Nghiên cứu áp dụng tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường tại phường khương trung, thanh xuân, hà nội - Pdf 28


iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khái quát về Quyền trong bảo vệ môi trƣờng 3
1.1.1. Mối quan hệ giữa môi trƣờng với quyền con ngƣời 3
1.1.2. Nội dung nguyên tắc và các quyền con ngƣời về môi trƣờng 6
1.2. Tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trƣờng cấp cơ sở trên thế giới và tại Việt Nam 10
1.2.1. Kinh nghiệm trên thế giới 10
1.2.2. Kinh nghiệm của Việt Nam 15
1.3. Khái quát về phƣờng Khƣơng Trung, Thanh Xuân, Hà Nội 19
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 23
2.2. Nội dung nghiên cứu 23
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 24
2.3.1. Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp 24
2.3.2. Phƣơng pháp tham vấn ý kiến cộng đồng 24
2.3.3. Phƣơng pháp tham kiến chuyên gia 25
2.3.4. Phƣơng pháp tổng hợp và xử lý số liệu 25
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Đánh giá thực trạng môi trƣờng ở phƣờng Khƣơng Trung 26
3.2. Xác định các vấn đề môi trƣờng ƣu tiên ở phƣờng Khƣơng Trung 35

10. WHO: Tổ chức Y tế thế giới
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Nguồn phát sinh chất thải rắn trên địa bàn phƣờng Khƣơng Trung 27
Bảng 3.2: Phân loại rác thải từ các nguồn thải khác nhau 29
Bảng 3.3: Tổng lƣợng rác thải phát sinh tại phƣờng Khƣơng Trung 29
Bảng 3.4: Ý kiến đánh giá môi trƣờng sống ở phƣờng Khƣơng Trung 32
Bảng 3.5: Ý kiến đánh giá vấn đề ô nhiễm môi trƣờng ở phƣờng Khƣơng Trung 33
Bảng 3.6: Ý kiến đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ảnh hƣởng đến sức khỏe
ngƣời dân 34
Bảng 3.7: Ý kiến của ngƣời dân về vấn đề môi trƣờng cần quan tâm ở phƣờng
Khƣơng Trung 36

viii
DANH MỤC ẢNH
Trang
Ảnh 1: Phố Khƣơng Trung dọc theo dòng sông Tô Lịch 71
Ảnh 2: Điểm tập kết xe rác gần sông Tô Lịch 71
Ảnh 3: Điểm tập kết xe rác dọc cổng Trƣờng Tiểu học Nguyễn Trãi 72
Ảnh 4: Điểm tập kết xe rác 72
Ảnh 5: Nhân viên Xí nghiệp Môi trƣờng đô thị số 4 thu gom rác 73
Ảnh 6: Tác giả phỏng vấn trực tiếp dân cƣ phƣờng Khƣơng Trung 73
1

MỞ ĐẦU
Do có sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, xã hội,
chế độ chính trị, giá trị truyền thống, văn hóa dân tộc, nên cách tiếp cận quyền con
ngƣời (Right-based Approach) có sự khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc. Nhƣng
quyền con ngƣời (QCN) có thể hiểu một cách đơn giản nhất, đó là những đặc quyền
tự nhiên mà mỗi ngƣời khi sinh ra đều có, không phân biệt về độ tuổi, trình độ,
nghề nghiệp, địa vị xã hội, ngôn ngữ, chính kiến, dân tộc, sắc tộc, giới tính. Các
quyền và tự do của con ngƣời đƣợc ghi nhận và đảm bảo bằng hệ thống pháp luật
quốc gia và quốc tế.

