Nghiên cứu giải pháp sử dụng hiệu quả năng lượng và giảm thiểu tác động môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất bột nhẹ trên địa bàn thành phố phủ lý, hà nam - Pdf 28

5

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SẢN XUẤT BỘT NHẸ TRÊN THẾ
GIỚI VÀ TRONG NƢỚC
1.1. Vai trò và ứng dụng của bột nhẹ
Bột nhẹ (CaCO
3
kết tủa) là một chất phụ liệu quan trọng cho nhiều ngành
công nghiệp khác nhau được sử dụng ở dạng tinh khiết và dạng kém tinh khiết tùy
theo nhu cầu và mục đích sử dụng cụ thể. BN là một tên gọi thông thường trên thị
trường của hợp chất carbonat caxi (CaCO
3
).
Trên thị trường BN được tiêu thụ dưới dạng bột ở nhiều kích cỡ khác nhau.
Được sử dụng rộng rãi trong các ngành như: sơn, nhựa, bột trát tư ờng, dược
phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản,
cao su, giấy….
Ngoài ra trên thị trường còn có sản phẩm cùng loại giống như BN cũng là
bột canxi carbonat (CaCO
3
) nhưng người ta gọi là bột nặng (bột đá nghiền
CaCO
3
), nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau là do chúng được sản xuất theo
phương pháp khác nhau, từ đó tính chất của chúng cũng khác xa nhau và lĩnh vực
ứng dụng cũng khác nhau.
1.2. Tình hình sản xuất bột nhẹ trên thế giới[9]
Trên thế giới có Mỹ, Canada, Châu Âu, Châu Á là những nơi sản xuất và tiêu
thụ BN lớn nhất.
Chất độn khoáng trong sản phẩm giấy gồm canxi cacbonat nghiền mịn, bột nhẹ,
cao lanh và titan dioxyt. Canxi cacbonat tự nhiên chất lượng cao không dễ kiếm ở

Công ty Fax Kalk của Đan Mạch hiện được xem là công ty cung cấp BN lớn
nhất Châu Âu. Nhà máy sản xuất BN đầu tiên của Fax Falk là nhà máy Lesebo đặt
tại Thuỵ Điển với công suất 6.000 tấn/năm. Nhà máy sản xuất BN thứ hai được đặt
tại Nymola (Thuỵ điển). Sản phâ
̉
m BN c ủa nhà máy này được ký hiệu PCC95. Sản
phẩm của nó cung cấp cho tập đoàn làm giấy Stora, đây là tập đoàn sản xuất giấy và
bột giấy lớn nhất Châu Âu.
7

Phần Lan cũng là một nước cung cấp BN quan trọng ở Châu Âu. Tổng công
suất của tập đoàn Partek là 60.000 tấn/năm.
Ở khu vực Châu Á thì chỉ hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đã vượt xa các
khu vực khác về tổng sản lượng bột nhẹ. Năm 1992 sản lượng BN của Trung Quốc
đạt tới 550.000 tấn.Trong đó nhu cầu thị trường trong nước là 512.000 tấn.
Ở Nhật Bản người ta sản xuất 2 loại BN chính: một loại là light PCC và loại
cloidal PCC. Cũng như các khu vực khác nhu cầu BN cho ngành giấy là cao nhất,
sau đó là các ngành sơn, chất dẻo, cao su v.v
1.3. Tình hình sản xuất bột nhẹ trong nƣớc [9]
Tại nước ta, 125 tụ khoáng đá vôi đã được tìm kiếm và thăm dò, trữ lượng ước
đạt 13 tỷ tấn, tài nguyên dự báo khoảng 120 tỷ tấn. Đá vôi Việt nam phân bố tập
trung ở các tỉnh phía Bắc và cực Nam. Đá vôi ở Bắc Sơn và Đồng Giao phân bố
rộng và có tiềm năng lớn hơn cả.
Tại Hải Dương, đá vôi được phân bố chủ yếu trong phạm vi giữa sông Bạch
Đằng và sông Kinh Thày. Những núi có quy mô lớn như núi Han, núi A
́
ng Dâu, núi
Nham Dương đã được thăm dò tỉ mỉ.
Tại Hải Phòng, đá vôi tập trung chủ yếu ở Trại sơn và Tràng kênh thuộc huyện
Thuỷ Nguyên. Ngoài ra còn có những mỏ đá vôi phân bố rải rác ở Dương Xuân -

