Sự hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN và những dự báo ảnh hưởng đến quan hệ Thương mại nội khối ASEAN - Pdf 28

Họ và tên: Trịnh Thị Hiền
Lớp: Bổ sung đầu vào
Môn: Kinh tế Thương mại Việt Nam
BÀI TẬP CÁ NHÂN
Đề tài: Sự hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN và những dự báo ảnh hưởng đến
quan hệ Thương mại nội khối ASEAN
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC).
Cộng đồng kinh tế ASEAN (tiếng Anh: ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC) là
một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN dự định sẽ được thành lập vào
năm 2015. AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện
các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020, hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng An ninh
ASEAN và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN.
1.1 Khái quát.
ASEAN là một khu vực kinh tế năng động có:
- Diện tích: 4.435.670km
2
.
- Dân số: 598.498.000 người.
- GDP: 1.850.855 triệu USD.
- Tổng giá trị thương mại: 2.042.788 triệu USD.
- Tổng giá trị đầu tư: 74.081 triệu USD.
- Các đối tác thương mại chính: Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ…
1.2 Quá trình hình thành.
Trước nguy cơ mất dần lợi thế cạnh tranh tương đối so với các nền kinh tế mới nổi khác
trong khu vực, ngay từ năm 2003 ASEAN đã nỗ lực tìm kiếm một động lực phát triển mới dựa
trên sự tập trung về lợi thế cạnh tranh của các thành viên thông qua các liên kết ngành. Chỉ khi
ấy, thị trường 592 triệu dân và 1400 tỷ GDP của ASEAN mới thực sự tạo ra một thế mạnh
chung. Năm 2004, ý tưởng này được hiện thực hóa một bước với việc Lãnh đạo các nước
ASEAN nhất trí xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2020 (AEC) dựa trên kế
hoạch kết nối 12 lĩnh vực ưu tiên mà ASEAN đã lợi thế cạnh tranh.
1

2
Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị trường chung và cơ sở
sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa
thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh
chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo
thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu
chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có tay nghề (di chuyển thể nhân)
v.v., song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về
cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông
tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp.
Các biện pháp thực hiện AEC đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ
thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung
ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp
định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN
(AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v. …
- Tự do hoá thương mại hàng hoá: Cho đến nay, ASEAN đã cơ bản giảm được thuế quan
cho các mặt hàng trong danh sách giảm thuế về từ 0-5% từ năm 2010 đối với 6 nước thành
viên ban đầu và vào 2015 với 4 nước thành viên mới, hình thành nên một thị trường mở không
còn các rào cản thuế quan đối với hàng hóa. Để hỗ trợ tự do hoá thương mại, ASEAN đang nỗ
lực đưa vào hoạt động Cơ chế hải quan 1 cửa ASEAN (ASEAN Single Window-ASW) và các
quy định về áp dụng chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá có nguồn gốc từ ASEAN để đủ điều
kiện hưởng các ưu đãi về thuế quan, trong đó ASEAN đang nghiên cứu tiến tới việc cho phép
các doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ, cùng với việc hài hoà hoá các quy định về hợp chuẩn
hàng hoá v.v.
- Về tự do hoá dịch vụ, ASEAN đã hoàn tất Gói 9 cam kết dịch vụ theo Hiệp định Khung
ASEAN về Dịch vụ (AFAS) trong năm 2013, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển dịch vụ trong
khu vực. Tới nay, các cam kết về tự do hoá dịch vụ trong ASEAN đã bao trùm nhiều lĩnh vực
như dịch vụ kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường,
vận tải biển, viễn thông và du lịch. Có 4 gói cam kết về dịch vụ tài chính và 6 gói cam kết về

ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI NỘI KHỐI ASEAN.
2.1 Ảnh hưởng chung.
4
- Thương mại nội khối ASEAN có thể được thúc đẩy bằng cách theo đuổi tự do hóa
thương mại, với cơ sở là Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), và FTA với một loạt
đối tác thương mại lớn, chẳng hạn như Trung Quốc theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN-
Trung Quốc (ACFTA). ACFTA có hiệu lực ngày 20/7/ 2005 và đã được thực hiện đầy đủ vào
năm 2010. Nó thay thế các rào cản phi thuế quan với thuế quan và đồng thời giảm thuế nhập
khẩu. ACFTA cung cấp một loạt các lợi ích, song nó cũng tạo ra vấn đề cho các nước ASEAN
bởi Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ.
 Ảnh hưởng từ địa lý - ngôn ngữ
Các nước ASEAN, xét về địa lý, là một nhóm nước gồm có đất liền, bán đảo và đa đảo,
lập thành một “lòng chảo” giữa Ấn Độ và Trung Quốc, nằm trên con đường hàng hải Đông -
Tây, nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, rất thuận tiện cho việc giao thương và có ý nghĩa
quan trọng về kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, văn hóa và ngôn ngữ của khu vực này lại hết sức
đa dạng.
Tính đa dạng, nhiều chiều, thậm chí khu biệt về văn hóa giữa các quốc gia có thể làm phân
tán khả năng hướng tới một nhất thể kiểu Bắc Mỹ hay EU. Đồng thời, sự đa dạng cũng ảnh
hưởng tới chính sách ngôn ngữ truyền thống của mỗi quốc gia ASEAN và nhìn rộng ra toàn
khu vực sẽ có ảnh hưởng tới chính sách ngôn ngữ của ASEAN thời hội nhập.
Phần lớn quốc gia trong ASEAN là quốc gia đa ngữ như Việt Nam, Lào, Thái Lan,
Malaysia Tuy mỗi quốc gia có một ngôn ngữ chiếm đa số nổi lên nhưng nó không che lấp
mảng màu của các ngôn ngữ khác và sự chênh lệch về mức độ phát triển và khả năng sử dụng
trong đời sống xã hội tồn tại như một tất yếu.
Các quốc gia Đông Nam Á xưa nay bận tâm với chính sách ngôn ngữ quốc gia nội địa hơn
là nhìn ra viễn cảnh của khu vực. Vì vậy, việc tìm kiếm một ngôn ngữ chung cho ASEAN gặp
phải những thách thức không nhỏ. Dẫu vậy, khi các nước ASEAN đang tiến dần tới việc hình
thành Cộng đồng, trong đó có trụ cột Văn hóa - Xã hội thì việc sử dụng tiếng Anh như một
ngôn ngữ chung để giao tiếp trong nội khối được đánh giá là một lựa chọn hợp lý và thực tế.
 Công cụ hội nhập

ra những ngăn cách trong giao tiếp và trao đổi.
Bên cạnh đó, chính sách ngôn ngữ của các nước ASEAN chưa đồng đều và cũng chưa
hướng tới một quan điểm chung. Đặc biệt, tiếng Anh đang tạo ra áp lực đối với việc bảo vệ
6
bản sắc văn hóa của từng quốc gia, đặt ngôn ngữ dân tộc, bản địa vào thế bất lợi nếu không
tìm được giải pháp hài hòa.
2.2 Vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc kinh tế và an ninh khu vực
Ở khu vực Đông Á, Cộng đồng ASEAN cần giữ vai trò trung tâm trong các cấu trúc kinh
tế và an ninh khu vực. Rất nhiều thành công của ASEAN được nhìn nhận có được là do sự
năng động về kinh tế của tổ chức này và các cơ hội kéo theo nhằm cải thiện đời sống người
dân tại các quốc gia thành viên. Sự hội nhập kinh tế thành công mang lại các lợi ích vật chất
đáng kể cho người dân ASEAN được xem là nhân tố chính đối với thành công của Cộng đồng
ASEAN nói chung và là cách hàn gắn các chia rẽ hiện nay tại khu vực. Sự phân mảnh trong
ASEAN được nhìn nhận đang gia tăng do sự phụ thuộc của một số quốc gia thành viên Hiệp
hội vào các quốc gia nhất định ngoài khu vực, hơn là vào các quốc gia khác trong khối, vì mục
đích xây dựng năng lực trong nước và tăng trưởng kinh tế. Về khía cạnh này, nếu Cộng đồng
Kinh tế ASEAN (AEC) có thể cung cấp các lợi ích vật chất và cơ hội cho tất cả, các quốc gia
thành viên nhiều khả năng sẽ bị hút gần hơn về ASEAN, từ đó củng cố vai trò trung tâm của
Hiệp hội tại khu vực. Một cách khác để duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc
kinh tế khu vực là ASEAN tiếp tục can dự về kinh tế với các đối tác chính tại châu Á-Thái
Bình Dương như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản. Với khả năng thành công của AEC,
các cường quốc sẽ đầu tư nhiều hơn vào một ASEAN mạnh và đoàn kết.
Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng ASEAN đang thiếu vắng sự đoàn kết, đặc biệt là đối
với các vấn đề địa chính trị và an ninh, cũng như các lợi ích an ninh quốc gia thường chiến
thắng các lý tưởng khu vực khi hoạch định chính sách. Khi các quốc gia thành viên không thể
nhất trí hoàn toàn về điều mà các lợi ích khu vực của họ đòi hỏi, vai trò trung tâm của ASEAN
mang tính khái niệm nhiều hơn là thực tế. Tuy nhiên người ta cũng biết rằng ASEAN vẫn còn
là một bên tham gia duy nhất có thể tập hợp các cường quốc thông qua các diễn đàn đa
phương, từ đó đóng góp vào tiến trình xây dựng lòng tin và trao đổi, điều được ưu thích để giải
quyết xung đột.

