Lí luận văn nghệ Mác-xít Việt Nam-nhìn từ bản gốc
(Lã Nguyên)
1. Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, muốn tránh tụt hậu ở cả
hai lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu, phê bình, Việt Nam cần từng bước xây dựng một nền lí luận
văn nghệ hiện đại. Nhưng Việt Nam lại chủ trương “kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều
này đặt ra một vấn đề bức thiết, đòi hỏi giới nghiên cứu phải tìm ra lời giải đáp đích đáng: làm
thế nào để mĩ học Mac-xit vẫn là cơ sở kiến tạo lí thuyết của nền lí luận văn nghệ hiện đại ấy?
Cách duy nhất có lẽ là hãy nhìn thẳng vào thực trạng của nền lí luận văn nghệ này. Vì phải nhìn
thẳng vào đấy, ta mới nhận ra những điểm bất cập để khắc phục, đặng phát huy những hạt nhân
hợp lí của nó. Trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi chỉ có thể thảo luận về một vài khía cạnh mà
thiết nghĩ là quan trọng.
2. Xin bắt đầu câu chuyện từ sự quan sát của bản thân. Sau nhiều năm liên tục đứng trên bục
giảng, tôi thấy hệ thống sách giáo khoa, giáo trình được sử dụng để đào tạo trong nhà trường của
chúng ta là nơi phản ánh đầy đủ nhất, trung thành nhất, các nguyên lí cơ bản của mĩ học Mac-
Lenin. Thường so sánh, đối chiếu hệ thống tri thức của các bộ giáo trình này với lí thuyết về văn
học được sử dụng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, tôi nhận ra, nền lí luận văn nghệ Mac-xit
của chúng ta chỉ là một phiên bản của mĩ học Liên Xô trước đây. Thành thử, muốn nhận ra
những điểm bất cập ở nền lí luận văn nghệ Việt Nam, cần nhìn lại phiên bản mĩ học này. Rất dễ
nhận ra, đây là phiên bản mĩ học được kiến tạo trên nền tảng của hai trụ cột tri thức:
Trụ cột thứ nhất là phản ánh luận Mac-xit. Dựa vào trụ cột này, từ những năm 1930 của
thế kỉ trước, mĩ học Xô Viết chính thống đã kiến tạo hoàn chỉnh hệ thống tri thức hàn lâm của
nó. Ngày nay, ta vẫn có thể nhận ra hệ thống tri thức hàn lâm ấy qua các bộ giáo trình lí luận văn
học đang được sử dụng làm tài liệu giảng dạy ở hầu hết các trường đại học và cao đẳng có đào
tạo ngành văn ở Việt Nam. Cứ giở bộ giáo trình do tập thể tác giả trường Đại học Sư phạm Hà
Nội biên soạn (Phương Lựu chủ biên), nhìn vào nhan đề chương I: “VĂN HỌC, HÌNH THÁI Ý
THỨC XÃ HỘI THẨM MĨ”, những ai từng làm quen với mĩ học Xô Viết đều có thể đoán trước
động hướng triển khai lí thuyết của bộ sách. Quả vậy, dựa vào phản ánh luận, xem văn học là
hình thái ý thức xã hội đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc, các tác giả giáo trình xây dựng lí
thuyết về nguồn gốc văn học, về đặc trưng của ý thức thẩm mĩ và nhận thức nghệ thuật, về bản
chất xã hội và chức năng của văn nghệ, lí thuyết về qui luật phát triển của lịch sử văn nghệ, về
nguồn gốc phát sinh của nó, về mối quan hệ giữa văn nghệ với nền tảng kinh tế, văn nghệ và
được những hạn chế lịch sử.