Đức với năng xuất và tiêu thụ 6000 tấn BN thông dụng, sản lượng BN của Công
ty Trung Đức 3000 tấn, Công ty Đất Đèn và Hóa Chất Tràng Kênh là 1.200 tấn.
Hiện nay nhu cầu trong nước vẫn rất cao, sản xuất trong nước chưa đáp
ứng đủ nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu BN. Theo thống kê của tập
đoàn hóa chất Việt Nam lượng sản phẩm BN được sử dụng trong các lĩnh vực :
Ngành sơn 12%
Sản xuất nhựa 14%
Giấy 4%
Chất tẩy rửa 10%
Kem đánh răng và mỹ phẩm 24%
Cao su 31%
Sản xuất vỏ bình acqui 5%
1.4. Tổng quan cơ sở lý thuyết quy trình sản xuất bột nhẹ
9

1.4.1. Nguyên liệu
Nguồn nguyên liệu chính trong sản xuất BN là từ núi đá vôi (CaCO
3
) thiên
nhiên.
Thành phần chủ yếu của đá là CaCO
3
ngoài ra còn pha lẫn một ít tạp chất
như MgCO
3
, SiO
2
, Al
2
O

Nhiên liệu có thể sử dụng nhiều loại khác nhau như :
- Nhiên liệu rắn: than, củi, rơm, rạ….
10

- Nhiên liệu lỏng : dầu mazut, dầu DO, dầu FO…
- Nhiên liệu khí: khí thiên nhiên, khí lò cao, khí lò cốc.
Ở các nước khoa học tiên tiến thì cả ba loại nhiên liệu trên đều được sử dụng,
còn ở nước ta chưa có nơi nào dùng nhiên liệu khí và lỏng, chủ yếu là than vì đây là
nguồn nhiên liệu rẻ tiền và được khai thác trong nước nhưng đó lại là nguồn tài
nguyên không tái tạo, số lượng có hạn và đang dần bị cạn kiệt.
1.4.3. Quá trình nung vôi
Việc nung đá vôi thành vôi sống đã được con người phát hiện và ứng dụng từ
lâu, nhiên liệu đầu tiên là gỗ, củi, sau này và hiện nay thường dùng nhiên liệu là
than đá hoặc than cốc.
Thực chất của quá trình nung vôi là dùng nhiệt độ cao để phân hủy Carbonat
canxi của đá vôi thành oxyt canxi theo phản ứng sau :
CaCO
3
↔ CaO + CO
2
- 42.50kcal/mol
Sau khi nung, hình dạng và kích thước của vôi vẫn không đổi (giống như
hình dạng lúc nhập liệu).
Muốn phản ứng xảy ra theo chiều thuận phải giảm áp suất khí CO
2
bằng cách
tạo điều kiện cho khí CO
2
bay ra khỏi lò nung nhanh và tăng thêm nhiệt độ nung so
với nhiệt độ nung tính toán lý thuyết.

