Thực trạng giao tiếp của giáo viên với cha mẹ học sinh trường Tiểu học Khương Đình Thanh Xuân - Hà Nội - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THU THỰC TRẠNG GIAO TIẾP CỦA GIÁO VIÊN
VỚI CHA MẸ HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC
KHƢƠNG ĐÌNH THANH XUÂN - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC



THỰC TRẠNG GIAO TIẾP CỦA GIÁO VIÊN
VỚI CHA MẸ HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC
KHƢƠNG ĐÌNH THANH XUÂN - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 603180
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. VĂN THỊ KIM CÚC
HÀ NỘI - 2010
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

7
1.1.2. Ở Việt Nam
10
1.2. Một số vấn đề lý luận về giao tiếp và giao tiếp sƣ phạm 11
1.2.1. Giao tiếp 11
1.2.1.1. Các định nghĩa về giao tiếp:
11
1.2.1.2. Vai trò của giao tiếp:
13
1.2.1.3. Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp 14
1.2.1.4. Đặc trưng cơ bản của giao tiếp 17
1.2.1.5. Chức năng của giao tiếp 18
1.2.1.6. Phân loại giao tiếp 20
1.2.1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp 22
1.2.1.8. Các phương tiện giao tiếp 24
1.2.2. Giao tiếp sư phạm 26
1.2.2.1 . Khái niệm giao tiếp sư phạm 26
1.2.2.2. Nội dung tâm lý trong giao tiếp sư phạm 28
4
1.3.
Một số vấn đề lý luận về giao tiếp giữa giáo viên và cha mẹ học sinh tiểu học.
31
1.3.1 Học sinh Tiểu học
31
1.3.1.1 Khái niệm:
31
1.3.1.2 Một số đặc điểm lứa tuổi học sinh Tiểu học

42
Chƣơng 2:

TỔ CHỨC, TIẾN TRÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
43
2.1. Tổ chức, tiến trình và phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
43
2.1.1. Tổ chức nghiên cứu lý luận
43
2.1.2. Tiến trình nghiên cứu lý luận 43
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu lý luận 43
2.1.3.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản 43
2.1.3.2.Phương pháp chuyên gia 44
2.2. Tổ chức, tiến trình và phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
44
2.2.1. Tổ chức nghiên cứu thực tiễn
44
2.2.1.1. Chọn mẫu nghiên cứu
44
2.2.1.2. Tiến trình nghiên cứu thực tiễn
47
2.2.1.3. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
47
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 53
5
Chƣơng 3:


96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
97
KẾT LUẬN
97
KIẾN NGHỊ
99
TÀI LIỆU THAM KHẢO
100

2
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Xin đọc là
GV
Giáo viên
GVTH
Giáo viên tiểu học
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
HS
Học sinh
CMHS
Cha mẹ học sinh
GT
Giao tiếp
TLH


