Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời nói đầu
...
Đại hội VI của Đảng đề ra đờng lối đổi mới toàn diện, mở ra bớc
ngoặt lịch sử trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Nớc ta. Đảng, Nhà nớc và
nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, tìm tòi khám phá con đờng đổi
mới cha có một khuôn mẫu cho trớc. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhng
những thành tựu đạt đợc của đất nớc đã xác nhận khả năng tự đổi mới của
Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam.
Chính sách đổi mới của nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc đã có tác dụng
to lớn đối với mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội ở N ớc ta. Nền kinh tế đất
nớc khởi sắc với sự chuyển biến lớn mạnh của các thành phần kinh tế. Đặc
biệt là kinh tế hộ sản xuất.
Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu đợc những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, đa đất nớc ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã
hội Đảng đã đề ra nhiệm vụ cho chặng đờng đầu của thời kỳ qúa độ là
chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép
chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Cùng với việc chuyển đổi cơ chế quản lý hành chính bao cấp sang
thực hiện cơ chế kinh tế thị trờng, trong lĩnh vực sản xuất Nông nghiệp,
Đảng và Nhà nớc ta đã có những đổi mới. Chú trọng phát triển sản xuất
hàng hoá trong Nông nghiệp, tự do lu thông hàng hoá, lấy hộ nông dân
làm đơn vị kinh tế cơ sở. Các chính sách đổi mới phù hợp với yêu cầu thực
tế đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối
với sản xuất Nông nghiệp nói riêng.
Từ chỉ thị 100 của Ban Bí th Trung ơng Đảng, nghị quyết 10 của Bộ
chính trị (khoá VI); Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khoá VI và nghị
quyết Trung ơng V (khoá VII) của Ban chấp hành Trung ơng Đảng đã đề
ra ngị quyết.
"Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn". Vấn đề này
quy định trong thể lệ cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý. Cụ
thể: Đã có quy định 180/QĐ-HĐQT ngày 25 tháng 12 năm 1988 và các
văn bản khác quy định cho vay đối với khách hàng nhằm tạo điều kiện
( )
2
Luận Văn Tốt nghiệp
thuận lợi cho các hộ sản xuất đủ vốn để thực hiện ph ơng án sản xuất kinh
doanh của mình, không ngừng nâng cao đời sống của mỗi gia đình cũng
nh toàn xã hội.
- Về nguồn vốn: Để tạo ra nguồn vốn, ngoài các biện pháp huy động
vốn thông thờng đã kết hợp huy động bằng kỳ phiếu, trái phiếu theo từng
thời kỳ đáp ứng vốn trong nền kinh tế phục vụ kịp thời vụ mùa sản xuất.
- Về sử dụng vốn: Ngoài cho vay tất cả các thành phần kinh tế NHN
o
đã dành một tỷ lệ thích đáng cho vay phục vụ nhu cầu sản xuất Nông
nghiệp, trong đó chủ yếu là cho vay các hộ sản xuất. Thị tr ờng tín dụng
nông nghiệp nông thôn ngày càng đợc mở rộng và phát huy hiệu quả.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, có nền kinh tế xã
hội còn nghèo nàn và lạc hậu so với cả nớc. Địa bàn nông thôn tổ chức sản
xuất chủ yếu là qui mô nhỏ, tự cung tự cấp. Trong nghị quyết về phát triển
kinh tế xã hội của tỉnh Đảng bộ Cao Bằng đã xác định phát triển nền kinh
tế theo hớng Nông - lâm - công nghiệp - thơng mại và dịch vụ. Muốn phát
triển nông nghiệp thì Cao Bằng cần tạo ra những đòn bẩy kinh tế có tính
chất quyết định để từng bớc chuyển đổi nền sản xuất nông nghiệp từ sản
xuất đơn giản tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá. Những công cụ kinh
tế quan trọng là: Chính sách tín dụng, thuế, ứng dụng KHKT ...
Nguyên Bình là một huyện phía Tây của tỉnh Cao Bằng, kinh tế nông
- lâm nghiệp là chủ yếu. Đối với kinh tế hộ sản xuất còn mang tính chất tự
cung, tự cấp, tập quán canh tác còn lạc hậu, tình trạng du canh còn phổ
biến, sinh hoạt còn lạc hậu, kinh tế hàng hoá trong nông thôn ch a phát
nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
( )
4
Luận Văn Tốt nghiệp
chơng I
Hộ sản xuất trong nền kinh tế nớc ta và vai trò
tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của
hộ sản xuất
I/ Kinh tế hộ trong nền kinh tế nớc ta.
1- Đặc điểm sản xuất của kinh tế hộ nông dân.
a- Khái niệm hộ sản xuất.
Hộ sản xuất bao gồm chủ yếu cha mẹ, con cái, ông bà cùng chung hộ
khẩu, các thành viên trong hộ gắn bó với nhau chặt chẽ thể hiện.
- Thông qua mối liên hệ hôn nhân và huyết thống.
- Về kinh tế: Các thành viên trong hộ gắn bó với nhau trên các mặt
quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm và quan hệ
quản lý.
Các thành viên trong hộ cùng chung mục đích và lợi ích thoát khỏi
nghèo đói hoặc nâng cao mức sống và làm giàu; Do đó hộ sản xuất là một
tế bào của nền kinh tế xã hội.
Hộ sản xuất là tập hợp các thành viên trong một gia đình, đại diện là
chủ hộ, tự chủ trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh. Là chủ thể trong
quan hệ sản xuất kinh doanh, lao động tự nguyện và tự giác, tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình.
b- Các loại hộ sản xuất tồn tại trong nông thôn hiện nay.
Có 3 loại hộ sản xuất tồn tại trong nông thôn hiện nay là:
- Loại hộ những ngời không còn sức lao động hoặc không tích cực
lao động đang tồn tại trong xã hội. Trong quá trình phát triển của nền sản
xuất hàng hoá sẽ có sự phân biệt của các nhà kinh doanh kém hiệu quả, do
đó sẽ diễn ra quá trình chuyển hoá thờng xuyên giữa các loại hộ bổ sung
Sản xuất của hộ khá ổn định, vốn luân chuyển chậm so với các ngành
khác nh thơng nghiệp, dịch vụ.
Đối tợng sản xuất là những cây, con, sinh trởng và phát triển hết sức
đa dạng và phức tạp. Vì vậy sản xuất của họ có nét đặc thù riêng biệt. Chi
( )
6
Luận Văn Tốt nghiệp
phí sản xuất thờng là thấp, vốn cần cho đầu t có thể rải đều trong quá trình
sản xuất.
Sản xuất của hộ mang tính thời vụ cùng một lúc có thể kinh doanh
hoặc sản xuất nhiều loại nh cây trồng, vật nuôi, thả động vật hoặc tiến
hành các ngành nghề khác lúc nông nhàn. Vì vậy thu nhập cũng rải đều,
đó là một yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho nền kinh tế hộ phát triển
toàn diện.
Trình độ sản xuất ở nớc ta đa phần ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất
thủ công, máy móc có chăng cũng còn ít, đơn giản, tổ chức sản xuất mang
tính tự phát, phạm vi nhỏ, không đợc đào tạo bài bản, hộ sản xuất hiện nay
nói chung vẫn hoạt động theo tính chất truyền thống, thái độ lao động th-
ờng bị chi phối bởi tình cảm, đạo đức gia đình và nếp sống sinh hoạt theo
phong tục tập quán địa phơng...
2- Vai trò của kinh tế hộ sản xuất trong phát triển kinh tế nớc ta.
a- Kinh tế hộ đối với sản xuất Nông nghiệp.
Trớc đây sản xuất dới hình thức tập thể và quan điểm hợp tác xã là
nhà, xã viên là chủ. Song do chúng ta cha có đủ điều kiện và kinh nghiệm
để tổ chức sản xuất Nông nghiệp tập thể, mặt khác có nhiều vấn đề dẫn
đến năng xuất lao động hợp tác xã rất hạn chế, tính làm chủ và khả năng
vơn lên trong mỗi gia đình không phát huy đợc.
