MÔN: QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
Tên đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HÌNH
THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH
TẾ ASEAN – 2015 ĐẾN LAO
ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM TẠI
VIỆT NAM
Niên khóa: 2012 – 2016
TP.HCM, tháng 11/2014
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Chúng tôi hy vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho các bạn phần nào hiểu được những vấn đề
trên để có một sự chuẩn bị thật chu đáo cho những gì sắp đến và có một cái nhìn rộng
hơn về sự kiện kinh tế đang đến gần này.
MỤC LỤC
1. Giới thiệu chung
1.1.
Sơ lược về ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là
ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan
trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu là Indonexia, Malaysia,
Philippine, Singapore và Thái Lan. Tiền thân của ASEAN là tổ chức có tên Hiệp hội
Đông Nam Á, thường được gọi tắt là ASA. ASA là một liên minh thành lập năm 1961
gồm ba nước Philippines, Malaysia và Thái Lan. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, khi các bộ
trưởng ngoại giao của năm quốc gia – Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và
Thái Lan – gặp gỡ tại Bộ ngoại giao Thái Lan ở Bangkok đã ra Tuyên bố ASEAN,
thường được gọi là Tuyên bố Bangkok để nhập ASA cùng với Indonesia và Singapore
thành ASEAN. Năm ngoại trưởng – Adam Malik của Indonesia, Narciso Ramos của
Philippines, Abdul Razak của Malaysia, S. Rajaratnam của Singapore, và Thanat
Khoman của Thái Lan – được coi là những sáng lập viên của tổ chức này.
Qua quá trình phát triển, ASEAN đã mở rộng bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam Á là
Indonesia, Malaysia, Philipine, Singapore, Tháiland, Bru-nây, Việt Nam, Lào, Mianma
và Campuchia. Đông Ti Mo hiện tại vẫn đang là quan sát viên của ASEAN.
Tổng diện tích các nước ASEAN vào khoảng 4,43 triệu km2, với dân số gần 592 triệu
người. Tổng thu nhập quốc dân của các nước ASEAN năm 2009 đạt 1.492 tỷ đô-la Mỹ.
Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng
Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ
sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư,
6
vốn và lao động; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả
khu vực; tạo ra sự hấp dẫn với đầu tư-kinh doanh từ bên ngoài.
Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN với mục tiêu tổng quát là phục vụ và nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân ASEAN, tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến bình
đẳng và công bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác động của toàn cầu hóa và
cách mạng khoa học công nghệ.
Mục tiêu chính của ASEAN được ghi rõ trong tuyên bố Bangkok là thông qua những nỗ
lực chung trên tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá ở mỗi nước, củng cố hòa bình, ổn định ở mỗi quốc
gia thành viên, khu vực và trên thế giới.
Hiện nay, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là
hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là
Hiến chương ASEAN.
1.2.
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
1.2.1. Lịch sử hình thành
Tại Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua tháng 12/1997, các nhà lãnh đạo
ASEAN đã định hướng phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN.
Ý tưởng đó được tái khẳng định tại Hội nghị cấp cao ASEAN 9 tháng 10/2003, thể hiện
trong Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II). Theo đó, ASEAN
nhất trí hướng đến mục tiêu hình thành một cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ
cột chính là hợp tác chính trị - an ninh (Cộng đồng an ninh ASEAN – ASC), hợp tác kinh
một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi AEC không có cơ
cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể.
AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần
dần 04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là được thực hiện tương đối toàn diện
và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ
dừng lại ở việc xây dựng lộ trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực)
AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay
Hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất. Tham gia vào các mục tiêu của AEC là
hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới
các mục tiêu này. Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc
thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mục tiêu hướng tới không bắt buộc
của các nước ASEAN.
Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua
việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết giữa các
nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới (tiếp tục thực hiện theo lộ
trình các Hiệp định, Thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có).
2. Tác động của AEC đến giáo dục, đào tạo và lao động tại Việt Nam
2.1.
Giáo dục và đào tạo
Ngay từ đầu những năm 1990, Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam đã coi việc mở rộng quan
hệ hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á là một ưu tiên. Thực hiện chủ
8
trương đó, tháng 2/1990, Bộ Giáo dục Đào tạo chính thức gia nhập tổ chức Bộ trưởng
Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO).