- Nhiều thách thức khi ASEAN xóa bỏ thuế
Điển hình từ sau 31/12/2015, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu (NK) trong nội khối
ASEAN sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan 0% thông qua các FTA+1 giữa ASEAN với các đối
tác.
8
Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan trong ASEAN sẽ tạo ra không gian thị trường kinh tế
thống nhất hơn.nếu tranh thủ được cơ hội này, VN sẽ thúc đẩy thương mại trong nội khối
ASEAN, một thị trường rất tiềm năng với 600 triệu dân. Tuy nhiên, VN cũng đứng trước sức
cạnh tranh rất lớn với các thành viên trong ASEAN. “Nếu doanh nghiệp VN nói riêng và nền
kinh tế VN nói chung không tạo ra được sức cạnh tranh cho hàng hóa, dịch vụ của mình thì tới
năm 2015, chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức
- Một thách thức nữa đối triển vọng tăng trưởng của ASEAN là thiên tai. Lũ lụt nghiêm
trọng ở nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Việt Nam và Campuchia trong thời gian đã
gây thiệt hại nặng nề về kinh tế. Đặc biệt, lũ lụt và mưa lớn đã buộc hàng nghìn nhà máy ở
Thái Lan phải đóng cửa, gây nên tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng và khiến hơn nửa triệu
lao động tạm thời mất việc, gây tổn thất nhiều tỷ USD. Theo số liệu chính thức vừa công bố,
kinh tế Thái Lan dù vẫn tăng trưởng khá (3,5%) trong quý III/2011 nhờ xuất khẩu mạnh hơn,
song lũ lụt đã khiến chính phủ nước này hạ dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2011 xuống
còn 1,5%, từ mức dự đoán 3,5-4% được đưa ra trước đó.
Trước đó, các nền kinh tế châu Á, đặc biệt là ASEAN vốn có quan hệ thương mại chặt chẽ
với Nhật Bản, cũng bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn nguồn cung do thảm họa động đất - sóng
thần hồi tháng 3/2011 tại Đông Bắc Nhật Bản.
2.4 Tầm nhìn sau 2015
Mặc dù đạt được tiến bộ đáng kể, ASEAN còn phải đối mặt với nhiều thách thức phải
vượt qua nhằm đạt tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN lấy người dân làm trung tâm,
trong đó các giá trị về dân chủ, quản trị và pháp trị được coi trọng, phát triển kinh tế-xã hội
được thúc đẩy nhằm tạo điều kiện cho hội nhập toàn diện cùng với tiến bộ hài hòa, cân bằng
và bền vững trên cả ba trụ cột.
Vị thế của ASEAN trong vòng 20 năm tới sẽ phụ thuộc vào khả năng và cách thức Hiệp
hội ứng phó với những thay đổi của tình hình thế giới cũng như bối cảnh quốc tế và khu vực.

