Lời mở đầu
Tính chất đặc thù của các quan hệ hôn nhân và gia đình là các quan hệ nhân thân và
quan hệ tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời, không có tính đền bù
ngang giá. Chính sự giàng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với
nhau mà trong đó quan hệ tài sản của vợ chồng là một chế định pháp lý không thể thiếu
trong pháp luật Hôn nhân và Gia đình.
Mặt khác mỗi một cá nhân trong xã hội không chỉ gắn bó với gia đình của mình bởi tính
chất cộng đồng dựa trên tình cảm gắn bó hai vợ chồng trong hôn nhân, mà còn bằng tính
độc lập của mỗi người với tư cách là thành viên của xã hội. Do đó, trong đời sống gia đình,
ngoài các các quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng, còn có những quan hệ xã hội gắn bó với
người vợ, người chồng với thân thuộc, bạn bè và đồng nghiệp của mình. Những quan hệ này
về mặt nào đó phải dựa trên những điều kiện vật chất nhất định. Do đó luật Hôn nhân và
Gia đình Việt Nam bên cạnh việc quy định quyền sở hữu chung hợp nhất còn thừa nhận
quyền có tài sản riêng của vợ, chồng.Việc ghi nhận này dựa trên những cơ sở lý luận và
thực tiễn sau đây.
I)Cơ sở lý luận của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng.
1.1.Một số khái niệm chung về tài sản, chế độ tài sản của vợ chồng, tài sản riêng của vợ
chồng.
.Tài sản: theo nghĩa từ điển học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất và tiêu
dùng”còn theo Điều 163 BLDS-2005 thì tài sản “ bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản”.
.Chế độ tài sản của vợ chồng :Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài
sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và
nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định.
.Tài sản riêng của vợ chồng :được hiểu là tài sản của mỗi bên vợ hoặc chồng có trước thời
kỳ hôn nhân hoặc có trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng, thừa kế riêng hay
những đồ trang sức cá nhân được cho riêng vợ hoặc chồng trong ngày cưới…nó thuộc phạm
trù tài sản riêng của công dân đã được ghi nhận trong Điều 58 của Hiến pháp năm 1992 và
BLDS năm 1995. Theo đó mỗi bên vợ hoặc chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt có quyền quyết định sát nhập hay không sát nhập vào khối tài sản chung của vợ
1.2.3.Trong thời kỳ pháp luật ở Miền Nam nước ta trước ngày thống nhất đất
nước 1954-1975:
Đây là thời kỳ dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn bên cạnh sự ghi nhận tài sản chung của
vợ chồng còn có những quy định về tài sản riêng trong sắc luật số 15/64(Điều 55) và BLDS
năm 1972 (Điều 152) đã dự liệu cho mỗi bên vợ chồng có một khối tài sản riêng bao gồm: “
những bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ ,chồng khi kết hôn (tức là các bất
động sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết hôn); Những bất động sản mà mỗi bên vợ,
chồng có được trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng hoặc thừa kế riêng”.
1.2.4.Trong pháp luật Hôn nhân và Gia đình của nước ta từ 1945 cho đến nay:
Năm 1959 bộ luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên của nước ta đời tại điều 15 quy định
“Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước
và sau khi cưới” . Như vậy quy định này thể hiện chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ
cộng đồng toàn sản: toàn bộ các tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân ,dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc cả hai
vợ chồng được tặng cho chung hay được thừa kế chung không phân biệt nguồn gốc tài sản
và công sức đóng góp đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng, luật không ghi nhận
quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng. Nhưng đến luật Hôn nhân và Gia đình năm
1986 tuy không ghi nhận chế độ tài sản ước định mà chỉ quy định chế độ cộng đồng tài sản
pháp định áp dụng cho các cặp vợ chồng nhưng lần đầu tiên quyền có tài sản riêng của vợ,
chồng chính thức được ghi nhận trong luật HN&GĐ .Tại Điều 16 “Vợ chồng có quyền có tài
sản riêng, bao gồm các tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn, các tài sản mà
vợ hoặc chồng được tặng cho riêng hay được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, người vợ
hoặc chồng có tài sản riêng có quyền nhập hay không nhập vào khối tài sản chung của vợ
chồng”.Đến luật HN&GĐ năm 2000 chế độ tài sản mà pháp luật ghi nhận là chế độ cộng
đồng tạo sản cùng với việc quy định ngày càng cụ thể , chi tiết và rộng hơn quyền có tài sản
riêng của vợ, chồng. Tại khoản 1 Điều 32 “Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà
mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ
hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều
30 của luật này; đồ dung, tư trang cá nhân”.
1.3.Những lý do tất yếu yêu cầu pháp luật phải ghi nhận quyền có tài sản riêng của
sản thừa kế ,xâm phạm đến lợi ích chính đáng của người nhận tài sản trái với nguyên tắc tự
định đoạt của công dân.
+ Trong đời sống vợ chồng không chỉ có mối quan hệ qua lại với nhau, với các thành viên
trong gia đình mà còn nhiều mối quan hệ khác nữa. Trong mối quan hệ này ngoài nhu cầu
giao lưu tình cảm họ còn mong muốn có một số tài sản độc lập để giúp đỡ, làm quà lưu liệm
hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác..nhu cầu đó là hoàn toàn chính đáng. Do đó chế độ
tài sản chung của vợ chồng đã làm cản trở đến nhu cầu chính đáng của họ, dẫn đến tình
trạng thực tế người vợ hoặc chồng cần chu cấp, đùm bọc, giúp đỡ bà con thân thuộc , bạn bè
nhiều khi phải dấu diếm, thậm chí dối trá vì không muôn mang tiếng động chạm đến tài sản
chung.
+ Cuộc sống gia đình liên quan đến kinh tế và tài chính nếu không ghi nhận quyền có tài sản
riêng của mỗi bên vợ chồng sẽ không bảo đảm tính độc lập của mỗi bên trong việc thực
hiện quyền của mình đối với tài sản và nhu cầu tình cảm riêng thực tiễn cuộc sống cho thấy
việc thực hiện nghĩa vụ của vợ hoặc chồng đối với bố mẹ đẻ già yếu, anh chị em ruột không
có khả năng lao động sẽ là một cản trở lớn khi khối tài sản của vợ chồng do cả hai vợ chồng
cùng định đoạt.
+ Cuối cùng nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN gia đình
đã trở thành một đơn vị kinh tế trong xã hội do đó vấn đề đặt ra trong gia đình là phải phân
biệt các hình thức sở hữu tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động kinh tế. Quyền tự do
kinh doanh đã trở thành nguyên tắc hiến định việc làm rõ trách nhiệm pháp lý về tài sản
trong quan hệ thương trường từ trong gia đình đến ngoài xã hội là một yêu cầu tất yếu vì thế
yêu cầu đặt ra là phải ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng là đòi hỏi
khách quan trong luật HN&GĐ.
1.4.Ý nghĩa của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng
Việc ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng tạo ra cơ sở pháp lý để vợ, chồng
chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự và kinh tế, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất
và tinh thần của các thành viên trong gia đình cũng như cá nhân vợ, chồng. Đồng thời, phân
định rõ trách nhiệm của các bên vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản. Qua
đó giúp “minh bạch hóa” các giao dịch dân sự mà mỗi bên chủ thể là vợ, chồng, tạo căn cứ
pháp lý trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ, chồng, giúp cho người
hôn nhân, vợ chồng có quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu riêng phục vụ cho nhu cầu của
mình với bất kỳ mục đích gì miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội, sự kiện kết hôn
không hề làm mất đi quyền sở hữu tài sản riêng của họ.
2.2.Căn cứ ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng.