Nghiên cứu sử dụng hợp lý đất sản xuất nông nghiệp huyện phúc thọ, hà nội - Pdf 28


ii

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1.

Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất 3

1.1.1.

Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 3

1.1.2.

Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 4

1.1.3.

Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 4

1.1.4.

Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất bền vững 6

1.2.

Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6


Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và sản xuất nông nghiệp bền vững 26

1.5.1.

Các nghiên cứu trên Thế giới 26

1.5.2.

Những nghiên cứu ở Việt Nam 27

1.5.3.

Những nghiên cứu về đất trước đây của huyện Phúc Thọ 29

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.2. Nội dung nghiên cứu 30

2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 30

2.2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Phúc Thọ 30

2.2.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Phúc Thọ 30

2.2.4. Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Phúc Thọ 30


3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 39

3.2.1. Cơ cấu hành chính, dân số 39

3.2.2. Khái quát về hiện trạng kinh tế - xã hội 41

3.3. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện 46

3.3.1. Tình hình quản lý đất đai 46iii

3.3.2. Hiện trạng sử dụng đất đai 47

3.3.3. Đánh giá chung về quỹ đất huyện Phúc Thọ 52

3.4. Phân loại đất và thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Phúc Thọ . 53

3.4.1. Phân loại tài nguyên đất theo FAO 53

3.4.2. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 66

3.5. Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 69

3.5.1. Vùng sản xuất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất 69

3.5.2. Hiệu quả kinh tế - xã hội của các loại hình sử dụng đất 73

3.5.3. Hiệu quả môi trường 88

DTĐT Diện tích điều tra
DTTN Diện tích tự nhiên
ĐGĐĐ Đánh giá đất đai
ĐVĐĐ Đơn vị đất đai
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and
Agriculture Organization of the United Nations)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GTGT Giá trị gia tăng
GTSX Giá trị sản xuất
KT-XH Kinh tế - Xã hội
LĐ Lao động
LHSDĐ Loại hình sử dụng đất
MT Môi trường
NN Nông nghiệp
QCVN Quy chuẩn Việt nam
QH&TKNN

Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
QL Quốc lộ
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban Nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
WRB Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất thế giới v

DANH MỤC BẢNG


Hình 4. Phẫu diện đất phù sa đọng nước 55
Hình 5. Phẫu diện đất phù sa có tầng biến đổi 55
Hình 6. Phẫu diện đất phù sa điển hình 56
Hình 7. Phẫu diện đất phù sa ít chua 56
Hình 8. Phẫn diện đất cát 62
Hình 9. Phẫu diện đất xám huyện Phúc Thọ 64
Hình 10. Nhóm đất loang lổ huyện Phúc Thọ 65
Hình 11. Sơ đồ đất huyện Phúc Thọ 66
Hình 12. Tỉ lệ sử dụng đất huyện Phúc Thọ năm 2013 68
Hình 13. Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Phúc Thọ, năm 2013 69
Hình 14. Sơ đồ thích nghi đất đai huyện Phúc Thọ 73
Hình 15. Sơ đồ đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Phúc Thọ 951

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt.
Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được,
không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất là một
phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững.
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất lâu đời và cơ bản nhất của loài người. Hầu hết
các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông
nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành
khác. Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo
quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu.
Hơn 20 năm qua, nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nông nghiệp cơ
bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng
trưởng bình quân (5,5% giai đoạn 2005-2012) và đạt 3,79% năm 2013. Sản xuất

bền vững.

3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất
1.1.1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa
về đất. Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời
do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá
mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” [14]. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả
năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh.
Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm
và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên.
Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề
mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng
đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn,
thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối
với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người.
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Theo Luật đất đai 2003,
đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp,
đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [19].
Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản
xuất. Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt
động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Bên cạnh đó, đất
đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi
dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học
và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm [15].
Năm 2013, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, dân số là

mọi quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát
triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con
người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai
thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó
khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á
chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%.
Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000 m
2
. Trong đó ở
Mỹ 2000 m
2
, ở Bungari 7000 m
2
, ở Nhật Bản 650 m
2
. Theo báo cáo của UNDP năm
1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như
sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt
Nam 0,1 ha [5].
1.1.3. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi
trường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương
lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng. Trong điều kiện hầu
hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất cây trồng đòi hỏi phải
bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón.
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới [33], cho thấy gần 20% diện tích đất đai
châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Trong đó hoạt động sản xuất

đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy. Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu
ha đất trồng trọt. Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha diện tích
đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Theo kết
quả điều tra của FAO (1993) [35], do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất
nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc. Mỗi
năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi: 5 -10
tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha.
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân
thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại
khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách
mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con
người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo

6

vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến
nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông
nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai.
1.1.4. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất bền vững
Để phát triển nông nghiệp bền vững, việc sử dụng đất cần tuân theo các nguyên
tắc sau:
- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên
cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công
nghiệp và hướng tới xuất khẩu.
- Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát
triển kinh tế-xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm
ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo
cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai.
- Sử dụng đất nông nghiệp theo nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”.
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Con người
luôn xem xét, nghiên cứu kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu?
Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Nhằm khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên hữu
hạn phục vụ cho nhu cầu vô hạn của con người.
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất
thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh
tế. Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã
hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt
động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất. Riêng đối với ngành nông nghiệp,
cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều
trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch
được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm
xuất khẩu… để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước) [37].
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ
chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các
khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản
xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản
xuất trong nước với thị trường quốc tế [37]. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao
thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện
nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là
mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [32].
Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ
sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương. Từ đó, nghiên cứu áp dụng
công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao - đó là điều kiện tiên
quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững.
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất không
chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng

8

tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với
nhau và là một phạm trù thống nhất.
Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân
dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được
phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác. Sử
dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất

9

bền vững hơn.
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [28], hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất
nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện
tích đất nông nghiệp.
c. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ
được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh
thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học
biểu hiện qua thành phần loài [5].
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo
nhiều chiều hướng khác nhau. Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với
đặc tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các
hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh
hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả
hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường [13].
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông
qua mức độ ô nhiễm hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc
bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất
cao và không gây ô nhiễm môi trường.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây

* Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được
tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử
dụng trong quá trình sản xuất.
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,
là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,
GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các
chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ,
GTGT/LĐ. Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng
đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau [16]:
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.

11

+ Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu.
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải [13], chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản
lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;

12

suất lao động cao. Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn
đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên
nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng
sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên [37].
Theo cách hiểu gần đây nhất được đưa ra: Nông nghiệp công nghiệp hoá là một
nền nông nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội
công nghiệp vào nông nghiệp. Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông tin, điện
tử, sinh học, hoá học, cơ khí… Thực tế cho thấy nhiều nước công nghiệp phát triển, nền
nông nghiệp công nghiệp hoá thể hiện theo cách thể hiện này đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể. Tuy nhiên nhược điểm của nền nông nghiệp này là không chú ý đầy đủ đến
các tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường tự nhiên [6].
* Nông nghiệp sinh thái: đưa ra nhằm khắc phục những nhược điểm của nông
nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ
những nguyên tắc về sinh học nông nghiệp trong nông nghiệp. Mục tiêu của nông
nghiệp sinh thái:
+ Tránh những tác hại do sử dụng hoá chất nông nghiệp và phương pháp công
nghiệp gây ra làm cho môi trường bị ô nhiễm, chất lượng nông sản giảm sút;
+ Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
+ Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng chất mùn trong đất…
+ Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi trường với đất, nước, môi trường, thức ăn [37].
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững, đó là một
dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và
bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài.
Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng vào
nhau ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể như :
- “Cách mạng xanh’’ đã được thực hiện ở các nước đang phát triển ở châu Á,
Mỹ la tinh và đã đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó vào những năm
của thập kỷ 60. Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng các

trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng
hoá sản xuất như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến lược chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan
những năm 1982-1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể
từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính
sách phát triển nông nghiệp của Chính phủ cũng chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực
1.3.2. Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới
Những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương
thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự
cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng mạnh ra xuất khẩu.
Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của gần 20 năm đổi mới, dựa trên
những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ
yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
- Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản
phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới

14

và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng [7].
- Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội
của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ
sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá [7].
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi,
tăng tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực. Giảm tỷ trọng lao động
nông nghiệp xuống còn 50% [7], tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao
động nông nghiệp [28]. Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề
công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp. Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các
ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công

theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn
gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn
bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường.
- Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5-
4%/năm. Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên
thị trường quốc tế.
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị
trường. Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp. Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế
đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế
nông thôn.
- Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông
nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội. Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp,
có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác và kết nối
với thị trường.
- Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã đạt
tiêu chuẩn. Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay. Quy
hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp.
- Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng
sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát
triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm
thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu [3].
1.3.3. Xây dựng nền nông nghiệp bền vững
a. Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa
người và đất đai. Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý [17]. Tuy
nhiên thực tế cho thấy, sử dụng đất đai là vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có liên quan đến toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc
gia, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội. Việc sử dụng
đất dựa trên nguyên tắc là ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp.

sản. Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi
với việc tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về
kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về xã hội [20].
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho
cuộc sống của con người. Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ
thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu
cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường. Nông
nghiệp bền vững phải coi thiên nhiên là môi trường lý tưởng để phát triển một cách
hoà hợp với thiên nhiên.
Hệ thống canh tác lấy năng lượng, nguyên liệu từ môi trường, nếu khai thác cạn
kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo, hoặc khai thác quá khả năng phục hồi tài nguyên