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính của ASEAN, Bộ Giáo dục Đào tạo Việt
Nam trở thành thành viên của Tiểu ban Giáo dục của ASEAN (ASCOE), đã tích cực phối
hợp với các nước trong khu vực với nhiều hoạt động thiết thực, có hiệu quả và được các
Cộng đồng kinh tế ASEAN ra đời sắp tới đây là một điểm nhấn để ngành giáo dục, đào
tạo Việt Nam nhìn lại những gì mà mình đang làm đã phù hợp với yêu cầu của thời kỳ
hội nhập chưa? Bất kỳ một vấn đề gì cũng có tính hai mặt của nó, hội nhập tạo cho chúng
ta cơ hội để thăng tiến nhưng nếu không có sự chuẩn bị thì đó sẽ là một sự thất bại. Giáo
dục và đào tạo đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những con người trong
thời đại cạnh tranh.
Các trường đại học cần có một chến lược cơ bản, cụ thể cho từng nhóm ngành nghề chứ
không thể nói chung chung, làm chung chung được. Lấy ví dụ trong lĩnh vực dịch vụ mà
trường Việt Giao đang đào tạo, trong đó có ngành du lịch là một trong tám ngành được
AEC ưu tiên dịch chuyển lao động, với các thỏa thuận công nhận bằng cấp của nhau, nhà
trường xác định để sinh viên có thể hội nhập, ngoài nhiệm vụ chuyên môn thì phải hình
thành kỹ năng ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa.
Để chuẩn bị cho quá trình hội nhập AEC, một số trường đại học, cao đẳng và trường
nghề đang tập trung vào mục tiêu đào tạo theo các tiêu chí mà thị trường mới yêu cầu.
Cụ thể như ở mảng đào tạo nghề đang có sự chuyển động mạnh mẽ để hướng tới sự hội
nhập. PGS-TS Dương Đức Lân, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) cho biết: “Từ nay đến năm 2020 sẽ có 30 nghề cấp độ ASEAN
được đào tạo. Bằng cấp sẽ được công nhận trong khu vực và trên thế giới. Học các
chương trình này, lao động Việt Nam sẽ có đủ năng lực để làm việc bất cứ quốc gia nào
trong khu vực”.
Tại Trường trung cấp nghề kỹ thuật công nghệ Hùng Vương, ông Nguyễn Ngọc Hạnh,
Phó hiệu trưởng nhà trường, cho biết: “Trường đang đào tạo 3 ngành trọng điểm khu vực
và quốc tế, gồm cơ điện tử, bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí và cắt gọt kim loại. Từ năm
2011 đến 2014 trường được cấp kinh phí đầu tư là 19 tỉ, riêng năm 2015 là 7 tỉ. Chúng tôi
đã đầu tư vào việc xây dựng phòng lab để học sinh đạt chuẩn ngoại ngữ 300 TOEIC, có
thể làm việc giao tiếp trong doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, trường đã đầu tư phần
mềm chuẩn hóa tin học, chuẩn hóa các kỹ năng mềm, tay nghề, tác phong công
nghiệp…”.
thế nào đến 90 triệu người dân Việt Nam? Những người dân bình thường sẽ trải nghiệm
sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế thông qua thị trường lao động. Điều họ quan tâm nhất
chính là việc từ quá trình hội nhập, họ có tìm được một công việc tốt với thu nhập đủ
sống hay không và điều kện làm việc có đảm bảo hay không?
Hàng triệu việc làm mới sẽ được mở ra khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức
được mở cửa hội nhập. ILO và Ngân hàng phát triển Châu Á-Thái Bình Dương (ADB)
vừa thực hiện một báo cáo có tên “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới
việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung”. Báo cáo cho thấy có những dấu hiệu tích cực
trong việc thành lập ACE. Nếu được quản lý hiệu quả AEC sẽ thúc đẩy sự phát triển của
các nền kinh tế trong khu vực thêm 7,1% vào năm 2025 và tạo ra 14 triệu việc làm mới.
Tại Việt Nam, nơi tập trung tới 1/6 lực lượng lao động của khu vực ASEAN thì GDP dự
kiến sẽ tăng thêm 14,5% và sẽ có thêm hàng triệu việc làm mới nhờ tác động của AEC.