1. Tình cấp thiết của đề tài
Giao tiếp là một trong những phương thức tồn tại của xã hội loài người,
đồng thời là nhu cầu xã hội của mỗi cá nhân. Giao tiếp vừa là con đường để
mỗi người hoàn thiện nhân cách, vừa là điều kiện thiết yếu để con người hoạt
động.
Trong hoạt động giáo dục, người giáo viên phải tiếp xúc, xử lý rất
nhiều tính huống, phải giải quyết rất nhiều mối quan hệ đa dạng phong phú,
trong đó có mối quan hệ với cha, mẹ học sinh. Ví thế có kĩ năng giao tiếp,
giao tiếp đúng chuẩn mực, có văn hoá là nhân tố hết sức quan trọng để
người giáo viên hoàn thành nhiệm vụ gắn bó với công việc của mính.
Trẻ em là hạnh phúc của gia đính, là tương lai của đất nước, là lớp
người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trẻ em đóng vai trò
quan trọng trong sự phồn thịnh của nước nhà. Chình ví vậy, Đảng và Nhà
nước ta xác định: “ Chăm sóc và giáo dục tốt các em là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân” [ 15,tr.120]
Trẻ em phát triển trong không gian và thời gian nhất định, trong điều
kiện kinh tế xã hội cụ thể, các em chịu tác động của môi trường sống với đầy
đủ các mặt của nó. Gia đính và nhà trường là môi trường quan trọng đầu tiên
trong sự phát triển nhân cách của trẻ. Nhưng bản thân đứa trẻ không tự một
mính lớn lên giữa môi trường. Nó chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội khi
có vai trò trung gian của người lớn (cha, mẹ và các thầy cô giáo ). Nhờ có
sự hướng dẫn của người lớn mà những quá trính nhận thức, kĩ năng, kĩ xảo và
cả những nhu cầu xã hội của trẻ được hính thành. Trong quá trính lớn lên và
phát triển này, vai trò quan trọng đặc biệt thuộc về gia đính và các thầy cô
giáo, nhất là các thầy cô giáo của trường tiểu học.
Trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay, cha mẹ thường có ìt con, họ
lại là những người rất năng động, có trính độ văn hoá, có kinh tế khá. Họ càng
học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của sự giao tiếp giữa giáo viên và cha
mẹ học sinh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Phân tìch, tổng hợp và hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản
về giao tiếp và giao tiếp giữa giáo viên tiểu học với cha mẹ học sinh.
3.2. Nghiên cứu thực trạng giao tiếp của giáo viên trường tiểu học
Khương Đính với cha mẹ học sinh.
3.3 Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp của giáo viên
với cha mẹ học sinh trường Tiểu học Khương Đính.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Giao tiếp của giáo viên tiểu học với cha mẹ học sinh còn ở mức trung
bính. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này như do kinh nghiệm làm
công tác của người giáo viên; do sự tham gia vào quá trính giao tiếp của cha
mẹ học sinh, do ý thức tự rèn luyện của mỗi cá nhân, do chất lượng đào tạo
nghiệp vụ cho giáo viên tiểu học liên quan đến giao tiếp giữa giáo viên và
cha mẹ học sinh.
5. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giao tiếp và các yếu tố ảnh
hưởng đến giao tiếp của giáo viên tiểu học với cha mẹ học sinh.
5.2. Khách thể nghiên cứu:
- Giáo viên trường tiểu học Khương Đính.
- Cha mẹ học sinh trường tiểu học Khương Đính.
6. Giới hạn nghiên cứu của đề tài :
6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu trên toàn bộ các giáo viên chủ
nhiệm các lớp (18 giáo viên) và toàn bộ cha mẹ học sinh của trường (349 cha
mẹ học sinh) trường tiểu học Khương Đính Thanh Xuân - Hà Nội.
6.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Đề tài sẽ nghiên cứu tại trường tiểu học Khương Đính-Thanh Xuân - Hà Nội.


Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục. 7
Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giao tiếp dưới góc độ tâm lý học là một vấn đề đã được rất nhiều tác
giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và nghiên cứu dưới nhiều góc
độ khác nhau.
1.1.1. Trên thế giới:
Giao tiếp là một trong những hiện tượng tâm lý đặc trưng của con
người, nó xuất hiện cùng với sự ra đời của xã hội loài người. Nhưng việc
nghiên cứu về giao tiếp với tư cách là một phạm trù khoa học thí mới chỉ
được thực sự chú ý trong những năm gần đây. So với nhiều khoa học khác,
giao tiếp vẫn là một trong vấn đề mới của khoa học nói chung và khoa học
Tâm lý nói riêng. Từ trong lịch sử vấn đề giao tiếp đã được các nhà nghiên
cứu xem xét ở nhiều góc độ khác nhau.
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề giao tiếp chủ yếu được các nhà triết học
quan tâm. Hai nhà triết học cổ Hy Lạp Socrate (470-399, TCN) và Platon
(428-377) đã coi đối thoại như một sự giao tiếp có trì tuệ, phản ánh các mối
quan hệ xã hội của con người, là nơi bộc lộ của đời sống tâm hồn của con
người. Như vậy khả năng giao tiếp chình là năng lực phản ánh, năng lực trì
tuệ của con người. Tư tưởng này trong xã hội cổ đại mới chỉ tạo ra bước đầu
tiên của việc hiểu biết giao tiếp mà thôi, chưa có những nghiên cứu đi sâu vào
vấn đề giao tiếp để tím ra bản chất của nó, chưa thấy được giao tiếp có ý
nghĩa đìch thực trong ý thức xã hội.
Đến thế kỷ XIX, giao tiếp được đánh giá như một vấn đề có tầm quan