17

sẽ dẫn đến không còn nguyên liệu, năng lượng. Từ đó dẫn tới phải loại bỏ khả năng
sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống canh tác. Hệ thống canh tác chuyển vào môi
trường các chất thải trong đó có các chất độc đối với đất, nước và không khí khiến cho
sản xuất không bền vững. Do vậy khi bố trí các hệ thống canh tác các nhà khoa học
bao giờ cũng phải cân nhắc đến hiệu quả kinh tế và môi trường.
Trước năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói đến nhiều giống mới, năng suất
cao, kỹ thuật cao. Nhưng sau năm 1970 một khái niệm mới đã xuất hiện và ngày càng
có tính thuyết phục - khái niệm tính bền vững và tiếp theo là nông nghiệp bền vững.
Theo Vũ Khắc Hòa, nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những
kinh nghiệm truyền thống mà là phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà
khoa học, từ nông dân hoặc cả hai. Điều trở nên thông thường đối với những người
dân, bền vững là sử dụng những công nghệ và thiết bị vừa mới được phát kiến, những
mô hình canh tác tổng hợp, những phát kiến mới nhất để giảm giá thành đầu vào. Đó
là những công nghệ mới về chăn nuôi động vật, những kiến thức sâu về sinh thái để
quản lý sâu hại và thiên dịch [15].
Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính những

người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp bền vững sử
dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh
quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách hài hòa và thống nhất. Nông
nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng
nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không dần huỷ diệt sự
sống trên trái đất. Nông nghiệp bền vững bao gồm 3 phạm trù: chăm sóc trái đất, chăm
sóc con người và chi phối thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó. Gần đây xuất
hiện khuynh hướng “Nông nghiệp hữu cơ”, chủ trương dùng máy cơ khí nhỏ và sức
kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ
thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh.
Ở Việt Nam, nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng ngàn năm nay, có
thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp trong điều
kiện thiên nhiên ở nước ta. Gần đây, những mô hình sử dụng đất như VAC (vườn, ao,
chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm
truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất lâu dài, bền vững với thiên
nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển.
Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản là duy
trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền. Độ phì nhiêu đất là tổng hoà của nhiều yếu tố vật
lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn
tại và phát triển.
b. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển
nông nghiệp bền vững
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất nông nghiệp. Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh
vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó
xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I. Theo
N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát triển


về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp
hàng hoá. Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một
cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành
tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá.
- Hình thức tổ chức sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác và
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá

20

các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh
doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất - dịch vụ và tiêu thụ nông
sản hàng hoá.
Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu
vào và đầu ra.
- Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời
những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.
Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng và
hạ giá thành nông sản [23].
* Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản
xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung - cầu, chịu sự ảnh
hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản
xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.
- Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường, nông dân
lựa chọn hàng hoá để sản xuất. Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [28], 3 yếu tố chủ yếu
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay
vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra. Trong cơ chế thị trường,
các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ

đã thúc đẩy việc sử dụng một cách hợp lý hơn.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới việc
phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Do vậy, nhiều chính sách
thúc đẩy nền kinh tế quốc dân như: chương trình 327 “phủ xanh đất trống đồi núi
trọc”, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách 773 về “khai thác mặt nước hoang,
bãi bồi ven sông biển”, chính sách dồn điền đổi thửa
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển
nông nghiệp của Nhà nước, cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông
nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp hàng hoá.
c. Một số định hướng phát triển nông nghiệp bền vững
Với phương châm tạo sự phát triển hài hoà cả trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội
và môi trường, các chuyên gia đã đề xuất những biện pháp đồng bộ trong Bản dự thảo
Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tới như sau:
Để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cần có 4 ưu tiên: tăng trưởng kinh
tế nhanh; thay đổi mô hình tiêu dùng; "công nghiệp hoá sạch" và phát triển nông
nghiệp bền vững. Đối với tăng trưởng kinh tế nhanh, theo phân tích của các chuyên
gia, hiện có không ít thách thức là suất đầu tư cao đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn; mức
độ chế biến thấp dẫn đến tiêu tốn tài nguyên; sự biến động giá cả trên thị trường thế
giới; nguồn nợ nước ngoài ngày càng lớn
Theo khuyến cáo của các chuyên gia, cần chuyển từ tăng trưởng chủ yếu theo
chiều rộng sang tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu. Sự chuyển đổi này sẽ làm giảm
suất đầu tư hạn chế sự tiêu hao tài nguyên tính chính mỗi đơn vị giá trị sản phẩm. Việc
chuyển nền kinh tế dựa vào khai thác và sử dụng tài nguyên thô sang chế biến sâu hơn
cũng được khuyến cáo như một giải pháp quan trọng nhằm đạt được mục tiêu phát
triển kinh tế nhanh, bền vững, nhờ tiết kiệm và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên. Tuy

Trích đoạn Các phương pháp khác Đặc điểm địa chất, thủy văn Các nguồn tài nguyên Cơ cấu hành chính, dân số Khái quát về hiện trạng kinh tế xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status