Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường - TS. Nguyễn Đức Thùy (chủ biên) - Pdf 14

Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
Tài liệu Tập huấn
INTERNATIONAL UNION FOR CONSERVATION OF NATURE

UNDEF
The United Nations
Democracy Fund
Cánh đồng cỏ năn được phục hồi ở Vườn Quốc Gia Tràm Chim - mùa khô 2006@MWBP
Việc xác định các thực thể địa lý trong
ấn phẩm này và cách trình bày các số
liệu không phản ánh bất cứ quan điểm
nào của IUCN, Quỹ Dân chủ Liên Hợp
Quốc, hay Viện Nghiên cứu Quyền con
người (Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh) về tư cách pháp
lý của bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ
hay khu vực, hoặc thẩm quyền, hoặc
quan điểm về phân định ranh giới hay
biên giới của các quốc gia, lãnh thổ
hay khu vực đó.
Các quan điểm trình bày trong ấn
phẩm này không nhất thiết phản ánh
các quan điểm của IUCN, Quỹ Dân chủ
Liên Hợp Quốc, hay Viện Nghiên cứu
Quyền con người (Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh).
Đây là tài liệu tập huấn cho các giảng
viên trường chính trị về tiếp cận
quyền trong bảo vệ môi trường được
thực hiện trong năm 2011 và 2012.
Tài liệu này được hoàn thiện trong

quản trị nhà nước về môi trường, Hà
Nội, Việt Nam: IUCN. 114 trang.
ISBN: 978-2-8317-1504-9
Ảnh bìa: IUCN Việt Nam
Dàn trang: Công ty CP in La Bàn
Cơ quan xuất bản: Văn phòng IUCN
Việt Nam
Số đăng ký xuất bản:
1261-2012/CXB/03-81/TN
In 2.500 khổ A4 tại Công ty CP in La Bàn
Cơ quan tài trợ: Quỹ dân chủ Liên
Hợp Quốc (UNDEF)
Nơi cung cấp: IUCN
Văn phòng tại Việt Nam
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
Tầng 1, nhà 2A, Khu ngoại giao đoàn
Vạn Phúc
298 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội
IPO Box 60
ĐT: ++844-37261575/6
Fax: ++844-37261561
E-mail:
Web: www.iucn.org/vietnam
UNDEF
The United Nations
Democracy Fund
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
Tài liệu Tập huấn
Chủ biên
TS. NGUYỄN ĐỨC THÙY

I. Tổng quan về các tổ chức xã hội (TCXH) ở Việt Nam 68
II. Vai trò của các TCXH trong giám sát bảo vệ môi trường 77
III.Tăng cường vai trò và sự tham gia của các TCXH trong GSBVMT 91
Chuyên đề 5: BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN, QUYỀN THAM GIA VÀ TIẾP CẬN
TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 99
I. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về môi trường ở Việt Nam 101
II. Bảo đảm quyền tham gia của người dân vào các hoạt động BVMT ở Việt Nam 104
III.Bảo đảm quyền tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường ở Việt Nam 107

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Tập tài liệu này, nhóm tác giả xin chân thành cám ơn sự cộng tác, giúp đỡ và hỗ
trợ của cán bộ, chuyên gia của Tổ chức Bảo tồn Thiên Nhiên Quốc tế tại Việt Nam (IUCN), đặc biệt
phải kể đến ông Jake Brunner (Điều phối viên Chương trình), bà Nguyễn Thùy Anh (Cán bộ Truyền
thông), bà Lê Thị Thanh Thủy (Trợ lý Chương trình) đã có nhiều ý kiến góp ý về nội dung và kỹ thuật
trong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện Tài liệu.
Nhóm tác giả cũng xin chân thành cám ơn sự cộng tác của bà Partricia Parkinson, Chuyên gia tư vấn
pháp luật môi trường của Tổ chức Phát triển Luật Quốc tế (IDLO) thuộc Trung tâm Khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương, Australia, ông Vaclav Prusa, Cán bộ Giám sát và Đánh giá Dự án của Chương trình
Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP); một số chuyên gia, nhà quản lý thuộc Trung tâm Giáo dục Thiên
nhiên (ENV); Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường (VACNE); Viện Môi trường và Phát triển Bền vững
(IESD); Viện Tư vấn và Phát triển (CODE); Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature); Viện Kinh
tế - Sinh thái (ECO-ECO); Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR).
Cuối cùng, nhóm tác giả xin chân thành cám ơn các đại biểu đại diện cho một số cơ quan, ban,
ngành, tổ chức chính trị xã hội ở Trung ương và địa phương có liên quan tới công tác bảo vệ môi
trường; đại biểu đại diện cho một số Viện, Khoa có liên quan của Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Khu vực và một số trường Chính trị tỉnh, thành phố đã tham dự
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Tập tài liệu tại bốn khóa tập huấn thí điểm “Tiếp cận Quyền
con người trong Bảo vệ Môi trường” được tổ chức tại Hà Nội, Hòa Bình, Hải Phòng và Cần Thơ trong
năm 2010 và 2011.
CÁC CHỮ VIẾT TẮT

suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
- AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra,
thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các
ung thư và có thể dẫn đến tử vong
HCM Hồ Chí Minh
IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
KCN Khu công nghiệp
KHCN Khoa học công nghệ
KTXH Kinh tế xã hội
LHQ Liên Hợp Quốc
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NGO Tổ chức phi chính phủ
PanNature Trung tâm Con người và Thiên nhiên
PTBV Phát triển bền vững
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TAI Sáng kiến về quyền tiếp cận môi trường
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCTT Tiếp cận thông tin
TCXH Tổ chức xã hội
TNCSHCM Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Chương trình Môi trường LHQ
VASS Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VPO Tổ chức tư nhân tự nguyện
VQG Vườn quốc gia
VRN Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam
VUSTA Liên hiệp các Tổ chức Khoa học và Kỹ thuật

Chuyên đề này nhằm cung cấp cho người học nhận thấy được bức tranh tổng thể về hiện trạng
môi trường và những thách thức của môi trường ở Việt Nam hiện nay; thấy được tác động của suy
thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường đến cuộc sống, sức khỏe của người dân và ảnh hưởng đến sự
phát triển bền vững của đất nước. Đồng thời thấy được những nỗ lực của Chính phủ trong việc giải
quyết các vấn đề tài nguyên và môi trường theo hướng phát triển bền vững.
Chuyên đề 2. Mối quan hệ giữa môi trường và quyền con người
Chuyên đề này nhằm cung cấp cho người học nhận biết được mối quan hệ chặt chẽ giữa môi
trường và quyền con người. Thấy được vấn đề môi trường chính là vấn đề của quyền con người. Do
vậy, bảo vệ tốt môi trường sẽ là điều kiện để thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt
các quyền con người sẽ có tác động tốt đến BVMT. Vì vậy, cần có hướng tiếp cận lồng ghép quyền
con người trong BVMT.
Chuyên đề 3. Pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền con người đối với môi trường
Chuyên đề này được xây dựng nhằm cung cấp cho người học biết được những nội dung, tiêu
chuẩn quốc tế và các quy định pháp luật quốc gia về các quyền con người có liên quan/tác động
bởi môi trường; thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc thực thi các
công ước, điều ước quốc tế về môi trường và quyền con người; nhận thấy được những khó khăn,
thách thức trong việc thực thi chính sách, pháp luật có liên quan giữa BVMT và quyền con người ở
Việt Nam hiện nay.
Chuyên đề 4. Vai trò của các tổ chức xã hội trong giám sát BVMT
Chuyên đề này nhằm cung cấp cho người học thấy được trách nhiệm BVMT không chỉ thuộc các
cơ quan nhà nước, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Trong đó thấy được vai trò và tầm quan
trọng ngày càng gia tăng của các tổ chức xã hội bao gồm các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp;
các đoàn thể quần chúng và cộng đồng đang đóng góp tích cực và có hiệu quả trong việc giám sát,
thực thi chính sách, pháp luật về BVMT ở Việt Nam hiện nay.
Chuyên đề 5. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia và tiếp cận tư pháp trong
lĩnh vực môi trường ở Việt Nam
Chuyên đề này nhằm cũng cấp cho người học thấy được tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền
tiếp cận thông tin về môi trường; quyền tham gia của người dân trong giám sát BVMT, trong hoạch
định, xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan về môi trường; đồng thời hiểu được quy trình, thủ
tục trong khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Ba quyền này được xếp là

Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
NỘI DUNG CƠ BẢN
I. Mối quan hệ giữa môi trường với phát triển bền vững ở Việt Nam
1. Khái niệm, nội dung, nguyên tắc phát triển bền vững
2. Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)
II. Những thách thức về tài nguyên, môi trường và sự tác động của suy thoái tài
nguyên, ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay
1. Mất rừng và nguyên nhân suy thoái rừng
2. Suy thoái đất đai và mất đất nông nghiệp
3. Ô nhiễm không khí ở khu đô thị và khu công nghiệp
4. Ô nhiễm do chất thải rắn
5. Thiếu nước và ô nhiễm nước
6. Tác động của suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường
III. Nỗ lực của Chính phủ trong giải quyết những vấn đề tài nguyên và môi trường
1. Xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật đồng bộ để giải quyết những vấn đề tài nguyên và
môi trường
2. Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan để phục hồi tài nguyên
3
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
A. PHẦN KHỞI ĐỘNG
Câu hỏi:
1. Anh/chị hãy cho một số ví dụ về những thảm họa ô nhiễm môi trường lớn ở Việt Nam hiện nay?
2. Anh/chị hãy cho biết những nguyên nhân chính của suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường
ở nước ta?
3. Theo anh/chị môi trường có tác động/ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển bền vững ở
Việt Nam hiện nay?
B. NỘI DUNG BÀI GIẢNG
I. Mối quan hệ giữa môi trường với phát triển bền vững ở Việt Nam
1. Khái niệm, nội dung và nguyên tắc phát triển bền vững
Thuật ngữ Phát triển bền vững (PTBV – Sustainable Development) lần đầu tiên được sử dụng trong

BVMT là cơ sở có tính quyết định cho mô hình phát triển bền vững, một nhiệm vụ quan trọng
cấp thiết. Con người luôn cần có môi trường sống tức là không gian sống, bao gồm các yếu tố tự
nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có tác động trực tiếp đến đời sống, sản xuất,
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Môi trường cho ta không khí để thở, đất để xây
dựng, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên, khoáng sản cần thiết cho
sản xuất và tiêu dùng. Với các chức năng của mình, môi trường có vai trò nền tảng quyết định đối
với cuộc sống của con người và sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của mọi quốc gia trên
trái đất. Sự suy thoái tài nguyên, ô nhiễm và thảm họa môi trường ngày nay tác động tiêu cực trực
tiếp đến sản xuất và đời sống của hàng triệu người, hạn chế, thậm chí gây tổn thất lớn về kinh tế,
đồng thời kéo theo nhiều thiên tai, dịch bệnh, sự bất ổn định xã hội Chính vì vậy, cân bằng giữa
yêu cầu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu BVMT là cơ sở đầu tiên để bảo đảm phát triển bền vững.
Đó là yêu cầu cấp thiết của phát triển bền vững, cũng là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay ở nước ta.
Nguyên tắc phát triển bền vững
Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio, các nhà hoạt động kinh tế, xã hội,
môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm PTBV; coi đó là trách nhiệm
chung của các quốc gia, của toàn nhân loại; đồng thuận thông qua Tuyên bố Rio gồm 27 nguyên
tắc cơ bản về PTBV và CTNS 21 về xác định các hành động cho sự PTBV của toàn thế giới trong
thế kỷ thứ 21.
Mục tiêu của phát triển bền vững
Phát triển bền vững không chỉ là một chiến lược, một lối sống, một quan niệm đạo đức mà là một
quá trình hoà nhập sự phát triển mọi mặt của con người, xã hội loài người với thiên nhiên. Tại Hội
nghị Thượng đỉnh năm 2000, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ/PTBV cũng đã đạt đuợc sự nhất
5
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
trí với 8 mục tiêu sẽ đuợc thực hiện vào trước năm 2015 là: i) Xoá tình trạng nghèo đói cùng cực; ii)
Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học; iii) Khuyến khích bình đẳng giới và nâng cao địa vị của phụ
nữ; iv) Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; v) Nâng cao sức khoẻ sinh sản; vi) Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét
và các bệnh khác; viii) Bảo đảm bền vững về môi truờng; và ix) Phát triển quan hệ đối tác toàn cầu
phục vụ hoạt động phát triển.
2. Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam (Chương trình nghị sự 21

môi trường. Phải phát triển bền vững về kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng trưởng
kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không
ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng
bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển bền vững là cơ sở
6
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh
và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh
tế - xã hội
(1)
.
Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa,
sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên;
phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã
hội và BVMT.
Mục tiêu cụ thể BVMT trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 được ghi rõ là cải thiện
chất lượng môi trường:
- Đến 2020, tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%;
- Hầu hết dân cư được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh;
- Các cơ sở kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc thiết bị giảm ô
nhiễm, xử lý chất thải, 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh cũ đạt tiêu chuẩn về môi trường;
- Các đô thị loại 4 trở lên, các khu chế xuất, khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải
tập trung;
- 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế được xử lý đạt
tiêu chuẩn;
- Cải thiện và phục hồi các khu vực bị ô nhiễm nặng;
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng.
b) Tám nguyên tắc chính cho phát triển bền vững của Việt Nam
- Con người là trung tâm của phát triển bền vững;

thiện với môi trường, tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công
nghiệp xanh”;
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Trong khi phát triển sản xuất theo yêu cầu
của thị trường, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm đồng thời vẫn bảo tồn và phát triển các
nguồn tài nguyên như: đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học;
- PTBV vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương PTBV.
5 lĩnh vực ưu tiên trong phát triển xã hội bao gồm:
- Tập trung nỗ lực để xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm, tạo lập cơ hội bình đẳng để mọi
người được tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, chính trị, phát triển kinh tế và BVMT;
- Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân số đối với các lĩnh
vực tạo việc làm, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, và
BVMT;
- Định hướng quá trình đô thị hóa và di dân nhằm PTBV các đô thị, phân bố hợp lý dân cư và
lực lượng lao động theo vùng, bảo đảm sự phát triển kinh tế, xã hội và BVMT bền vững ở các
địa phương;
- Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu
cầu của sự nghiệp phát triển đất nước;
- Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe nhân
dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống.
9 lĩnh vực ưu tiên trong sử dụng tài nguyên & BVMT bao gồm:
- Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất;
- BVMT nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước;
- Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản;
8
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
- BVMT biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển;
- Bảo vệ và phát triển rừng;
- Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp;
- Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại;
- Bảo tồn đa dạng sinh học;

(2)
.
2. Suy thoái đất đai và mất đất nông nghiệp
a) Thực trạng tài nguyên đất đai và thoái hóa đất
Việt Nam có gần 25 triệu ha đất dốc (76% diện tích đất tự nhiên) với nhiều hạn chế cho sản xuất
nông nghiệp, trong đó có hơn 12,5 triệu ha đất xấu và trên 50% diện tích đồng bằng là “đất có vấn
đề”, bao gồm 0,82 triệu ha đất phèn, 0,54 triệu ha đất cát, 2,06 triệu ha đất xám bạc màu, 0,5 triệu ha
đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá, 0,24 triệu đất ngập mặn, 0,47 ha đất lầy úng, 8,5 triệu ha đất có tầng
mặt mỏng ở vùng đồi núi. Các loại đất có nhiều hạn chế nói trên chiếm 14,13 triệu ha hay 42,8%
đất tự nhiên cả nước.
Thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng đất rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi cân
bằng sinh thái đã bị phá vỡ nghiêm trọng do không có rừng che phủ. Mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa
trên quy mô diện tích hàng triệu ha vùng đồng bằng cũng là nguyên nhân chủ yếu làm ngừng trệ
khả năng sản xuất của đất. Tại nhiều vùng, sự suy thoái đất còn kéo theo cả suy thoái về hệ thực vật,
động vật, môi trường địa phương và đồng thời làm cho diện tích đất nông nghiệp trên đầu người
giảm xuống đến mức báo động. Ngoài ra, sự cố nứt đất và trượt lở đất cũng xảy ra ngày một nghiêm
trọng hơn tại Tây Bắc và miền Trung với tốc độ ngày càng gia tăng.
Sa mạc hóa ở Việt Nam cũng khá nghiêm trọng, tập trung chủ yếu ở các dải cát hẹp trải dọc theo bờ
biển miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận với diện tích khoảng 419.000
ha và ở đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha. Trong gần 40 năm qua, quá trình hoang
mạc hoá do cát di động rất nghiêm trọng, đặc biệt ở các vùng có thời tiết đặc biệt khô nóng vào
mùa khô, lượng mưa trung bình hàng năm thấp, như ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.
Tác động của việc thoái hóa đất và giảm diện tích đất canh tác làm cho nước ta đang đứng trước
những thử thách lớn phải giải quyết nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường đất, nhằm bảo đảm
sự an toàn lương thực và sự tồn tại của cả dân tộc với gần 100 triệu dân vào những năm 2010.
b) Chuyển đổi sử dụng đất góp phần làm tăng suy thoái đất đai
Công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai hàng năm, 5 năm và 10 năm là cơ sở pháp lý để các cơ quan
quản lý nguồn tài nguyên đất, tạo điều kiện cho vùng nông thôn thành lập các mô hình kinh tế,
xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần khôi phục bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, diễn biến
sử dụng đất còn nhiều bất cập, đặc biệt trong phát triển các khu công nghiệp, sử dụng đất nông