Các nhà hiện sinh Pháp như: J.Macsen(1869- 1973), J.P.Sactơrơ (1905-
1961) và Maniê (1905- 1950) cũng đã nghiên cứu vấn đề giao tiếp xuất phát
từ quan điểm của Bubơ, Maniê viết “Tôi chỉ tồn tại chừng nào tôi tồn tại cho
người khác”.
Đầu thế kỷ XX, nhà triết học Nga V.M.Becherep (1857-1927) trong tác
phẩm “Tâm lý học khách quan” (1907), “ Phản xạ học tập thể” (1921) đã đề
cập nhiều đến vấn đề giao tiếp, theo ông đó là ảnh hưởng tâm lý qua lại giữa
người này với người kia, giao tiếp giữ vai trò cơ chế thực hiện hoạt động cùng 9
nhau và hính thành nên chủ thể tập thể của hoạt động đó, giao tiếp là điều
kiện thực hiện việc giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
Trong những năm đầu thế kỷ XX, khoa học tâm lý đã bắt đầu chú ý
nghiên cứu vấn đề giao tiếp.
S.Freud (1856-1939) người sáng lập ra trường phái phân tâm học đã
nghiên cứu mối liên hệ giữa giao tiếp và giấc mơ, ông lưu ý đến các yếu tố
“chuyển giao”, “ngoại xuất ” và “đồng nhất” trong giao tiếp, khi giao tiếp có
người phát tìn hiệu, có người nhận thông tin và cả hai bên đều muốn tím hiểu
nhau, làm theo nhau
Các nhà Tâm lý học Ghestan như M.Wertheimer (1880-1943),
V.Kohler (1887-1967) cho rằng: giao tiếp cũng giống như mọi sự vật, mọi
hiện tượng tâm lý, đều được tạo nên những hính ảnh có cấu trúc hoàn chỉnh,
mang tình trọn vẹn, trong cấu trúc giao tiếp có nội dung hoạt động của con
người và mục đìch của các quan hệ xã hội là nhằm bảo tồn, phát triển bản
thân gia đính, cộng đồng của con người đó ( dẫn theo 2, tr.12].
Giữa thế kỷ XX, một loạt các tác phẩm mới ra đời mở đầu cho sự hính
thành một số chuyên ngành khoa học chẳng hạn, nhà bác học Mỹ N.Vinôngơ
với tác phẩm “ Điều khiển học” (1948); cuốn “ Lý thuyết toán học của quá