Giờ đây ai cũng thấy, sự phát triển của các ngành khoa học nhân văn và xã hội học hiện
đại đã làm lộ rõ những hạn chế hiển nhiên của phản ánh luận Mac-xit trong phiên bản Xô Viết. Ở
trên kia, chúng tôi vừa nhắc tới hai tác phẩm quan trọng của “nhóm” Bakhtin: Chủ nghĩa Mác và
triết học ngôn ngữ: Những vấn đề cơ bản của phương pháp xã hội học trong khoa học về ngôn
ngữ ( V.N. Volosinov đứng tên)[4], hayPhương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học. Nhập
môn phê bình thi pháp xã hội học (P.N. Medvedev đứng tên)[5]. Vào những năm 70 của thế kỉ
trước, M.M. Bakhtin còn công bố một tác phẩm khác, cũng rất nổi tiếng: Vấn đề thể loại lời
nói [6]. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học và mĩ học, những công trình này đã đặt ra nhiều vấn
đề khoa học mang ý nghĩa cách tân. Có hai luận điểm cực kì quan trọng:
Thứ nhất: luận điểm về bản chất kí hiệu học của tư tưởng hệ: “Các phạm trù định giá tư
tưởng hệ (giả dối, chân lí, công minh, lương thiện) gắn chặt với các kí hiệu. Lĩnh vực tư tưởng
hệ trùng với lĩnh vực các kí hiệu. Giữa chúng, có thể đặt một dấu ngang bằng. Ở đâu có kí hiệu,
ở đó cũng có tư tưởng hệ”[7]. Luận điểm này khẳng định tính chất bất cập vật của ý thức, vai
trò trung gian của ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa ý thức với thế giới vật chất và chỉ ra cấu
trúc biểu nghĩa đặc thù của các hiện tượng tư tưởng hệ.
Thứ hai: luận điểm về quan hệ liên chủ thể và nguyên tắc đối thoại trong giao tiếp lời
nói. Theo Bakhtin, đơn vị thực tế trong giao tiếp lời nói không phải là “từ”, hay “câu”, mà là
các phát ngôn. Giao tiếp là “phát ngôn”, là bày tỏ “ý kiến”. Người ta tham gia giao tiếp với một
ý đồ cụ thể, lời người nói bao giờ cũng nhắm tới một người nghe xác định, điều đó tạo thành một
quan hệ liên chủ thể trong giao tiếp lời nói và khiến cho ngay từ đầu, phát ngôn của người nói đã
có hình thức của một chỉnh thể hoàn kết. Bakhtin khẳng định, người ta bao giờ cũng phát ngôn
bằng những thể loại lời nói có sẵn, những thể loại lời nói này vô cùng phong phú, đa dạng: có
bao nhiêu lĩnh vực giao tiếp ngôn ngữ, có bấy nhiêu thể loại lời nói. Lại nữa, cả người nói, lẫn
người nghe đều là những chủ thể kí ức, sống trong một môi trường đa ngữ, nơi mọi phát ngôn cụ
thể đều không phải là lời nói đầu tiên về thế giới. Thành thử, trong quan hệ liên chủ thể của giao
tiếp lời nói, “nói” trở thành sự nối lời, dò hỏi; “nghe” trở thành sự hồi đáp, sự đối thoại, tranh
biện. Tham gia giao tiếp là tham gia vào cuộc đối thoại vĩnh hằng của thế giới: đối thoại giữa
“tôi” với “anh” trong chiều đồng đại và đối thoại giữa “chúng ta” và “họ” trong chiều lịch đại.
Nó vừa là đối thoại tư tưởng (trong chiều đồng đại), vừa là đối thoại văn hoá (trong chiều lịch
Mac-xít ở phiên bản Xô Viết đều nhận ra ngay, rằng phạm trù tư tưởng hệ trong văn nghệ càng
về sau, càng bị thu hẹp và tuyệt đối hoá. Xin hãy so sánh những bài phân tích văn học của C.