chƣa lôi cuốn đƣợc sự tham gia tích cực và chủ động của các đoàn thể quần chúng -
xã hội, của cộng đồng dân cƣ. Để cải thiện tình hình, phát huy hơn nữa vai trò của
các đoàn thể quần chúng - xã hội, và cộng đồng địa phƣơng trong bảo vệ môi
trƣờng ở phƣờng này rất cần cách tiếp cận mới. Chính vì thế, tôi đã mạnh dạn chọn
đề tài “Nghiên cứu áp dụng tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường tại phường
Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ khoa
học môi trƣờng.
3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về Quyền trong bảo vệ môi trƣờng
Môi trƣờng có mối quan hệ mật thiết với sức khỏe và quyền con ngƣời. Vì
vậy, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật, hành chính, pháp
luật… trong bảo vệ môi trƣờng. Hƣớng tiếp cận quyền con ngƣời trong bảo vệ môi
trƣờng hiện đang đƣợc xem là có hiệu quả, đã đƣợc nhiều nƣớc áp dụng, nhất là
những nƣớc phát triển. Tuy nhiên, ở nƣớc ta, hƣớng tiếp cận này khá mới mẻ, vì
vậy, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa môi trƣờng với quyền con ngƣời và kinh
nghiệm quốc tế trong vận dụng cách tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trƣờng rất có
ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay.
1.1.1. Mối quan hệ giữa môi trường với quyền con người

hành các quyết định. Các quốc gia sẽ phải tạo điều kiện, tăng cƣờng nhận thức và
kêu gọi sự tham gia của cộng đồng trong việc phổ biến thông tin rộng rãi. Cơ hội
tiếp cận một cách hiệu quả với tƣ pháp và các thủ tục hành chính, bao gồm cả việc
bồi thƣờng và đền bù thiệt hại phải đƣợc bảo đảm” [19].
Sự gắn kết giữa môi trƣờng và quyền con ngƣời đƣợc thể hiện khá rõ đối với
việc bảo đảm thực hiện các quyền nhƣ: quyền đƣợc sống; sự toàn vẹn thân thể của
mỗi cá nhân, của đời sống mỗi gia đình; quyền đối với sức khỏe, thịnh vƣợng và
phát triển của mỗi cá nhân, cũng nhƣ nhóm và cộng đồng xã hội… Tất cả các quyền
này đều phụ thuộc vào môi trƣờng sống, môi trƣờng tự nhiên xung quanh con
ngƣời. Và đây đƣợc xác định là cơ sở quan trọng cho cuộc sống của tất cả mọi cá
nhân và cộng đồng xã hội.
Hiện nay, sức khỏe của con ngƣời đang bị ảnh hƣởng ngày càng lớn và hệ
quả ngày càng trầm trọng do sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trƣờng và hệ sinh
thái. Và chính sự ô nhiễm môi trƣờng, sự hủy hoại môi trƣờng tự nhiên đều trực tiếp
tác động đến việc hƣởng thụ quyền con ngƣời của tất cả mọi ngƣời. Vì thế, nhu cầu
đòi hỏi ngày càng cao của con ngƣời là phải nâng cao chất lƣợng cuộc sống, bảo
5

đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trƣờng.
Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trƣờng chính là vấn đề của quyền con ngƣời.
Thứ hai, bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa quyền
con người.
Một sự thật hiển nhiên là, các quyền con ngƣời không thể thực hiện đƣợc nếu
môi trƣờng không đƣợc bảo đảm, vì môi trƣờng có liên quan và tác động trực tiếp
tới hƣởng thụ nhân quyền của mỗi cá nhân và cộng đồng. Vì vậy, bảo vệ và nâng
cao chất lƣợng môi trƣờng của con ngƣời là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ cuộc sống
con ngƣời, điều kiện tiên quyết bảo đảm nhân phẩm và giá trị của con ngƣời, phát
triển và hoàn thiện nhân cách con ngƣời và tạo ra đặc tính thúc đẩy phúc lợi cho
mỗi cá nhân, tập thể và cả cộng đồng xã hội.
Các hoạt động của con ngƣời đã làm cho môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm

khỏe, bảo vệ lợi ích số đông, lợi ích cộng đồng, bảo vệ những ngƣời dễ bị tổn
thƣơng trong xã hội, nhƣ trẻ em, phụ nữ, ngƣời nghèo, dân tộc thiểu số,…
1.1.2. Nội dung nguyên tắc và các quyền con người về môi trường
Do tính chất và tầm quan trọng trong bảo vệ quyền con ngƣời về môi trƣờng,
một bản dự thảo Tuyên ngôn về nguyên tắc và các quyền con ngƣời đã chính thức
đƣợc một nhóm chuyên gia về nhân quyền và luật môi trƣờng quốc tế trình lên các
cơ quan của LHQ để lấy ý kiến. Trong bản dự thảo Tuyên ngôn, đã tuyên bố một
cách toàn diện về các thành phần thiết yếu của quyền con ngƣời đối với môi trƣờng.
Tuyên ngôn đƣợc thông qua là văn kiện pháp lý quan trọng nhất để thiết lập các
chuẩn mực quốc tế về quyền con ngƣời với môi trƣờng và phản ánh sự phát triển
hƣớng tới sự công nhận và bảo đảm quốc tế đối với các quyền về môi trƣờng.
Dự thảo Tuyên ngôn gồm 27 điểm, 5 phần. Lời nói đầu nhấn mạnh quyền tự
quyết và quyền phát triển, và sự gắn kết giữa môi trƣờng và quyền con ngƣời. Đó là
“Sự vi phạm quyền con ngƣời dẫn tới sự xuống cấp của môi trƣờng và sự xuống cấp
của môi trƣờng dẫn tới sự vi phạm quyền con ngƣời” [12].