sự phát triển nhân cách của cá nhân và của xã hội loài người. Các công trính
nghiên cứu giao tiếp không chỉ dừng lại ở những nghiên cứu lý luận chung mà
còn đi sâu vào nghiên cứu giao tiếp theo đặc trưng nghề nghiệp, lứa tuổi để
ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp cũng chỉ được các nhà nghiên cứu chú ý
bắt đầu từ cuối những năm 70. Nghiên cứu giao tiếp phát triển mạnh mẽ và đi
theo nhiều xu hướng khác nhau, bao gồm cả những công trính nghiên cứu lý
luận và nghiên cứu thực tiễn. Một số công trính của các tác giả như: PGS
Trần Trọng Thuỷ: “Giao tiếp – Tâm lý – Nhân cách ” (1981); “Đặc điểm giao
tiếp của sinh viên ” (1985); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp sư phạm ”(1992); Bùi
Văn Huệ với “Bàn về phạm trù giao tiếp ” 11
Một số công trính nghiên cứu của nghiên cứu sinh, sinh viên và các báo
cáo khoa học về giao tiếp, kĩ năng giao tiếp như: luận án PTS tâm lý học
Nguyễn Thanh Bính (1996), Nghiên cứu một số trở ngại trong giao tiếp của
sinh viên với học sinh thực tập tốt nghiệp(Nguyễn Thanh Bính (1996), ĐHQG
; Luận án TS tâm lý học “Vấn đề giao tiếp của bác sỹ quân y với người bệnh
trong quá trình khám và chữa bệnh” (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2000, Học viện
chình trị Quân Sự)
Từ những công trính đã dẫn ra ở trên, có thể thấy rằng vấn đề giao tiếp
được rất nhiều tác giả ở trong nước và ở nước ngoài quan tâm.
Tuy nhiên việc nghiên cứu giao tiếp trong một loại hính hoạt động cụ
thể như giao tiếp của giáo viên tiểu học với cha mẹ học sinh cho đến nay chưa
có công trính nghiên cứu nào. Ví vậy, việc nghiên cứu đề tài này là rất cần
thiết; nó giúp ìch cho giáo viên tiểu học nắm được tốt hơn đặc điểm, tâm lý
của từng học sinh, thông qua các bậc CMHS để có những giải pháp dạy học,
giáo dục thìch hợp đối với từng trường hợp cụ thể.

ngôn ngữ.
Giao tiếp được biểu hiện như là hính thức đặc biệt của hoạt động con
người, giao tiếp và hoạt động là hai mặt của sự tồn tại con người. Hoạt động
diễn ra trên nền của giao tiếp và giao tiếp thực hiện một hoạt động nhất định.
+ Parghin định nghĩa: Giao tiếp là một quá trính quan hệ tác động giữa các cá
thể, là quá trính thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trính
hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau.
Tóm lại, hiện nay còn tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao
tiếp, điều đó chứng tỏ giao tiếp là một hiện tượng phức tạp. Các tác giả có thể
trính bày theo các cách không giống nhau, với việc sử dụng từ ngữ khác nhau,
nhưng qua các ý kiến của các tác giả, chúng ta thấy khái niệm giao tiếp bao
hàm các nội dung sau:
- Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù chỉ có ở con người, trong đó diễn
ra sự tiếp xúc tâm lý (trao đổi thông tin, tính cảm, tác động ảnh hưởng lẫn
nhau) giữa chủ thể và chủ thể. Mỗi người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của
quá trính đó. 13
- Trong giao tiếp, con người ý thức được mục đìch, nội dung cần đạt
được và ý thức được các phương tiện (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) cần sử dụng
khi tiếp xúc với người khác.
- Kết quả của giao tiếp có thể là sự hiểu biết lẫn nhau, sự thống nhất với
nhau về tư tưởng, tính cảm, ý chì, hành động giữa các cá nhân, nhờ đó mà
hính thành và vận hành các mối quan hệ xã hội của con người.
- Giao tiếp mang tình xã hội -lịch sử, giao tiếp chịu sự chi phối của các
điều kiện xã hội, các quan hệ kinh tế, chình trị, văn hoá của xã hội.
Dựa trên những luận điểm trên và căn cứ vào tình đặc thù trong giao
tiếp của giáo viên tiểu học với cha mẹ học sinh và mục đìch nghiên cứu của
mính, trong đề tài này chúng tôi tán thành khái niệm giao tiếp của tác giả