Xét một viên đá vôi khi nung trong lò, trước tiên có một lớp vôi xuất hiện và
bao bọc bên ngoài, vì lớp vôi này xốp hơn đá vôi nên hệ số dẫn nhiệt giảm, làm
nhiệt truyền vào trong khó nên phải tăng thêm nhiệt độ nung, giúp viên đá vôi có
thể tăng hệ số dẫn nhiệt để phân hủy hết.
Trong quá trình nung nếu ta khống chế nhiệt độ không chính xác thì sản
phẩm thu được có thể là vôi chín, vôi sống, vôi quá lửa.
Vôi sống: cục vôi nặng hơn vôi chín khi có cùng thể tích. Vôi sống nhìn qua
không phân biệt được vì lớp ngoài đã chín và trong lõi vẫn còn dạng đá vôi. Nguyên
nhân là do nhiệt độ nung thấp, kích thước đá vôi quá lớn, hay than cháy lướt quá
nhanh, hoặc có thể lấy vôi ra nhiều lần và nhanh quá.
Vôi quá lửa: thông thường thể tích đá vôi giảm 10 đến 15% sau khi nung,
nhưng nếu quá nhiệt thì giảm đến 40%, vậy nếu nhiệt độ quá cao thì cục vôi càng
rắn và càng nặng. Vì vậy khi tôi vôi quá lửa, phân tử khó thấm nước vào nên tôi vôi
rất chậm.
Quá trình nung vôi trong lò đứng thông thường:
- Đá vôi và than cho vào miệng lò khi di chuyển dần xuống sẽ được khói nóng
bốc lên đốt nóng trước, khi than vụn đốt nóng đến 700
o
C sẽ bắt đầu cháy,
nhiệt độ trong lò tăng lên tới khoảng 900
o
C đến 1200
o
C thì đá vôi phân hủy
thành vôi. Sau khi thành vôi thì di chuyển xuống khu vực dưới của lò và tiếp
xúc với không khí phía ngoài đi vào lò làm nguội. Như vậy theo chiều cao
của lò đã hình thành ba phần, phần trên sấy, phần giữa là nung, phần đáy là
làm nguội.
12


này đá vôi bị phân hủy. Trong quá trình thao tác điều khiển lò, yêu cầu duy trì phần
nung ổn định cả về nhiệt độ và khoảng cách.
Phần nguội: đầu phần này là chỗ than cháy hết và cuối phần này là nơi lấy xỉ
than ra. Nếu đá vôi còn xót lại ở phần này thì nó không thể phân hủy và nhiệt độ đã
giảm xuống nhiều (so với phần nung) do không khí ở ngoài lùa vào nhiều.
Như vậy, qua tính toán sự cháy của quá trình nung thấy rằng nếu nhiệt độ
của không khí đưa vào lò càng tăng thì nhiệt độ ngọn lửa càng cao, nếu duy trì nhiệt
độ ngọn lửa không đổi thì nhiệt hao phí sẽ giảm.
1.4.4. Quá trình làm sạch khí lò nung
13

Việc sản xuất vôi thường đi đôi với sản xuất BN (CaCO
3
tạo thành do phản
ứng giữa sữa vôi với CO
2
), một sản phẩm quan trọng. Người ta tận dụng CO
2
sinh
ra trong quá trình nung vôi để sản xuất BN.
Tuy nhiên do hỗn hợp khí thải của nung vôi chứa khá nhiều tạp chất cơ học
như tro, bụi than, và một hàm lượng SO
2
Ngoài ra nhiệt độ của khí thải cũng rất
lớn vào khoảng 800
o
C đến 900
o
C. Vì vậy trước khi dẫn CO
2

bị, đồng thời để vôi có độ tinh khiết cao đòi hỏi nguồn nước cung cấp phải đảm bảo
không chứa nhiều tạp chất ion kim loại.
1.4.6. Quá trình phản ứng tạo sản phẩm
Đây là công đoạn quan trọng quyết định đến năng suất của sản phẩm. Do
vậy, để phản ứng đạt hiệu suất cao chúng ta cần tạo điều kiện cho 2 pha khí (CO
2
)
14

và lỏng (vôi tôi) có bề mặt tiếp xúc pha lớn, nhiệt độ của các dòng nhập liệu, đồng
thời trong suốt quá trình phản ứng :
Ca(OH)
2 (r)
+ CO
2 (k)
= CaCO
3 (r)
+ H
2
O
(l)
+ 26.908 Kcal/mol
Vì đây là phản ứng tỏa nhiệt, do nhiệt độ phản ứng ảnh hưởng đến độ tan của
Ca(OH)
2
và CO
2
trong nước, nên chúng ta cần giảm nhiệt độ của thiết bị nhằm giúp
phản ứng đạt hiệu quả.
Về bản chất đây là một quá trình hấp thụ có kèm phản ứng hóa học. Phản