(4)
. Do chưa có những hướng dẫn cụ thể nên trên thực tế chính sách này của Chính
phủ cũng gây ra nhiều vấn đề bất cập, và nhiều khu rừng tốt có thể cũng bị phá hủy. Hơn nữa, việc
phát triển cà phê mạnh mẽ ở Tây Nguyên đòi hỏi một lượng nước tưới cho mùa khô, làm suy giảm
lượng nước ngầm ở đây. Nếu kế hoạch chuyển đổi một diện tích lớn rừng tự nhiên, mà chủ yếu là
rừng khộp, là loại rừng thích nghi với điều kiện khô hạn 6 tháng mùa khô, thành rừng cao su thì tình
trạng suy kiệt nước ngầm của vùng này chắc chắn sẽ trầm trọng hơn.
- Xây dựng các sân gôn cho hoạt động du lịch và phát triển kinh tế
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2008, hiện cả nước có 141 sân gôn ở 39 tỉnh, với
49.268 ha đất, trong đó có 2.625 ha là đất lúa đã bị trưng dụng, chuyển đổi mục đích. Nếu như trong
suốt 16 năm, Thủ tướng chỉ cấp phép cho 34 dự án sân gôn thì chưa đầy hai năm (2006 - 2008), các
địa phương sau khi phân cấp đã cấp phép cho 104 dự án, tập trung nhiều nhất ở Nam Trung bộ (27
sân), đồng bằng Bắc bộ (25 sân).
Sự phát triển mạnh mẽ các khu sân gôn đã gây ra nhiều vấn đề môi trường và xã hội. Về khía cạnh
môi trường, việc duy trì hoạt động của sân gôn cần dùng đến một lượng hóa chất khá lớn khoảng
1,5 tấn/năm, (gấp ba lần sử dụng cho nông nghiệp) để trừ sâu bệnh, nấm mốc cho các thảm cỏ và
tiêu thụ mỗi ngày 10.000m3 nước cho sân gôn 36 lỗ là nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm nước
cho các thủy vực và sử dụng thái quá tài nguyên nước. Về mặt xã hội, việc chuyển đổi hàng ngàn
3
MPI, 2005a: trang 51.
4
Theo Báo Lao động Online ngày 09/08/2008 và Báo Tuổi Trẻ Online ngày 09/05/2008.
11
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
ha đất nông nghiệp và lâm nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, cho việc xây dựng các dự án sân gôn
cũng làm cho nhiều nông dân mất đất sản xuất, tăng tỷ lệ thất nghiệp ở những nơi thực hiện dự án.
c) Suy giảm diện tích đất nông nghiệp
Ở Việt Nam, tuy đất nông nghiệp chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên, nhưng thời gian gần đây diện
tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, đã giảm đi nhanh chóng với mức độ đáng lo ngại.
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007, diện tích đất trồng lúa đã giảm 361.935 ha (bình quân

