu
hẹp đáng kể. Lãi suất thấp còn gây khó khăn cho chính phủ trong việc phát hành
trái phiếu và gây ra tâm lý lưỡng lự của các nhà xuất khẩu khi bán ngoại hối.
Nhận ra các nguy cơ đang nổi lên từ chính sách nới lỏng tiền tệ, Ngân hàng Nhà
nước gần đây đã yêu cầu các Ngân hàng thương mại lớn phải giữ tốc độ tăng
trưởng tín dụng ở mức 25% trong năm 2009.
2.1.2.3. Hoạt động xuất khẩu
Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam chiếm khoảng
20% đến 21% kim ngạch xuất khẩu. Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ
đang trên đà giảm mạnh. Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị
trường Mỹ đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của Việt Nam
trong năm 2008 và cả năm 2009.
Khủng hoảng tài chính Mỹ còn tác động tiêu cực tới nhiều nền kinh tế
khác trên thế giới, đặc biệt là EU và Nhật Bản – đây là hai thị trường xuất khẩu
quan trọng của Việt Nam. Do tác động của khủng hoảng, người dân tại các thị
trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, các nhà nhập khẩu không có khả năng
thanh toán do khó khăn về tài chính, theo đó nhập khẩu đối với hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam có xu hướng giảm. Thực tế những tháng gần đây, với tác
động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, xuất khẩu của Việt nam đã bắt đầu có
biểu hiện giảm sút, kim ngạch xuất khẩu tháng 11 đã tiếp tục giảm và xuống
Nam còn nhiều cản lực đặc biệt là cơ sở hạ tầng yếu kém và nạn quan liêu tham
nhũng.
Cùng với nguồn tiền cho người Việt ở nước ngoài gởi về vẫn là nguồn
ngoại tệ chủ yếu để Việt Nam giảm bớt thâm thủng mậu dịch. Vào tuần trước,
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố là kinh tế Việt Nam sẽ đạt mức tăng
trưởng trong năm nay, nhưng mức tăng trưởng này chưa thật sự ổn định do mức
thâm thủng mậu dịch tăng cao trong khi lượng ngoại tệ dự trữ sụt giảm, do hậu
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 10
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
quả của việc sụt giảm đồng loạt vốn đầu tư nước ngoài, kim ngạch xuất khẩu và
tiền gởi của Việt kiều.
2.1.2.5. Hoạt động của thị trường chứng khoán
Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng rộng trên thị trường tài chính thế giới,
theo đó các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư nước ngoài gặp khó khăn hơn trong
việc huy động vốn, họ có xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư khi
các thị trường lớn của họ đang gặp khó.
Do tác động của khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp đang niêm yết
trên thị trường chứng khoán chịu những tác động xấu, đặc biệt là doanh nghiệp
xuất khẩu, theo đó giá cổ phiếu sụt giảm. Đến cuối năm 2008, giá trị các chỉ số
chứng khoán giảm tới 70% so với đầu năm. Ngay một số cổ phiếu thuộc nhóm
“blue-chip” còn có mức sụt giảm lớn hơn nhiều, như SSI (- 84%) và FPT (-
78%). Khủng hoảng tài chính còn tác động mạnh mẽ đến tâm lý của các nhà đầu
tư chứng khoán Việt Nam, do đó TTCK cũng bị tác động xấu. Nửa đầu năm
2008, chỉ số chứng khoán tụt dốc nhanh chóng. Đầu tháng 1/2008, VNIndex còn
trên 900 điểm. Tới đầu tháng 6/2008, hàn thử biểu kinh tế lần đầu rơi xuống dưới
ngưỡng 400 điểm. Thị trường tiếp tục giằng co trong quí III/2008. Từ sau tháng
10/2008, TTCK liên tục giảm điểm. Tới ngày 11/12/2008, VNIndex chỉ còn 288
điểm. Tại Hà Nội, HaSTC-Index còn 101 điểm. Trước đó, thị trường Hà Nội
thậm chí còn lùi về sau vạch xuất phát, tụt xuống 97,61 điểm vào kết thúc phiên
giao dịch ngày 27/11/2008.
vốn vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là một khó khăn của doanh
nghiệp kinh doanh BĐS trong điều kiện khủng hoảng. Cuối năm 2007 tình trạng
đầu cơ BĐS đã đẩy giá BĐS ở Việt Nam lên quá cao so với giá trị thực. Thị
trường đã lên cơn sốt ảo, cầu ảo tăng cao. Bước sang năm 2008 nền kinh tế Việt
Nam gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, lạm phát tăng cao
buộc người dân phải giảm chi tiêu, thị trường BĐS đóng băng, giá BĐS đã giảm
đến 40%, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn, không bán được
sản phẩm lại phải chịu lãi suất cao do chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãi suất
ngân hàng tăng cao. Đến nay thị trường cũng chưa có dấu hiệu phục hồi. Giá
SVTH: Trương Thị Thúy Bình 12