Giao tiếp người - người thí cả hai đều là chủ thể giao tiếp và đều là đối
tượng giao tiếp, vai trò này được chuyển đổi linh hoạt thường xuyên trong
quá trính giao tiếp. Họ không chỉ là người nói và người nghe ví mọi giác quan
đều tham gia vào quá trính này, từ dáng điệu, cử chỉ, ánh mắt, vẻ mặt, thậm
chì cả mùi nước hoa…
* Mục đích giao tiếp
Nhằm thoả mãn nhu cầu nào - nhu cầu trao đổi thông tin, nhu cầu chia
sẻ tính cảm, nhu cầu tiếp xúc giải trì, nhu cầu được khẳng định trước người
khác…
*Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếp
với người khác.
Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trính giao tiếp thể hiện ở thông
tin cần truyền đạt. Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản
ánh được đúng nội dung cần truyền đạt, cũng như đến được người thu với kết
quả cao nhất. Đối với các chủ thể giao tiếp, thông tin có thể đã biết hoặc chưa
biết, muốn biết hoặc không muốn biết. Nội dung thông tin có thể đem lại điều
tốt lành hoặc gây thất thiệt hoặc chỉ đơn giản là một điều thông báo…
Trong nội dung giao tiếp người ta thường chia ra hai loại: nội dung tâm
lý và nội dung công việc. 15
+ Nội dung tâm lý
- Nội dung tâm lý trong giao tiếp bao gồm các thành phần cơ bản là
nhận thức, thái độ xúc cảm và hành vi.
- Ở bất kỳ một cuộc giao tiếp nào giữa con người với con người đều để
lại trong chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định về nhận
thức. Nội dung nhận thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động.
Thông qua giao tiếp để người ta trao đổi vốn kinh nghiệm, tranh luận về quan

công việc thực hiện tốt hay không tốt được các nội dung tâm lý hướng dẫn,
kìch thìch như là động lực thúc đẩy hoặc kím hãm trực tiếp. Giao tiếp trong
công việc bao giờ cũng mang tình chất hoàn cảnh, tính huống, xảy ra trong
thời gian ngắn, nhưng chình thái độ và hành vi ứng xử của chủ thể và đối
tượng giao tiếp ở những tính huống này chứa đựng một bản chất thực vốn có
của mọi người.
Như vậy, nội dung giao tiếp có thể luôn được thể hiện ở bất kỳ một quá
trính giao tiếp nào, đó là một trong những đặc trưng của giao tiếp.
Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp, giới
tình… của các chủ thể giao tiếp. Ngoài ra nó cũng chịu ảnh hưởng của hoàn
cảnh, điều kiện giao tiếp cũng như trạng thái tâm lý của chủ thể.
*Phương tiện giao tiếp
Được thể hiện thông qua các hệ thống tìn hiệu giao tiếp ngôn ngữ (gồm
tiếng nói và chữ viết) và giao tiếp phi ngôn ngữ (nét mặt, giọng nói, cử chỉ, tư
thế…)
* Hoàn cảnh giao tiếp
Là bối cảnh trong đó diễn ra quá trính giao tiếp, bao gồm cả khìa
cạnh vật chất và khìa cạnh xã hội.
Khìa cạnh vật chất thì dụ như địa điểm, kìch thước không gian gặp gỡ,
số người hiện diện, khì hậu, ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc đồ vật xung quanh…
Đây là những khìa cạnh nằm bên ngoài các đối tượng đang giao tiếp.
Khìa cạnh xã hội vì dụ như mục đìch giao tiếp, quan hệ giao tiếp. 17
* Kênh giao tiếp
Là đường liên lạc giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp. Ví vậy phải tổ
chức sao cho quá trính giao tiếp đạt được hiệu quả nhất. Thì dụ: Kênh giao
tiếp là thị giác thí cần phải cấu trúc bài viết ra sao và làm thế nào để đối tượng
giao tiếp nhín thấy rõ các chữ viết…