sấy, nghiền còn thô sơ nên chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được nhu
cầu trong nước. Và công nghệ chủ yếu là công nghệ hấp thụ CO
2
. Các thiết bị rất
đơn giản vì vậy mà thất thoát nhiều năng lượng như trong quá trình sấy.
Với công nghệ còn lạc hậu việc đốt than trong sản xuất BN (trong quá trình
sấy) sẽ thất thoát nhiều năng lượng.
1.5.2. Các tác động môi trường
Khi đốt than sẽ thải ra rất nhiều khí nhà kính CO
2
gây ô nhiễm môi trường và
biến đổi khí hậu đa
́
ng lo ngại, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn cầu.
Bảng 1. Nguồn chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất BN
STT
Các nguồn phát sinh
Loại chất thải
Môi trƣờng bị
tác động
1
Quá trình vận chuyển
nguyên nhiên liệu
- Bụi
- Tiếng ồn
Môi trường
không khí
2
Quá trình sản xuất
- Nung

2
thải ra trong quá trình sấy bột.
1.6. Sơ lƣợc về thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam [5]
1.6.1. Điều kiện tự nhiên xã hội
Vị trí địa lý TP Phủ Lý cách thủ đô Hà Nội gần 60km về phía Nam, cách
thành phố Nam Định 30 km về Phía Tây Bắc và cách thành phố Ninh Bình 34 km
về phía Bắc, cách Thành phố Hưng Yên 25km. Phủ Lý nằm trên quốc lộ 1A có
tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua, là nơi gặp gỡ của 3 con sông: Sông Đáy, Sông
Châu và Sông Nhuệ rất thuận lợi về giao thông thủy bộ.
Địa giới:
Phía Bắc giáp xã Kim Bình thuộc huyện Kim Bảng và xã Tiên Tân, xã Tiên
Hải thuộc huyện Duy Tiên.
Phía Nam giáp với xã Thanh Hà, Thanh Tuyền thuộc huyện Thanh Liêm.
Phía Đông giáp với xã Liêm Tiết, Liêm Tuyền thuộc Huyện Thanh Liêm.
Phía Tây giáp với Thị trấn Kiện Khê thuộc buyện Thanh Liêm, xã Thanh
Sơn thuộc huyện Kim Bảng.
Khí hậu:Phủ Lý nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng và ven núi nên địa hình
của Thành phố chia làm nhiều khu vực hai bên bờ các con sông, Phủ Lý nằm trong
vùng nhiệt đới gió mùa:
17

Diện tích tự nhiên: 3.424,37 ha trong đó đất nội thành : 955,87 ha; đất ngoại
thành: 2.468,5 ha.
Dân số: Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, dân số trung bình năm 2010
của tỉnh Hà Nam là: 784.486 người, tăng 0.04% so với dân số trung bình năm 2009.
Cơ cấu dân số, dân số nam chiếm 48,85%, dân số nữ chiếm 51,15%. Dân số thành
thị chiếm 9,55% và khu vực nông thôn 90,45%. Công tác dân số và kế hoạch hóa
gia đình thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra, tỷ lệ sinh thô dân số năm 2010 đạt 14,75‰; tỷ
lệ giảm sinh 0,15‰ so với năm 2009 đạt kế hoạch năm [5].