7

a) Các nguyên tắc quyền con người về môi trường
Phần I của bản Dự thảo Tuyên ngôn đƣa ra những khái niệm chung về các
nguyên tắc [20]:
- Nguyên tắc 1: Khẳng định các quyền con ngƣời, môi trƣờng sinh thái, phát
triển bền vững và hòa bình là phụ thuộc lẫn nhau và không thể chia cắt.
- Nguyên tắc 2: Khẳng định mọi ngƣời có quyền đối với môi trƣờng an toàn,
sức khỏe và môi trƣờng sinh thái.
- Nguyên tắc 3: Khẳng định quyền không phân biệt đối xử liên quan tới các
hành động và quyết định có tác động tới môi trƣờng.
- Nguyên tắc 4: Thiết lập nguyên tắc về tính công bằng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ hiện nay và mai sau.
b) Nội dung các quyền con người đối với môi trường

- Quyền tiếp cận thông tin liên quan tới môi trƣờng.
- Quyền giữ, bày tỏ quan điểm và tuyên truyền những ý tƣởng và thông tin
liên quan tới môi trƣờng.
- Quyền đƣợc giáo dục nhân quyền và môi trƣờng.
- Quyền đƣợc tham gia một cách tích cực, tự do và có ý nghĩa trong lập kế
hoạch, ban hành quyết định, có tác động đến môi trƣờng và phát triển. Quyền này
bao gồm quyền đánh giá tác động trƣớc về môi trƣờng, phát triển và hậu quả tác
động của quyền con ngƣời đối với các đề xuất hành động.
- Quyền tham gia hội họp một cách tự do và hòa bình với ngƣời khác với
mục đích bảo vệ môi trƣờng.
- Quyền đƣợc bồi thƣờng và đền bù thiệt hại một cách hiệu quả liên quan tới
môi trƣờng.
9

c) Trách nhiệm và nghĩa vụ
- Tất cả mọi ngƣời, cá nhân và tập thể có nghĩa vụ bảo vệ và bảo tồn môi trƣờng.
- Nhà nƣớc có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền sống trong môi trƣờng
an toàn, sức khỏe và bảo đảm phƣơng kế sinh nhai.
- Những biện pháp này nhằm mục đích ngăn ngừa tác hại của môi trƣờng,
bảo đảm đền bù tối thiểu, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và sẽ có nhiệm
vụ về:
+ Thu thập và phổ biến thông tin liên quan tới môi trƣờng;
+ Đánh giá trƣớc, kiểm soát, cấp giấy phép, ban hành quy định hay ngăn cấm
các hoạt động và những nguồn gây hại tới môi trƣờng;
+ Sự tham gia của công chúng vào việc ban hành các quyết định có liên quan;
+ Khôi phục và đền bù thiệt hại theo thủ tục tƣ pháp và hành chính đối với
những thiệt hại do môi trƣờng gây ra và những đe dọa;
+ Giám sát, quản lý và chia sẻ một cách công bằng nguồn tài nguyên thiên nhiên;
+ Có biện pháp kiểm soát chất thải gây hại;
+ Trong khi thực hiện nghĩa vụ về bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững và