Marx và F. Engels với loạt bài viết về văn học của V.I. Lenin. Trước kia, phân tích sáng tác của
các nhà văn, nói gì thì nói, cuối cùng bao giờ C. Marx và Ph.Engels cũng chứng minh văn học là
hình thái ý thức phản ánh hiện thực, rằng “không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại
của họ, trái lại, chính sự tồn tại của họ quyết định ý thức của họ”[9]. Trong loạt bài viết về
Ghersen, về các nhà văn dân tuý, nhất là loạt bài về L. Tolstoi, bao giờ Lênin cũng nhấn mạnh
tầm quan trong của tư tưởng hệ, của thế giới quan và lập trường giai cấp đối với sáng tạo nghệ
thuật. C. Marx và F. Engels nói tới “tính khuynh hướng” của nghệ thuật, nhưng hai ông lại ủng
hộ xu hướng “Sếch - pia hoá”, phản đối xu hướng “Sinle-hoá” trong kịch Franz von
Sickingen của Ph. Laxan[10], vì theo hai ông, tính xu hướng phải toát lên từ bản thân hình tượng
nghệ thuật. Trong “Thư gửi M. Hac-cơ-net đầu tháng 4 – 1888”, F. Engels gọi Banzac là nhà
văn “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực và đánh giá cao sự chiến thắng của chủ nghĩa hiện thực
đối với thiên kiến tư tưởng của nhà văn. Sau này, khi nước Nga bước vào “thời đại chuẩn bị cách
mạng”, phân tích sáng tác của L. Tolstoi, Lenin lại đặc biệt chú ý tới sự chiến thắng của thế giới
quan, tới việc Tolstoi “đã đoạn tuyệt với tất cả các quan niệm thịnh hành” của cái giai cấp mà
ông xuất thân để đến với lập trường nông dân gia trưởng[11]. C. Marx và F. Engels cho
rằng“các quan điểm xã hội chính trị của tác giả […] càng kín đáo bao nhiêu thì lại càng tốt cho
tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu”[12]. Năm 1905, V. Lenin viết bài báo nổi tiếng: Tổ chức đảng
và văn học mang tính đảng. Ông tuyên bố: “Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ
phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái bánh xe nhỏ và một cái
đinh ốc” trong một bộ máy xã hội – dân chủ, vĩ đại, thống nhất, do toàn đội tiên phong giác ngộ
của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển. Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận khăng
khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất của Đảng xã hội – dân chủ”[13].
Những luận điểm của V. Lenin là hạt nhân lí thuyết để đến những năm 30 của thế kỉ
trước, mĩ học Mac-xit Liên Xô thu hẹp và tuyệt đối hoá phạm trù tư tưởng hệ trong văn học
nghệ thuật. Từ đây, tư tưởng hệ của văn nghệ được đồng nhất với thế giới quan của đảng cộng
sản cầm quyền và giai cấp vô sản chiến thắng. Hệ tư tưởng này trở thành “linh hồn” của cả
phương pháp sáng tác, lẫn phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học. Từ đó, mĩ học Mac-xit
Xô Viết nhanh chóng hình thành một hệ thống điển phạm, lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa
đồng nhất nghệ thuật với tuyên truyền. Vào năm 1905, V. Lenin kêu gọi:“Hãy bắt tay vào công
tác!Hỡi các đồng chí! Trước mắt chúng ta là nhiệm vụ khó khăn, nhưng vĩ đại và đầy hứa hẹn:
tổ chức sự nghiệp văn học rộng lớn, nhiều mặt, nhiều hình, nhiều vẻ, gắn bó chặt chẽ, mật thiết
với phong trào công nhân xã hội – dân chủ. Toàn bộ văn học xã hội – dân chủ phải thành văn
học Đảng. Tất cả báo chí, tạp chí, nhà xuất bản, v.v… đều phải lập tức bắt tay vào công tác cỉa
tổ, chuẩn bị điều kiện khiến cho những thứ đó, căn cứ vào những nguyên tắc này hay nguyên tắc
khác, hoàn toàn gia nhập những tổ chức này hay tổ chức khác của Đảng. Chỉ lúc đó, văn học
“xã hội – dân chủ” mới thành văn học “xã hội – dân chủ” chân chính…” [14]. Ở việt nam, năm
1948, đồng chí Trường Chinh đã nêu ý kiến có tính chất chỉ đạo: “Tuyên truyền cao tới một mức
nào đó thì tuyên truyền trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ
thuật có tính chất rõ rệt là tuyên truyền[15]. Một khi bị đồng nhất với công cụ tuyên truyền, sáng
tác nghệ thuật sẽ trở thành hoạt động vụ lợi khiến nó xung đột trực tiếp với bản chất vô tư của ý
thức thẩm mĩ. Đây là cơ sở làm nầy sinh chủ nghĩa đề tài và xu hướng minh hoạ các chủ trương,
đường lối chính trị-xã hội trong suốt cả một giai đoạn lịch sử văn học khá dài. Tôi sẽ không bàn
thêm về sự bất cập này, vì nó đã được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra và phân tích thấu đáo.
