Đề thi về luật lao động - Pdf 28

Luật lao động KT32E012
BÀI LÀM
Câu 1: Phân tích và nêu ý kiến về trình tự, thủ tục đình công?
“Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể
lao động để giải quyết TCLĐTT” (Điều 172 BLLĐ). Đình công được xem là một
phương thức để giải quyết TCLĐTT, đó là thứ vũ khí tự vệ cuối cùng của NLĐ,
khi các phương thức khác đã được sử dụng và không phát huy được hiện quả,
không giải quyết được TCLĐTT. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng đình
công không phải là một biện pháp để giải quyết TCLĐTT mà là một biện pháp
để gây sức ép, tọa điều kiện thuận lợi nhằm giải quyết các tranh chấp lao động
theo hướng có lợi cho NLĐ.
Có thể nói đình công là hệ quả của việc giải quyết các TCLĐTT không
thành. Pháp luật lao động Việt Nam thừa nhận việc NLĐ đình công để giải
quyết các TCLĐTT đối với cả hai loại TCLĐTT, (TCLĐTT về quyền và
TCLĐTT về lợi ích). Pháp luật nhiều nước trên thế giới chỉ công nhận trường
hợp NLĐ đình công để giải quyết các TCLĐTT về lợi ích mà không công nhận
trường hợp đình công để giải quyết TCLĐTT về quyền. Tuy nhiên do điều kiện
thực tiễn ở Việt Nam thì việc vi phạm các quy định pháp luật, thỏa ước lao động
tập thể,... của NSDLĐ là khá phổ biến, nhưng thường chỉ được phát hiện khi có
đình công xảy ra, do vậy chúng ta đã thừa nhận cả trường hợp trường hợp NLĐ
đình công để giải quyết các TCLĐTT về quyền.
Về thời điểm có quyền đình công, đối với các TCLĐTT về quyền, thời điểm
có quyền đình công sau khi Chủ tịch UBND cấp huyện đã giải quyết mà hai bên
vẫn còn tranh chấp hoặc hết thời hạn giải quyết quy định tại điểm a Khoản 1
Điều 170a BLLĐ mà Chủ tịch UBND cấp huyện không giải quyết thì mỗi bên
có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết hoặc tập thể lao động có quyền
tiến hành các thủ tục để đình công. Với các TCLĐTT về lợi ích, thời điểm có
quyền đình công sau khi Hội đồng trọng tài lao động hòa giải không thành hoặc
hết thời hạn giải quyết quy định tại khoản 1 Điều 171 BLLĐ mà Hội đồng trọng
Bài tập học kì
1

Bài tập học kì
2
Luật lao động KT32E012
nhằm tạo điều kiện cho những người khởi xướng và lãnh đạo đình công có thời
gian căn nhắc kĩ những được, mất khi đình công; có thời gian để chuẩn bị đầy
đủ các điều kiện vật chất, thu hút thêm NLĐ, sự chú ý của các cơ quan báo
đài,...để tạo nên một cuộc đình công thắng lợi; đồng thời cũng là khoản thời gian
kéo dài cần thiết làm dịu đi những “cái đầu nóng”, tránh những hành vi quá
khích, nông nổi,...gây mất an ninh, an toàn xã hội.
Việc lấy ý kiến của NLĐ thông qua lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành
công đoàn cơ sở, Tổ trưởng công đoàn, tổ trưởng tổ sản xuất; trường hợp không
có công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của Tổ trưởng, Tổ phó tổ sản xuất và hình thức
bỏ phiều kín khi lấy ý kiến lại là một vấn đề gây ra cản trở, khó khắn rất lớn khi
xác định những NLĐ tham gia đã đình công và NLĐ không tham gia đình công
để giải quyết quyền, lợi ích của NLĐ quy định tại Điều 174d BLLĐ.
Tuy nhiên cũng chính sự quy đinh chặt chẽ này tạo nên một sự rườm rà,
nhiều công đoạn, nhiều bước gây khó khăn cho việc tổ chức đình công. Hơn nữa
những người lãnh đạo đình công là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại
diện tập thể lao động, làm việc kiêm nhiệm, thường không có sự hiểu biết pháp
luật cao, nên thường không thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục này. Và nó
cũng làm giảm đi tính cần kíp, thời sự của các yêu cầu của NLĐ, vì các các yêu
cầu của NLĐ đặt ra là hợp pháp, chính đáng và cần được đáp ứng ngay.
 Thủ tục ra quyết định để đình công và bản yêu cầu của NLĐ cho
NSDLĐ
Trong trường hợp có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số NLĐ đối với doanh
nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới 300 NLĐ hoặc trên 75% số người
được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ 300
NLĐ trở lên. Quyết định phải nêu rõ thời gian, địa điểm bắt đầu đình công, có
chữ kí của đại diện Ban Chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao
động; trường hợp là Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì phải đóng dấu của tổ