quốc tế đã tạo ra một loạt các văn kiện quy phạm pháp luật quốc tế, các cơ quan
chuyên ngành và các cơ quan ở cấp toàn cầu. Dƣờng nhƣ mối quan hệ giữa quyền
con ngƣời, sức khỏe và bảo vệ môi trƣờng là những lĩnh vực để đối phó với các vấn
đề khác nhau và phát triển một cách độc lập.
Trong nghị quyết 45/94 ngày 14/12/1990 về nhu cầu bảo đảm môi trƣờng
lành mạnh cho hạnh phúc của các cá nhân [17], Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đặt
lại kết luận của tuyên bố Stockholm, nói rằng tất cả cá nhân có quyền đƣợc sống
trong một môi trƣờng đầy đủ cho sức khỏe và hạnh phúc của họ. Nghị quyết đã nỗ
11

lực kêu gọi sự tăng cƣờng theo hƣớng đảm bảo một môi trƣờng tốt hơn và khỏe
mạnh.
Trong ba thập kỷ kể từ hội nghị Stockholm, mối liên kết đã đƣợc thiết lập từ
các tuyên bố đầu tiên đã đƣợc dựng lại và đƣợc xây dựng bằng nhiều cách khác
nhau trong các văn kiện pháp lý quốc tế và các quyết định của các cơ quan nhân
quyền. Phƣơng pháp tiếp cận đầu tiên, có lẽ gần với Tuyên bố Stockholm, hiểu
đƣợc bảo vệ môi trƣờng nhƣ một điều kiện tiên quyết để có thể hƣởng các quyền
con ngƣời đƣợc quốc tế đảm bảo, đặc biệt là quyền sống và có sức khỏe. Do đó, bảo
vệ môi trƣờng là một công cụ thiết yếu trong các nỗ lực để bảo đảm tận dụng phổ
biến hiệu lực của quyền con ngƣời. Ông Klaus Toepfer, Giám đốc điều hành của
Chƣơng trình Môi trƣờng Liên Hiệp Quốc, phản ánh các tiếp cận này trong tuyên
bố của ông trong kỳ họp từ 57 của Ủy ban Nhân quyền năm 2001: Quyền con ngƣời
không thể đƣợc bảo đảm trong một môi trƣờng bị suy thoái hoặc bị ô nhiễm. Các
quyền cơ bản cho cuộc sống của con ngƣời đang bị đe dọa bởi suy thoái đất, phá
rừng và tiếp xúc với chất độc hại, chất thải nguy hại và nƣớc uống bị ô nhiễm. Điều
kiện môi trƣờng rõ ràng đã giúp để xác định mức độ mà mọi ngƣời thƣởng thức các
quyền cơ bản của họ và cuộc sống, sức khỏe, thực phẩm, nhà ở, sinh kế truyền
thống và văn hóa. Điều đó đã nhận ra rằng những ngƣời gây ô nhiễm, hủy hoại môi
trƣờng tự nhiên không chỉ phạm một tội ác chống lại thiên nhiên, nhƣng cũng đang
vi phạm nhân quyền. Đại hội tƣơng tự cũng kêu gọi bảo tồn thiên nhiên là một điều

thƣờng thiệt hại do môi trƣờng gây ra. Ví dụ, Hiến pháp Liên bang Nga thừa nhận,
quyền môi trƣờng tối thiểu bao gồm tiếp cận thông tin chính xác và đền bù do gây
hại tới sức khỏe con ngƣời hay tài sản do vi phạm môi trƣờng [7]. Bảo vệ bằng Hiến
pháp đối với các quyền môi trƣờng là cơ hội để ngƣời dân tác động lên Chính phủ
đối với việc ban hành các quyết định có thể gây ảnh hƣởng xấu đến cuộc sống và
môi trƣờng tự nhiên.
Hiến chƣơng châu Phi năm 1981 [5] công nhận quyền của tất cả mọi ngƣời có
môi trƣờng tối thiểu, nhằm thỏa mãn đối với sự phát triển và thịnh vƣợng chung của
cộng đồng, xã hội. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng quy định
13