Thứ ba: Giở cuốn Lí luận văn học đang được sử dụng làm tài liệu học tập ở trường Đại
học sư phạm Hà Nội, ta bắt gặp ngay một tiểu mục rất quen thuộc: Kiên trì quan điểm giai cấp,
phê phán thuyết “tính người” và “chủ nghĩa thành phần[16]. Đơn vị kiến thức mà các nhà giáo
chủ trương “kiên trì” này nói lên sự trung thành vô hạn độ của sách giáo khoa lí luận văn học với
mĩ học Mac-xit truyền thống. Nhưng “kiên trì quan điểm giai cấp” là gì, nếu không phải là “kiên
trì” cái nhìn theo nguyên tắc bổ đôi, chia thế giới thành hai nửa đối kháng đời đời đấu tranh
nhằm tiêu diệt lẫn nhau: thống trị và bị trị, địch và ta. Giờ đây, trong bối cảnh giao lưu, hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng, tôi tin, ai cũng nhận ra, chủ trương “kiên trì” một quan điểm như thế
chắc chắn sẽ tạo ra một nền văn nghệ mâu thuẫn trực tiếp, thậm chí có khả năng triệt tiêu tính
nhân loại và bản chất nhân bản của nó.
Thứ tư, cuối cùng: Một mặt, dựa vào phản ánh luận để kiến tạo lí thuyết hàn lâm, mặt
khác, lại tuyệt đối hoá cái nhìn tư tưởng hệ để hình thành hệ thống điển phạm định hướng thực
tiễn, mĩ học Xô Viết chứa đựng trong bản thân những mâu thuẫn nội tại, các mặt đối lập của nó
luôn có khả năng chuyển thành xung đột dẫn tới nguy cơ chân lí nghệ thuật có thể bị triệt tiêu.
Bởi vì, nghệ thuật có chân lí của nghệ thuật. Tư tưởng hệ có chân lí của tư tưởng hệ. Hai loại
khí cụ. Tre của Nguyễn Duy “Chưa lên đãnhọn như chông lạ thường”. Trong truyện ngắn của
Nguyễn trung Thành, những cây xà nu con mới mọc lên, “ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi
tên lao thẳng lên trời”. Khái quát lại, toàn bộ đời sống hiện thực của dân tộc ta đã được văn học
trước 1975 mô hình hoá, biến thành bức tranh mà nằm ở vị trí trung tâm là bốn từ định
danh: “mặt trận” – “chiến dịch” – “chiến sĩ” – “vũ khí”. Chắc chắn đây là bức tranh được mô
tả từ góc nhìn nhà binh, thể hiện tư tưởng hệ của quốc gia dân tộc thời chiến. Nó là chân lí nhất
thời, đơn nghĩa. Ta hiểu vì sao, ngay từ năm 1975, truyện Bức tranh của Nguyễn Minh Châu đã
cất lên tiếng nói thể hiện nhu cầu đổi mới cái nhìn nghệ thuật.
Ngày nay, ta hiểu thêm, nghệ thuật không chỉ là phương thức tư duy, mà còn làhình thức
giao tiếp. Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một sự kiện giao tiếp diễn ra giữa nhà văn với người đọc,
giữa người đọc với nhà văn và thế giới hình tượng do ông ta sáng tạo ra. Đó là một quan hệ “tay
ba”, quan hệ liên chủ thể. Diễn ra trong mối quan hệ ấy, chân lí nghệ thuật là lẽ phải đòi hỏi sự
đồng thuận, “có mình có ta”. Đây là sự đồng thuận của các tư tưởng hệ được hình thành trên
hành trình đối thoại. Tuyệt đối hoá một hệ tư tưởng nào nó trong quan hệ liên chủ thể của sự kiện
giao tiếp lời nói, chân lí nghệ thuật sẽ bị phương hại. Ta hiểu vì sao lịch sử văn học nghệ thuật
của nhân loại là hành trình vận động từ truyền thuyết, sử thi, truyện kể đến tiểu thuyết, chứ
không phải ngược lại. Chỉ cần khảo sát văn học Việt Nam trước 1975, ta đã có thể nhận ra qui
luật ấy. Đọc bất kì tác phẩm văn học nào ở giai đoạn trên, ta cũng thấy các chủ thể lời nói được
phân ngôi giao tiếp theo hai kiểu cố định: “chúng ta – chúng nó” và “mình – ta”. “Chúng ta” và
“chúng nó” là quan hệ “địch - ta”. “Ta đây là người”, là“thiên thần bay giữa trăng sao” (thơ tố
Hữu). “Địch” là “thú vật”, “chó ngộ, “hổ mang”, là “thú dữ một bầy”, là“hổ báo hôi
tanh” (thơ Tố Hữu). Thú vật dĩ nhiên không thể có ngôn ngữ. Cho nên, cuộc giao tiếp giữa
“chúng ta” và “chúng nó” là giao tiếp một bên, một phía, chỉ có lời phán quyết của chúng ta.