2. Về giao thông, ngoài mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế,
văn hóa, xã hội với bên ngoài, mạng lưới giao thông nội tỉnh và giao thông nông
thôn cũng phát triển, đến nay đã hình thành mạng lưới khép kín, với hơn 4000km.
Trong số 167 km đường cấp tỉnh quản lý đã có 112 km (67,1%) được rải nhựa, chất
lượng tốt, trong đó có 42 cầu đường với tổng chiều dài hơn 1000m. 72,1% số đường
cấp huyện cũng đã được rải nhựa. Hàng nghìn km đường cấp xã quản lý và đường
giao thông trong thôn xóm đã được bê tông hóa hoặc rải nền cứng. Nối hai bờ sông
Đáy giữa khu vực TP Phủ Lý là 4 cây cầu bê tông vĩnh cửu. Các phương tiện giao
thông cơ giới có thể đi lại thuận tiện dễ dàng đến hầu hết các xã, thôn trong tỉnh [5].
3. Hệ thống thủy lợi, thủy nông
Trên địa bàn tỉnh đã căn bản hoàn chỉnh, với 87 km đê sông, các trạm bơm
tưới tiêu và hàng nghìn km kênh mương thủy lợi nội đồng. Hệ thống thủy lợi, thủy
nông đã căn bản đảm bảo chủ động tưới tiêu cho nông nghiệp và tiêu úng, thoát lũ,
19

phòng tránh tác hại thiên tai cho nhân dân, các cơ sở kinh tế xã hội trên địa bàn.
Hiện nay và trong giai đoạn tới, hệ thống thủy lợi, thủy nông tiếp tục được nâng
cấp, mở rộng và hoàn thiện theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa.
4. Hệ thống hạ tầng cấp, thoát nước
Phục vụ sản xuất và sinh hoạt cũng đã và đang được quy hoạch phát triển,
đảm bảo cấp, thoát nước cho các nhà máy xí nghiệp công nghiệp, các cơ sở thương
mại, dịch vụ và các khu dân cư trên địa bàn. Hệ thống cấp nước sạch với công suất
25.000 m
3
/ngày chưa được sử dụng hết công suất. 97% số hộ dân ở thành phố Phủ
Lý và hàng trăm nghìn hộ ở khu vực nông thôn (54%) đã có nước sạch dùng cho
sinh hoạt [5].
5. Mạng lưới truyền tải, phân phối điện
Đã được xây dựng, mở rộng đến hầu hết các thôn xã. 100% số hộ dân cư và
cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan hành chính sự nghiệp ở TP Phủ Lý và các huyện

2. Hiện trạng môi trường nước
Hà Nam là một tỉnh có nguồn tài nguyên nước vô cùng phong phú bao gồm
nước mặt, nước ngầm với mạng lưới thủy văn khá dày; hệ thống ao hồ, kênh mương
phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh.
Tài nguyên nước mặt: Ở Hà Nam bao gồm hệ thống sông Hồng, sông Đáy,
sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sắt và các ao hồ tự nhiên trong tỉnh.
Tài nguyên nước ngầm: Trên cơ sở phân tích các đặc điểm địa chất thủy văn
khu vực, tỉnh Hà Nam có năm đơn vị chứa nước chính có khả năng cung cấp nước,
đó là tầng chứa nước Holoxen muộn hệ tầng Thái Bình; tầng chứa nước Holoxen
sớm giữa hệ tầng Hải Hưng; tầng chứa nước Pleitoxen hệ tầng Hà Nội; tầng chứa
21

nước lỗ hổng – vỉa tuổi Pleitoxen hạ - Neogen thượng và tầng chứa nước khe nứt –
Karsto tuổi Triat hệ tầng Đồng Giao.
Ngoài nhiệm vụ cung cấp nước tưới các con sông còn là sông tiêu nước thải
cho Hà Nội. Sông Nhuệ và sông Đáy đã rơi vào những tình trạng ô nhiễm nghiêm
trọng. Được xem như một trong những hệ thống sông ô nhiễm nhất Việt Nam.
Khiến ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của người dân, nguồn nước cũng như nuôi
trồng thủy sản. Ngoài ra nguyên nhân gây cho dòng sông ô nhiễm là do các cơ sở
sản xuất công nghiệp không có hệ thống sử lý mà đổ thẳng ra sông.
Nguồn nước ngầm của Hà Nam thì thường bị nhiễm sắt, nhiễm bẩn bởi các
hợp chất nitơ. Tuy nhiên hiện tượng nhiễm bẩn này thường do các yếu tố địa chất
thủy văn gây nên.
3. Hiện trạng môi trường không khí
Môi trường không khí tại TP Phủ Lý và các thị trấn chủ yếu bị ô nhiễm bởi
bụi và khí thải từ các phương tiện giao thông. Tại thành phố còn có một số cơ sở
sản xuất, chế biến khoáng sản vật liệu xây dựng và thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh
Liêm là nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất, chế biến đá xây dựng, đá vôi công
nghiệp là nơi rất nhiều bụi.
Nhìn chung ô nhiễm không khí tại Hà Nam tập trung nhiều tại các khu công