"Môi trƣờng tối thiểu" nên đƣợc thừa nhận là quyền con ngƣời cơ bản. Ủy ban Kinh
tế của Liên hiệp quốc về châu Âu (UNEEC) đã dự thảo Hiến chƣơng về các quyền
và nghĩa vụ về môi trƣờng, nhằm khẳng định mọi ngƣời đều có quyền môi trƣờng
tối thiểu [10].
Việc công nhận và thực hiện quyền môi trƣờng trong bối cảnh phát triển bền
vững đã chỉ ra mối quan hệ rõ ràng giữa bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền với việc
bảo tồn, bảo vệ và khôi phục môi trƣờng. Điều này đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải
cùng nhau hợp tác và xây dựng các chuẩn mực chung để đối phó với thách thức
ngày càng gia tăng đối với môi trƣờng và phát triển.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau bàn về cách tiếp cận quyền trong
việc bảo vệ môi trƣờng. Tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trƣờng cho phép nâng cao
chất lƣợng sống của tất cả mọi ngƣời và con ngƣời trở thành trung tâm trong việc
ban hành các chính sách, pháp luật. Michael Anderson, tác giả nổi tiếng cuốn sách
“Tiếp cận quyền con ngƣời trong bảo vệ môi trƣờng” [16] đã gợi ý ba cách tiếp cận:
Thứ nhất, huy động và sử dụng các quyền đang tồn tại để đạt đƣợc mục đích môi
trƣờng; thứ hai, giải thích lại các quyền hiện có, tính đến cả các mối quan tâm về
môi trƣờng và thứ ba là tạo ra các quyền mới bao hàm đủ các đặc tính của môi
trƣờng.
- Thứ nhất, huy động và sử dụng các quyền đang tồn tại đƣợc quy định trong

niệm quyền sống, bao hàm cả các quy tắc liên quan đến bảo vệ môi trƣờng. Nhiều
nƣớc khác công nhận quyền tiếp cận thông tin và tìm kiếm các bồi thƣờng thiệt hại
do môi trƣờng gây ra. Bảo vệ bằng Hiến pháp đối với các quyền môi trƣờng là cơ
hội để mọi ngƣời dân tác động lên Chính phủ đối với việc ban hành các quyết định
để có đƣợc cuộc sống cộng đồng dân cƣ và môi trƣờng tự nhiên xung quanh lành
mạnh.
- Thứ ba, tạo ra các quyền mới: Tiếp cận này liên quan tới việc công nhận và
thực hiện quyền môi trƣờng trong bối cảnh phát triển bền vững đã chỉ ra mối quan
15

hệ rõ ràng giữa bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền với việc bảo tồn, bảo vệ và khôi
phục môi trƣờng.
Việc tạo ra các quyền mới đòi hỏi cộng đồng quốc tế cùng nhau hợp tác và
xây dựng các chuẩn mực quốc tế chung để ứng phó với thách thức ngày càng gia
tăng đối với môi trƣờng và phát triển. Các quyền mới chứa đựng các quy tắc và tiêu
chuẩn chung về bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững, đồng thời ngày càng
đƣợc bổ sung các nội dung mới, dựa trên sự phát triển và tác động của môi trƣờng.
1.2.2. Kinh nghiệm của Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị
quyết và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm kịp thời điều
chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới bảo vệ môi trƣờng và hệ sinh thái. Một
loạt các văn bản pháp luật, nhƣ Luật Bảo vệ môi trƣờng, Luật Tài nguyên nƣớc,
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học,… và nhiều văn bản dƣới
luật đã đƣợc ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc bảo vệ môi trƣờng, hệ sinh
thái ở nƣớc ta. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng thi hành pháp luật
về bảo vệ môi trƣờng ở nƣớc ta trong thời gian qua, cho thấy môi trƣờng, hệ sinh
thái ở nƣớc ta không những chƣa thực sự đƣợc cải thiện mà vẫn đang bị suy thoái
và xuống cấp nghiêm trọng.
Nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành cho thấy, hầu hết các
quy phạm pháp luật mới chỉ dừng lại nguyên tắc chung, có tính định khung; chƣa

nhiễm môi trƣờng đến sức khỏe, quyền lợi về vật chất, tinh thần của cá nhân, công
dân và của cộng đồng dân cƣ.
Bên cạnh đó, để tăng cƣờng thực thi pháp luật về môi trƣờng, Nhà nƣớc sớm
nghiên cứu đào tạo chuyên sâu và phát triển đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật, trƣớc
hết là cán bộ điều tra, luật sƣ, công tố viên và thẩm phán về môi trƣờng. Đồng thời
có chính sách hỗ trợ các văn phòng luật sƣ, văn phòng tƣ vấn pháp luật nhằm tƣ
vấn, hỗ trợ về mặt pháp lý cho ngƣời dân, cộng đồng dân cƣ, và giúp ngƣời dân
giám sát việc thi hành pháp luật, khởi kiện đối với các hành vi vi phạm pháp luật về
17