dùng và thúc đẩy quyền con người.
Sức mạnh và tính chất đa cực ngày càng gia tăng của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa
cũng đòi hỏi ASEAN mở rộng quan hệ với các đối tác khác, ngoài 10 đối tác đối thoại hiện có.
ASEAN sẽ thiết lập mới hoặc tăng cường các thỏa thuận thương mại tự do cũng như các thỏa
thuận hợp tác khác với các quốc gia này. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục duy trì đoàn kết và
10
vai trò trung tâm của ASEAN trong các thiết chế khu vực do ASEAN khởi xướng càng có ý
nghĩa quan trọng hơn.
Đông Nam Á là một trong những khu vực năng động nhất ở Châu Á-Thái Bình Dương,
với nhiều cơ hội cũng như thách thức. Trên hết, hòa bình và ổn định ở khu vực đã tạo điều
kiện cho ASEAN đạt được những tiến bộ đáng kể và mang lại nhiều cơ hội cho Hiệp hội
những năm tới. Việc ASEAN có nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức hay không sẽ tùy
thuộc vào khả năng của Hiệp hội trong việc duy trì hòa bình và ổn định cần thiết cho các nỗ
lực xây dựng Cộng đồng và hội nhập khu vực trong bối cảnh khu vực còn nhiều vấn đề phức
tạp như tranh chấp ở Biển Đông. Giải pháp cho vấn đề này không những phụ thuộc vào đoàn
kết và việc tuân thủ Nguyên tắc 6 điểm củaASEAN mà còn đòi hỏi sự ủng hộ của cộng đồng
quốc tế đối với việc đảm bảo tôn trọng luật pháp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của quan hệ
quốc tế, đặt biệt các nguyên tắc không sử dụng vũ lực và giải quyết tranh chấp bằng các biện
pháp hòa bình.
Ưu tiên đối với ASEAN sau 2015 vẫn tiếp tục là duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực
nhằm phục vụ hội nhập kinh tế và xã hội ở mức độ cao hơn, với thể chế được củng cố vững
chắc hơn. Thời gian tới, khi ASEAN tập trung nhiều hơn vào thực thi và giám sát, chúng ta sẽ
chứng kiến một ASEAN hội nhập mạnh mẽ và hiệu quả hơn, một Cộng đồng ASEAN gắn kết
chặt chẽ hơn với cộng đồng các quốc gia trên quy mô toàn cầu
III. DỰ BÁO NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (ACE)
ĐẾN VIỆT NAM.
3.1 Vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy thành lập AEC.
ASEAN là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta và là một trong những
động lực quan trọng giúp nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong
nhiều năm qua. Với lợi thế là một khu vực phát triển năng động, gần gũi về địa lý, quan hệ

ASEAN (ACIA) , Hiệp định đa phương về tự do hóa hoàn toàn vận tải hàng không, Hiệp định
khung ASEAN về hàng quá cảnh… cũng đang trong quá trình rà soát lần cuối trước khi chính
thức có hiệu lực.
3.2 Cơ hội và thách thức.
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) dự kiến sẽ được thành lập vào cuối năm 2015, đang
được coi là một bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện các nền kinh tế Đông Nam Á.
AEC sẽ hòa trộn nền kinh tế của 10 quốc gia thành viên thành một khối sản xuất thương mại
12
và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và GDP hàng
năm khoảng 2.000 tỉ USD.
 Cơ hội:
AEC ra đời mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp (DN) các nước ASEAN nói chung và
DN Việt Nam nói riêng thông qua việc mở ra một thị trường rộng lớn, bình đẳng cho các DN.
- Các DN sẽ có cơ hội mở rộng trao đổi thương mại, thu hút đầu tư dựa trên lợi thế của
một không gian thị trường mở. Các rào cản thuế quan, phi thuế quan được tháo gỡ sẽ giúp các
DN đẩy mạnh xuất khẩu (XK), cắt giảm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm.
- Các DN còn có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với các đối tác như Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, New Zealand thông qua các hiệp định thương mại tự
do riêng rẽ giữa ASEAN với các đối tác kinh tế lớn cũng như nỗ lực xây dựng Hiệp định đối
tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), từ đó DN Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi
sản xuất và cung ứng khu vực.
- Các mặt hàng XK của Việt Nam cũng được hưởng ưu đãi thuế quan 0% khi XK sang
các thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand. Môi
trường đầu tư thuận lợi sẽ đẩy mạnh dòng FDI từ các đối tác vào ASEAN trong đó có Việt
Nam.
 Thách thức:
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi lớn các DN cũng sẽ phải đối mặt với thách thức
không nhỏ khi AEC có hiệu lực. Trong đó đáng chú ý là sức ép từ hàng hóa NK, cạnh tranh về
dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN dẫn đến một số ngành, một số sản phẩm phải thu hẹp sản
xuất, thậm chí rút khỏi thị trường.