23

Kết hợp với việc thu thập các tài liệu có liên quan đã khảo sát cơ sở để tìm
hiểu thực tế.
Đã kết hợp điều tra, phỏng vấn những nhân viên tại Công ty để thấy được cái
nhìn tổng quát nhất, đồng thời khảo sát chụp ảnh thực tế toàn bộ quy trình hoạt
động tại công ty.
Phương pháp khảo sát thực tế cho kết quả chính xác về hiện trạng cũng như
quá trình sản xuất để có thể giải quyết một cách cụ thể và chính xác nhất các vấn đề
nghiên cứu.
2.2.4. Phương pháp đánh giá công nghệ
Sau khi khảo sát thực tế và từ những số liệu đã thu thập có thể đánh giá công
nghệ sản xuất đang vận hành tại công ty một cách chính xác hơn. Trên cơ sở đó đề
xuất những công nghệ nào có thể thay thế tốt hơn, đảm bảo tiết kiệm năng lượng và
giảm thiểu ô nhiễm.
2.2.5. Phương pháp phân tích
*Các thiết bị sử dụng trong phân tích môi trường:
1. Bơm lấy mẫu CASELLA VORTEX, SIBATA;
2. Máy đo tiếng ồn TESTO 815, Type 2240;
3. Máy phân tích nước DR 2400;
4. Máy đo pH, TDS, DO Sension 156;
5. Cân phân tích điện tử OHAUS.
*Các phương pháp phân tích không khí xung quanh sử dụng:
- Bụi lơ lửng tổng số được lấy mẫy tại hiện trường bằng bơm lấy mẫu
CASELLA VORTEX và SIBATA, kết quả được phân tích trong phòng thí
nhiệm bằng phương pháp khối lượng xác định hàm lượng bụi (TCVN
5067:1995).
24

- Xác định nồng độ khối lượng lưu huỳnh đioxit (SO

3
, tổng sản lượng hàng năm 2500 tấn BN/ năm.
Công ty TNHH Chí Hường có tổng số công nhân viên 20 người, diện tích
toàn xưởng 800 m
2
, tổng sản lượng hàng năm 1700 tấn BN/năm.
Công ty TNHH Ưng Thuận có tổng số công nhân viên 10 người, diện tích
toàn xưởng 400 m
2
, tổng sản lượng hàng năm 800tấn BN/năm.
Các công ty sản xuất BN trên địa bàn thành phố đều sản xuất theo công nghệ
hấp thụ CO
2
, công nghệ cũ và lạc hậu. Chưa có công ty hay cơ sở nào có hệ thống
xử lý chất thải. Các cơ sở lớn hoạt động thường xuyên còn những cơ sở nhỏ lẻ thì
làm theo từng đơn hàng. Các cơ sở sản xuất BN thường bán hàng cho công ty Cao
su sao vàng Việt Nam, các cơ sở sản xuất nấm ở Thái Bình, công ty sản xuất cao
su,
Tại Hà Nam có 3 mỏ đá chính, tại Thanh Nghị, Kiện Khê huyện Thanh Liêm
và Thanh Sơn huyện Kim Bảng, với nhiều cơ sở lớn nhỏ khai thác và chế biến đá
bao gồm: khai thác, vận chuyển, chế biến thành bột nhẹ, bột nặng, vật liệu xây
dựng
Theo thống kê của Phòng Cảnh sát môi trường tỉnh Hà Nam, toàn tỉnh có
trên 100 cơ sở khai thác và chế biến đá xây dựng, trung bình mỗi cơ sở cung ứng ra
thị trường 1.000 m
3
đá thành phẩm/tháng. Hầu hết máy móc thiết bị của các cơ sở
26

đều đơn giản, lạc hậu, không có hệ thống phun nước chống bụi nên gây ô nhiễm

sản xuất BN trên địa bàn thành phố đã bị người dân lên án vì gây ô nhiễm không
khí ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ em. Công ty TNHH Chí Hường nằm ngay tại
phía sau trường tiểu học Lê Hồng Phong phường Lê Hồng Phong. Trong quá trình
sản xuất lượng khí CO
2
thải ra quá lớn đã gây cho nhiều trẻ đang học trong trường
bị buồn nôn chóng mặt khó thở. Các cơ quan chức năng đã đến và đo lượng CO
2

phát thải ra vượt quá ngưỡng bình thường.
Đến tháng 9 năm 2011 công ty này đã ngừng hoạt động sản xuất bột nhẹ và
đang có bước tiến thay đổi công nghệ sấy để giảm ô nhiễm và hiệu quả hơn trong
sản xuất.
Trên địa bàn thành phố Phủ lý cũng có một số doanh nghiệp đang chuẩn bị
đầu tư công nghệ sấy điện mới để phục vụ sản xuất bột nhẹ.
Đối với công ty TNHH Đức Tài do vị thế của công ty nằm ngay cạnh bờ
sông nên không khí tương đối thoáng.
3.2.Hiện trạng sản xuất bột nhẹ tại công ty TNHH Đức Tài
3.2.1. Nhân lực và quản lý sản xuất
Với mô hình quản lý trước đây là hợp tác xã công nhân viên, năm 2000 cơ sở
sản xuất chuyển đổi thành công ty TNHH Đức Tài. Cơ cấu quản lý đơn giản để
giảm giá thành sản phẩm.
Giám đốc là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh hàng
ngày đóng vai trò trực tiếp chỉ đạo quản lý chung các bộ phận khác trong công ty và
cũng là người điều phối hàng hóa kinh doanh.
28

Phụ trách cho giám đốc có 1 phó giám đốc kiêm kế toán cho công ty. Bộ
phận sản xuất gián tiếp gồm có các phòng ban hành chính nhân sự, kinh doanh bán
hàng, thực hiện theo chức năng của mình. Ngoài ra bộ phận này còn thực hiện

Số lƣợng
A. Bộ phận quản lý hành chính
10
- Giám đốc
1
- Phó giám đốc kiêm kế toán
1
- Tổ chức hành chính, kinh doanh bán hàng, kỹ thuật sản
xuất, bảo vệ,
8
B. Bộ phận sản xuất
18
- Bộ phận chuẩn bị nguyên liệu
2
- Bộ phận nung, ép, sấy, nghiền
16
Tổng cộng
28
3.2.2. Sản phẩm của công ty
Sản phẩm chính của công ty là bột nhẹ CaCO
3
được cung cấp làm chất phụ
gia cho các ngành như: sản xuất giấy, sản xuất săm lốp cao su, nuôi trồng nấm, sản
xuất sơn, sản xuất gốm sứ, sản xuất xà phòng kem đánh răng,
Ngoài ra công ty còn sản xuất gạch xỉ từ những phế thải (xỉ than trong quá
trình nung, sấy, vôi loại hoặc cháy) của nhà máy để sản xuất vật liệu xây dựng.
3.2.3. Quy trình công nghệ sản xuất đang vận hành tại công ty TNHH Đức Tài
Quy trình công nghệ sản xuất BN trong vận hành tại cơ sở được mô tả như
Hình 2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status