Cuộc giao tiếp “mình - ta” là giao tiếp “nội bộ”, giao tiếp giữa “chúng ta với nhau”: “ta” là lãnh
tụ, là cán bộ; “mình” là “chiến sĩ đồng bào”, là quần chúng nhân dân. Chỉ cần đọc bài Tiếng hát
sông Hương, hay Việt Bắc của Tố Hữu, ta đã có đủ cơ sở để nhận ra, đây là cuộc giao tiếp một
chiều: “ta nói - mình nghe”; “mình hỏi - ta đáp”. Giao tiếp “ta – địch” là giao tiếp độc thoại.
Giao tiếp “mình – ta” là giao tiếpđồng ca: “xướng - hoạ”, “huầy - dô”. Giao tiếp đồng ca và giao
tiếp độc thoại đều là sự giao tiếp với những bài ca có sẵn và những chân lí biết rồi. Ta hiểu vì
sao, khi Đảng chủ trương “cởi trói”, “nhìn thẳng vào sự thật”, trong những ngày rầm rộ đổi mới
toàn hệ thống lí thuyết về các vấn đề riêng, liên quan tới đặc trưng và thi pháp nghệ thuật. b)
Cần xoá bỏ định kiến cho rằng chỉ có một phiên bản mĩ học Mac-xit nào đấy là duy nhất đúng.
Bởi vì, chỉ khi ấy chúng ta mới có kế hoạch nghiên cứu thấu đáo toàn bộ di sản mĩ học Mac –
Lênin với mọi phiên bản khác nhau, hấp thu tinh hoa của nó, làm cho nền lí luận văn nghệ của
chúng ta ngày càng trở nên giàu có. c) Tiếp thu những thành tựu lí luận hiện đại của nhân loại
trên tinh thần đối thoại.
Hà Nội, 11.7.2014
L.N
(Bản tác giả gửi vietvan.vn)
[1] Xin xem: Phương Lựu (Chủ biên) Lí luận văn học. T.1. Nxb Đại học Sư phạm, 2012, tr. 54
-228.
[2] Xin xem: Phương Lựu (Chủ biên) Lí luận văn học. Nxb Giáo dục, 2003, tr. 357 - 415.
[3] V.I. Lênin Toàn tập. T. 20, tr. 128 (tiếng Nga).
[4] Xem: V.N. Voloshinov Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ. L.: Priboi, 1929 (tiếng Nga).
[5] Xem: P.n. Međvedev Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học (Nhập môn phê
bình thi pháp xã hội học). L.: Priboi, 1929 (tiếng Nga).
[6] Xem: M.M. Bakhtin Vấn đề thể loại lời nói (Bản dịch tiếng Việt của Lã Nguyên), trong: Lã
Nguyên (Tuyển dịch) Lí luận văn học – Những vấn đề hiện đại. Nxb. Đại học Sư phạm, 2012,
tr. 7-54.
[7] V.N. Voloshinov Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ. L.: Priboi, 1929 (tiếng Nga). Tr. 14.
[8] Về vấn đề khung tri thức và các mô hình kiến tạo lí thuyết, xin xem: Lã Nguyên Thay đổi
khung tri thức và mô hình lí thuyết là tiền đề nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu, phê
bình văn học// “Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật”. Số 11, tháng 7/2013; tr. 20-26.
[9] C. Mác – Ph. Ăng-ghen – V.I. Lê-nin Về văn học và nghệ thuật Nxb. Sự thật. H., 1977, tr.
29.
[10] Tlđd Tr. 365.
[11] 194 – 219.