động cấp tỉnh, trước ngày dự kiến đình công ít nhất là 5 ngày.
Với việc quy định thủ tục thông báo trước này, nhà làm luật mong muốn
rằng trong khoảng thời gian mà NSDLĐ đã được báo trước, họ có thể xem xét
Bài tập học kì
4
Luật lao động KT32E012
lại những yêu cầu của những NLĐ, qua đó có thể tính toán, xem xét việc chấp
thuận các yêu sách của NLĐ hoặc không. Ở đây NSDLĐ phải cân nhắc đến
những thiệt hại về kinh tế, uy tín...có thể xảy ra nếu nổ ra đình công. Đồng thời
việc báo trước về việc đình công với cơ quan lao động cấp tỉnh và Liên đoàn lao
động cấp tỉnh nhắm mục đích thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về những yêu sách, những vi phạm của NSDLĐ (nếu có) và để các cơ quan nhà
nước chủ động hơn trong việc đề ra các biện pháp đối phó kịp thời, ngăn chặn
những hành vi quá khích, phá hoại, lợi dụng đình công gây bất ổn về an ninh,
chính trị và xã hội.
Tuy nhiên, việc thông báo trước phải được thực hiện trước năm ngày trước
khi đình công nổ ra. Theo em đây là khoảng thời gian quá dài, bởi yêu cầu của
việc giải quyết các tranh chấp lao động đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời. Việc
thời gian chờ đợi dài như vậy sẽ làm mất đi cơ hội gây sức ép của những người
đình công lên NSDLĐ.
 Tiến hành đình công
Đến thời điểm bắt đầu đình công theo dự kiến mà NSDLĐ không chấp nhận
giải quyết các yêu cầu thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể
lao động tổ chức và lãnh đạo đình công. Khi tiến hành đình công thì những
người tổ chức và tham gia đình công, không chỉ tuân thủ theo các quy định về
trình tự, thủ tục mà còn yêu cầu phải đảm bảo được cách thức tiến hành đình
công hợp lệ. Cách thức tiến hành đình công là phương thức ngừng việc của
những NLĐ kể từ thời điểm chính thức đình công cho đến khi trở lại làm việc
(1)
.

đến các quyền và lợi ích của anh Minh, đó là tranh chấp lao động cá nhân. Và
đây là trường hợp tranh chấp lao động cá nhân do anh Minh bị công ty đơn
phương chấm dứt HĐLĐ.
Mà theo quy định tại Điều 165 BLLĐ về cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: “Hội đồng hòa giải lao động cơ sở
hoặc hòa giải viên lao động; Tòa án nhân dân”.
Thứ nhất, Hoà giải viên lao động, theo Nghị định số 133/2007/NĐ-CP tại
khoản 1 Điều 7 quy định “Hoà giải viên lao động có nhiệm vụ hoà giải các vụ
tranh chấp lao động cá nhân tại các doanh nghiệp chưa có Hội đồng hòa giải,
2
(2) Đỗ Ngân Bình, “Thủ tục và cách thức tiến hành đình công”, T/c Nghiên cứu lập pháp, số 7(55) năm 2005
Bài tập học kì
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status