nghiệp, tuy được cung cấp các trang thiết bị xử lý chất thải, nhưng với nguồn thải lớn và tập trung
nên quản lý môi trường các khu công nghiệp không tốt sẽ tác động xấu đến môi trường của các
khu dân cư xung quanh. Thứ tự các ngành công nghiệp gây ra ô nhiễm không khí là: nhiệt điện,
sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, khai thác mỏ, công nghiệp hóa chất, công nghiệp phân bón,
luyện kim, giấy, đường, thực phẩm và các ngành công nghiệp khác.
12
Tiếp cận Quyền trong Bảo vệ Môi trường
Các hoạt động giao thông vận tải, chủ yếu do các loại xe máy và ô tô, đã trở thành một nguồn gây
ô nhiễm không khí chính ở các đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, Đà Nẵng. Nạn tắc nghẽn giao thông trong những năm gần đây ở các đô thị này cũng
làm cho ô nhiễm không khí trong đô thị trở nên trầm trọng hơn.
Các hoạt động xây dựng nhà cửa, cầu cống, đường sá diễn ra rất mạnh mẽ ở khắp nơi, đặc biệt là ở
các khu đô thị. Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng
bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi trầm trọng đối với môi trường không
khí xung quanh. Kết quả đo lường thực tế cho thấy khoảng 60 - 70% lượng bụi trong không khí đô
thị là bụi sinh ra từ hoạt động xây dựng.
Mức ô nhiễm về bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đặc biệt
là tại một số thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, vượt tiêu chuẩn cho phép đến 2-3 lần.
4. Ô nhiễm do chất thải rắn
Chất thải rắn được sinh ra trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động đời sống của con
người, từ 0,8 đến 1,2 kg/người/ngày ở đô thị lớn, 0,5 - 0,7 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ. Mỗi năm
có khoảng 15 triệu tấn chất thải rắn được tạo ra, 80% trong số đó là từ các hộ gia đình, nhà hàng,
chợ và khu thương mại. 12.8 triệu tấn chất thải rắn trong nước, trong đó 6.9 triệu tấn từ các khu vực
thành thị được thải ra mỗi năm. Tổng chất thải rắn từ các khu công nghiệp khoảng 2,7 triệu tấn mỗi
năm. Khoảng 160.000 tấn (chiếm khoảng 1% tổng số) mỗi năm là chất thải rắn nguy hại. 77% lượng
chất thải rắn ở các khu đô thị Việt Nam không được xử lý đúng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường. Nhiều
bãi rác và bãi đổ phế thải hiện được coi là mối nguy hiểm về tác động môi trường cho người dân
xung quanh. Chỉ 17 trong số 91 bãi đổ rác tại các đô thị Việt Nam đạt tiêu chuẩn vệ sinh.
Môi trường công nghiệp, nhất là ở các khu công nghiệp cũ, các ngành hóa chất, luyện kim, xi măng,
chế biến đang bị ô nhiễm do chất thải rắn, nước thải, khí thải và các chất thải nguy hại chưa được xử

tính 60 tỷ m³ mỗi năm, nhưng dao động từ mức rất nhiều ở vùng ĐBSCL đến khá khan hiếm ở Bắc
Trung Bộ. Tuy nhiên, tính chung cho cả nước chỉ chưa đầy 5% tổng trữ lượng được khai thác.
Tài nguyên nước mặt và nước ngầm là nguồn tài nguyên quý giá, góp phần quan trọng vào sự phát
triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, tài nguyên nước ở Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều
thách thức, trong đó đáng kể nhất là tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng.
b) Suy kiệt nguồn nước
Theo số liệu thống kê, tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam đạt khoảng hơn 830-840 tỷ m³, trong
đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài
(6)
. Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ
thống sông, hồ chứa trên cả nước đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là
do khai thác quá mức tài nguyên nước và ảnh hưởng của BĐKH.
Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước, ngưỡng khai thác được phép giới hạn
trong phạm vi 30% lượng dòng chảy. Thực tế hiện nay, hầu hết các tỉnh miền Trung và Tây nguyên
đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy. Riêng tại tỉnh Ninh Thuận, hiện các dòng chảy đã
bị khai thác tới 70-80%. Việc khai thác nguồn nước đã làm suy thoái nghiêm trọng về số lượng và
chất lượng tài nguyên nước trên các lưu vực sông lớn của Việt Nam như sông Hồng, Thái Bình và
sông Đồng Nai.
Do ảnh hưởng của BĐKH, ở Việt Nam mùa mưa và lưu lượng mưa đang có xu hướng diễn biến thất
thường nên hạn hán hoặc úng ngập cục bộ xảy ra thường xuyên và trên diện rộng hơn. Sự suy kiệt
và diễn biến thất thường của các nguồn tài nguyên nước phản ánh thực tế Việt Nam đã và đang
đứng trước nguy cơ thiếu nước về mùa khô, lũ lụt về mùa mưa gây nhiều thiệt hại về người và của
trên nhiều vùng.
c) Ô nhiễm nguồn nước
Môi trường nước hiện nay bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là theo các lưu vực sông và
ở các khu đô thị, khu công nghiệp.
5
Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên Nước (Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2010)
6
Theo />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status