môi trƣờng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân và
cộng đồng, dân cƣ.
Hiện nay, vấn đề môi trƣờng và ảnh hƣởng của nó để phát triển đang trở
thành thách thức cho Việt Nam. Ô nhiễm trên quy mô rộng, suy thoái cục bộ, khủng
hoảng môi trƣờng do quá trình phát triển, ƣu tiên cho tăng trƣởng kinh tế, coi nhẹ
bảo vệ môi trƣờng,… đang trở thành những rào cản lớn, hạn chế quyền phát triển,
quyền con ngƣời đối với môi trƣờng (cơ hội sinh kế, quyền đảm bảo cuộc sống,
quyền có sức khỏe, quyền an ninh môi trƣờng,…).
Một thời gian dài, vì ƣu tiên cho phát triển kinh tế nên việc bảo vệ môi
trƣờng (BVMT) đã có lúc bị xem nhẹ, là mục tiêu thứ yếu của các nhà lập pháp
cũng nhƣ hành pháp. Điều đó thể hiện qua việc đạo Luật Mẹ - Hiến pháp 1992[19],
chỉ có 3 lần nhắc đến vấn đề môi trƣờng; Luật BVMT của Việt Nam ban hành năm
1993 và 2005 cũng chƣa phát huy đƣợc tác dụng nhƣ mong muốn.
Bên cạnh việc hoàn thiện hơn các quy định về xử lý hành chính, truy cứu trách
nhiệm hình sự, cần nghiên cứu, bổ sung quy định trong Hiến pháp về công dân có
quyền đƣợc sống và bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành và an
toàn; Quyền và trách nhiệm đƣợc tham gia giám sát bảo vệ môi trƣờng; Quy định chi
tiết trong các văn bản luật và dƣới luật về quyền của công dân, các tổ chức, đoàn thể
đƣợc tham gia vào quá trình ban hành các quyết định, chính sách có liên quan tới môi
trƣờng và giám sát bảo vệ môi trƣờng;…

sức khỏe và chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát
triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập
kinh tế quốc tế.
- Bảo vệ môi trƣờng vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dụng cơ
bản của phát triển bền vững. Khắc phục tƣ tƣởng chỉ coi trọng phát triển kinh tế - xã
hội, coi nhẹ môi trƣờng.
19

- Bảo vệ môi trƣờng vừa là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia
đình và của mỗi ngƣời,…
- Bảo vệ môi trƣờng là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa
ngành, và liên vùng cao,… cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy
Đảng, sự quản lý của Nhà nƣớc, sự tham gia tích cực của mặt trận tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân.
Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2005,
nhận thức của cán bộ và nhân dân về bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc nâng cao hơn. Tuy
nhiên, trên thực tế, các giải pháp đề ra chƣa đạt đƣợc hiệu quả mong đợi, khiến
quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành của nhân dân bị xâm hại ở nhiều nơi,
nhiều lúc, có nơi ở mức độ nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến đời sống của một bộ
phận nhân dân và gây tác hại lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Nguyên nhân của tình trạng nói trên là: (i) Chƣa nhận thức đúng đắn về tầm
quan trọng của việc bảo vệ môi trƣờng, còn quan điểm chỉ chú trọng phát triển kinh
tế, coi nhẹ môi trƣờng; (ii) Công tác quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng còn
yếu kém, pháp luật về bảo vệ môi trƣờng chƣa hoàn thiện; (iii) Nguồn lực đầu tƣ
bảo vệ môi trƣờng còn nhỏ bé, dàn trải, chƣa hợp lý; (iv) Thực thi pháp luật bảo vệ
môi trƣờng chƣa nghiêm, chế tài chƣa phù hợp,…
Để khắc phục những yếu kém nói trên, bên cạnh tăng cƣờng công tác giáo
dục và nâng cao nhận thức có hệ thống về pháp luật bảo vệ môi trƣờng, và tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trƣờng trong toàn xã hội, cần sớm áp dụng tiếp cận quyền
trong bảo vệ môi trƣờng, đặc biệt ở cấp cơ sở.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status