Giao tiếp bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng
tạo những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm
lưu giữ, gín giữ những dấu ấn về tư tưởng, tính cảm, vốn sống kinh nghiệm
của con người. Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đối với cá
nhân, nhóm xã hội, dân tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, văn minh của
các thời đại.
1.2.1.5. Chức năng của giao tiếp
Có rất nhiều cách phân chia và nhiều quan điểm khác nhau về chức
năng của giao tiếp.
* Theo tác giả Trần Hiệp, chức năng cơ bản của giao tiếp bao gồm:
- Chức năng thông tin liên lạc
Chức năng này bao quát tất cả các quá trính truyền và nhận thông tin.
Với tư cách là một quá trính truyền tìn hiệu, chức năng này có cả ở người và
động vật. Tuy nhiên, con người khác con vật ở chỗ có hệ thống tìn hiệu thứ
hai, quá trính truyền tin được phát huy đến tối đa tác dụng của nó và kết quả
là con người có khả năng truyền đi bất cứ thông tin, tìn hiệu gí mính muốn.
Chức năng này thể hiện ở cả chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp, nhằm
thoả mãn nhu cầu nào đó như nhu cầu truyền tin, nhu cầu tính cảm, nhu cầu
tiếp xúc, giải trì… Nhưng cũng chình ví con người có hệ thống tìn hiệu thứ
hai, có ý thức, có trì tuệ phát triển hơn so với các động vật khác mà hiệu quả
của quá trính này có thể được tăng lên hay giảm đi.
- Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi.
Thông qua giao tiếp, cá nhân không chỉ có khả năng điều chỉnh hành
vi của mính mà cần có thể điều chỉnh hành vi của người khác. Chức năng này
chỉ có ở người với sự tham gia của quá trính nhận thức, của ý chì và tính cảm. 19
Khi tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhau, các chủ thể giao tiếp đó hoặc đang ý
thức được mục đìch, nội dung giao tiếp, thậm chì cũng có thể dự đoán được

tổ chức tạo thành xã hội.
- Nhóm các chức năng tâm lý - xã hội là các chức năng giao tiếp phục
vụ các nhu cầu của từng thành viên xã hội với người khác. Tránh cho người
khác rơi vào tính trạng cô đơn, một trạng thái nặng nề khủng khiếp, nhiều khi
dẫn đến bệnh tật hoặc sự tự sát.
* Theo tác giả Ngô Công Hoàn nếu coi giao tiếp là một phạm trù của
Tâm lý học hiện đại thì bản thân quá trình giao tiếp thực hiện các chức năng:
- Chức năng định hướng hoạt động của con người.
- Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người.
Các quan điểm trên xuất phát từ những quan điểm khác nhau, những
hướng nghiên cứu khác nhau nên cũng có những điểm khác nhau. Song tựu
trung lại các quan điểm trên đều đó nêu ra được các chức năng cơ bản của
giao tiếp theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
1.2.1.6. Phân loại giao tiếp
Từ mỗi hướng nghiên cứu giao tiếp khác nhau, người ta có những
cách phân loại giao tiếp khác nhau.
* Theo tác giả Trần Thị Minh Đức
Giao tiếp được phân chia như sau:
a. Căn cứ vào khoảng cách của đối tượng và chủ thể trong quá trình
giao tiếp
- Giao tiếp trực tiếp: là quá trính giao tiếp xảy ra tại một thời điểm có mặt
hai hay nhiều người trực tiếp phát và nhận tìn hiệu từ người này tới người kia
- Giao tiếp gián tiếp: Là loại giao tiếp mà đối tượng giao tiếp không có
mặt ở thời điểm cần tiếp xúc (vắng mặt). Nói cách khác là quá trính giao tiếp
được thực hiện qua các phương tiện trung gian như điện thoại, thư tìn, sách
báo, tivi…
b. Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ hoạt động và các thể thức khác
được thể chế hóa ( nội dung, quy chế, pháp lệnh, pháp luật ….) có các loại:

Trích đoạn Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp Các phương tiện giao tiếp 1 Khái niệm giao tiếp sư phạm Phân tích thực trạng các hình thức, thái độ giao tiếp và giọngnói của G Mức độ tham gia giao tiếp không chính thức của cha mẹ học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status