trường phát triển, mở rộng thị trường XK dựa trên các cam kết và lợi thế so sánh, tham gia sản
xuất kinh doanh theo phân khúc, theo mạng, cụm, chuỗi. Đặc biệt các DN phải chuyển dần từ
cách thức cạnh tranh bằng giá sang chú trọng cạnh tranh phi giá gắn với tiêu chuẩn, mẫu mã
giao dịch.
Đồng thời, đồng hành với Chính phủ để nắm thông tin về hội nhập, hiểu biết cơ sở pháp lí
và cơ chế giải quyết tranh chấp, tranh luận và thực thi nhằm đảm bảo hợp đồng kinh doanh và
quyền lợi của DN…
 Nỗ lực bằng giải pháp thích nghi
14
Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công
Thương) cho hay: Tới đây, Việt Nam sẽ phải cắt giảm thuế đối với các mặt hàng thường được
loại trừ ra khỏi phạm vi các hiệp định FTA truyền thống như: xăng dầu, thuốc lá. Chậm nhất
tới năm 2018, Việt Nam phải xóa bỏ các biện pháp hạn ngạch thuế quan đối với đường, muối,
trứng gia cầm và thuốc lá.
Bên cạnh đó, khi AEC hình thành, rất nhiều sáng kiến thuận lợi hóa thương mại quan
trọng như: Cơ chế hải quan một cửa ASEAN, hệ thống tự chứng nhận xuất xứ, hài hòa hóa
tiêu chuẩn và công nhận lẫn nhau sẽ được triển khai. Ngoài ra, ASEAN cũng đẩy mạnh việc
xử lý các biện pháp phi thuế quan và thúc đẩy cơ chế giải quyết tranh chấp. Về dịch vụ và đầu
tư, ASEAN hướng tới mức độ tự do hóa cao, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, thông qua Hiệp
định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) và Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA).
Theo ông Lương Hoàng Thái, khi gia nhập vào AEC, nền kinh tế cũng như các ngành sản
xuất của Việt Nam sẽ đứng trước các cơ hội và thách thức lớn. Khi không còn những ngăn
cách về biên giới kinh tế, hàng hóa, dịch vụ và vốn được lưu chuyển tự do trong ASEAN thì
bất cứ doanh nghiệp hay nhà đầu tư ASEAN đều có cơ hội như nhau trong việc tận dụng, phát
huy ưu thế của thị trường chung 10 nước ASEAN. Để làm được việc này, cần theo dõi sát sao
các thông tin, lộ trình cam kết về AEC, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)
từ đó đưa ra định hướng đúng, xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú cho biết sau khi AEC hình thành, việc
không còn rào cản thuế quan, hay thuế suất bằng 0 là lợi ích to lớn nhất khi AEC định hình,
bởi đây chính là “liều thuốc bổ” kích thích xuất khẩu, thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế của

[6] Phạm Thị Thanh Bình (2010), “Triển vọng hình thành Cộng đồng ASEAN và vai trò của
Việt Nam ”, .
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status