Theo dự báo, AEC sẽ đẩy mạnh các xu hướng chuyển dịch cơ cấu hiện đại. Tỷ trọng việc
làm của ngành công nghiệp sẽ tăng lên 23,5% vào năm 2025. Đặc biệt, sự mở rộng đáng
11
kể của ngành mậu dịch và vận tải hàng hóa, dịch vụ sẽ trở thành khu vực tạo việc làm chủ
lực trong nền kinh tế, chiếm 41,3% tổng việc làm.
Mặt khác, tỷ trọng việc làm trong ngành nông nghiệp sẽ giảm xuống còn 35,2% vào năm
2025. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp sẽ vẫn tạo ra khoảng 22 triệu việc làm cho người lao
động, tăng 2 triệu lao động so với bối cảnh khi không có hội nhập AEC. Trong bối cảnh
đó, nâng cao năng suất lao động trong ngành nông nghiệp sẽ trở thành yếu tố then chốt.
Các chuyên gia cũng lưu ý, Việt Nam sẽ cần đẩy mạnh kinh doanh trong thời kỳ nông
nhàn nhằm giảm tỷ lệ đói nghèo ở khu vực nông thôn.
Sự hội nhập kinh tế ASEAN được dự báo sẽ mang lại những lợi ích quan trọng về việc
làm cho các ngành xây dựng, thương mại và vận tải. Năng suất lao động trong các ngành
này được dự báo sẽ tăng gấp 2 lần so với năng suất của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên,
việc làm trong các ngành này thường là việc làm phi chính thức, hầu như không có sự
20% lao động Việt Nam có kỹ năng chuyên môn, như vậy có nghĩa là khi lao động được
tự do di chuyển, lao động có kỹ năng cả Việt Nam có thể di chuyển ra bên ngoài vì được
trả lương cao, hoặc hướng tới các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ngay tại Việt Nam.
Vì vậy các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Việt Nam cần có chính sách đãi ngộ
thật tốt để thu hút lao động có chất lượng cao, tạo môi trường tốt giúp họ phát huy hết
năng lực, qua đó hạn chế được nạn chảy maú chất xám.
3. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hội nhập vào cộng đồng kinh tế
ASEAN
3.1.
Cơ hội
Khi các mục tiêu của AEC được hoàn tất, AEC sẽ mang lại những cơ hội lớn cho nền
kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là:
AEC mở ra một khu vực thị trường chung rộng lớn: với gần 100% hàng hóa được tự do
lưu chuyển trong nội khối, AEC tạo ra một khu vực thị trường hàng hóa chung giữa các
nước ASEAN, mở ra cơ hội làm ăn kinh doanh lớn cho các doanh nghiệp trong khu vực;
AEC mở ra cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: môi trường kinh doanh
được mở rộng theo hướng minh bạch và bình đẳng hơn sẽ là điều kiện để thu hút đầu tư
nước ngoài không những từ các nước ASEAN mà cả từ các nước ngoại khối, đặc biệt là
các nước đối tác FTA của ASEAN vào Việt Nam để tham gia và chuỗi giá trị khu vực;
AEC tạo ra sức ép, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam: tham
gia vào một sân chơi chung và chịu áp lực cạnh tranh từ các đối tác khu vực cả về trình
độ quản lý, công nghệ và nhân lực sẽ buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tự cải tổ,
thay đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển.
AEC tạo ra khí thế và động lực cho doanh nghiệp: Với tinh thần chuẩn bị cho việc hình
thành AEC vào cuối năm 2015 và những trông đợi về một khu vực thị trường chung năng
động với nhiều cơ hội mở ra, các doanh nghiệp Việt Nam dường như đã được thức tỉnh
để chuẩn bị tư thế và hành tranh cho tiến trình hội nhập mạnh mẽ sắp tới.
3.2.
dịch vụ Việt Nam hiện đang được “bao bọc” khá kỹ lưỡng trong nhiều lĩnh vực dịch vụ);
Thách thức về lao động: Khi AEC hoàn tất mục tiêu tự do lưu chuyển lao động, nếu
không có sự chuẩn bị đầy đủ, lao động Việt Nam tay nghề kém, thiếu các kỹ năng cần
thiết (ngoại ngữ, tính chuyên nghiệp…) có thể sẽ gặp khó khăn lớn;
Thách thức về quản lý dòng vốn: Nếu AEC hoàn thành mục tiêu tự do lưu chuyển về
vốn, Việt Nam sẽ đứng trước thách thức trong việc kiểm soát dòng vốn ra/vào; đối với
doanh nghiệp, đây cũng sẽ là vấn đề hai mặt, vừa tích cực (có thể tiếp nhận vốn đầu tư,
14
hợp tác dễ dàng hơn), vừa tiêu cực (có thể sẽ không còn những hàng rào bảo vệ doanh
nghiệp trước việc rút vốn của đối tác…).
Cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, kể cả doanh nghiệp tư nhân và nông nghiệp, nâng cao
trình độ khoa học-công nghệ và năng lực cạnh tranh là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho Việt
Nam khi gia nhập AEC. Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn
đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố cho năm 2014-2015 ở mức rất khiêm tốn và ít có
cải thiện từ nhiều năm nay.
Nghiêm trọng hơn, theo những đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong
báo cáo này, xếp hạng về thể chế của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với xếp hạng về
kinh tế như bảng dưới cho thấy:
15
Nền quản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm
trọng đến năng lực cạnh tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp Việt
Nam, đơn cử như việc các doanh nghiệp Việt Nam cần đến 872 giờ/năm để đóng thuế
trong khi con số bình quân của dịch vụ đó ở các nước ASEAN-6 chỉ là 172 giờ/năm.
Gần đây, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về hàng điện tử và điện thoại di động thông
minh Galaxy của Samsung nhưng đó là những mặt hàng lắp ráp của những doanh nghiệp
cho tương lai
Học các bằng cấp nghề nghiệp quốc tế. Có được bằng cấp quốc tế sẽ có cơ hội làm việc
mang tính quốc tế, chuyên biệt và thể hiện đẳng cấp quốc tế và sẽ có nhiều cánh cửa mở
ra chào đón đến với tương lai tốt hơn với những công việc xứng tầm.
Trau dồi ngoại ngữ đặc biệt là tiếng anh phải giao tiếp được và sử dụng thành thạo.
Ngoài ra còn phải học thêm các ngôn ngữ khác như : tiếng Nhật, tiếng Hàn …
Rèn luyện thái độ tích cực và chuyên nghiệp hơn trong công việc.Thái độ thể hiện cách
mà mình làm việc và ứng xử với mọi người.Vì vậy thái độ làm việc rất quan trọng nó là
yếu tố tiên quyết để tạo nên thành công.
Nâng cao các kỹ năng mềm cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, kỹ năng
làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian…Kỹ năng rất cần với mỗi người có kỹ năng
giống như nắm được những cơ hội vàng trong tay nên hãy trau dồi và tận dụng kỹ năng
đúng lúc để năng lực được phát huy tối đa.
Luôn cập nhật những thông tin mới nắm bắt những đổi mới về khoa học, công nghệ và
kỹ thuật.Vì khoa học,kỹ thuật và công nghệ thì không ngừng đổi mới nó có thể thay đổi
từng giờ nên hãy tận dụng và thay đổi để nắm bắt những cái mới để thực hiện công việc
một cách chuyên nghiệp nhất hiện đại nhất.
Có tư duy mang tầm khu vực và toàn cầu.Tư duy là hoạt động cần thiết đối với mỗi con
người cần suy nghĩ sao cho đúng đắn chính xác như : làm cách nào để hội nhập một cách
tốt nhất đón đầu xu thế kinh tế hiện nay.Tư duy đó không còn mang tính chất cá nhân mà
nó càng mang tầm khu vực và toàn cầu.
Trang bị cho mình những hiểu biết về văn hóa các nước.Vì mỗi nước có một nền văn hóa
riêng biệt đặc trưng cho từng quốc gia được thể hiện thông qua cách họ ứng xử với nhau
hằng ngày cũng như trong công việc cũng như các phong tục tập quán riêng tạo nên nét
độc và lạ chỉ có ở mỗi nước.
Hòa nhập ,năng động học hỏi kinh nghiệm để không ngừng hoàn thiện hiểu biết của bản
thân. Mỗi con người ai cũng tồn tại trong mình những khuyết điểm riêng không ai ngay
từ đầu đã hoàn thiện, muốn vậy họ phải không ngừng học hỏi để có kinh nghiệm. Trong
thời buổi hội nhập ngày nay thì việc học hỏi lại càng cần thiết hơn, nếu không học hỏi thì
17