Thời kỳ 1961-1965 miền Bắc đã có khoảng trên 4 vạn hợp tác xã bậc
cao thu hút khoảng 85% hộ nông dân lao động. Trong suốt những năm này
và những năm tiếp theo chúng ta lấy tập thể làm động lực mà coi nhẹ động
sự làm chủ trong sản xuất kinh doanh...Khoán 10 do Đại hội Đảng VI đề
ra tạo ra một bớc tiến quan trọng về tổ chức lại sản xuất trong Nông
nghiệp. Trong khoán 10 kinh tế hộ đã xác định là một chủ thể sản xuất
hàng hoá ở nông thôn, họ phấn khởi hăng say sản xuất, họ đã mang hết
khả năng tiềm tàng chứa trong đất đai, lao động, vốn liếng...mà trớc kia
cha đợc sử dụng để làm giàu cho gia đình, đất nớc.
b- Kinh tế hộ trong nền kinh tế nớc ta hiện nay.
Trong điều kiện kinh tế nớc ta hiện nay dân số khoảng 80% là sản
xuất Nông nghiệp, với hơn 12 triệu hộ nông dân sống ở khu vực nông thôn
do đó phát triển Nông nghiệp và nông thôn là vấn đề chiến lợc có tầm
quan trọng đặc biệt đối với Đảng và Nhà nớc ta để đa nớc ta đi lên góp
phần thực hiện mục tiêu "dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn
( )
8
Luận Văn Tốt nghiệp
minh". Đó là một trong những yếu tố quyết định để phát huy tiềm năng về
đất đai, lao động và các nguồn lợi tự nhiên khác nhằm thực hiện các mục
tiêu chiến lợc Nông nghiệp.
Sản xuất Nông nghiệp đã đóng góp 80% giá trị tổng sản phẩm xã hội
góp phần lớn đa giá trị tổng sản lợng tăng, GDP đầu ngời tăng, tăng trởng
kinh tế.
Từ những nhận định đến thực tế đối với Nông nghiệp Việt Nam ta có
thể khẳng định đợc vai trò của kinh tế hộ sản xuất đã và đang đóng góp
một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế đất nớc nói chung, trong
nền kinh tế Nông nghiệp nói riêng, cụ thể:
- Kinh tế hộ phát triển có thu hút nhiều tầng lớp lao động trong xã
hội, trớc hết là lực lợng lao động phổ thông đang d thừa trong nông thôn.
Dự báo từ nay đến năm 2000 dân số nớc ta khoảng 75 đến 80 triệu ngời,
trong đó có 45 triệu lao động, 75% số lao động này là ở nông thôn. Vì thế
việc thu hút lao động trong lĩnh vực kinh tế hộ ở Nông nghiệp là có ý
tạo ra sản phẩm hàng hoá (H). Còn giai đoạn từ H-T là giai đoạn Doanh
nghiệp bán đợc sản phẩm hàng hoá (H) thu tiền về (T), lúc này nếu Doanh
nghiệp tiếp tục ngay chu kỳ sản xuất tiếp theo thì không có vấn đề gì lớn
cần nói, nhng đối với Doanh nghiệp theo thời vụ hay vì lý do gì đó mà cha
tiếp tục chu kỳ sản xuất tiếp theo đợc thì rõ ràng các Doanh nghiệp đó
đang thừa vốn.
Quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn không đều giữa các đơn vị
dẫn đến tình trạng trong cùng một thời gian có hiện tợng Doanh nghiệp
này thừa vốn nhng Doanh nghiệp khác lại thiếu vốn và ngợc lại.
Để giải quyết mâu thuẫn về vốn, các đơn vị sản xuất lại phải tự điều
chỉnh bằng quan hệ tín dụng thơng mại. Tuy nhiên quan hệ tín dụng thơng
mại có nhợc điểm lớn là chỉ thực hiện đợc trong phạm vi rất hạn chế,
không đáp ứng nhu cầu vốn của quá trình tái sản xuất mở rộng. Nh vậy
chỉ dựa trên quan hệ này thì không thể đáp ứng đợc nhu cầu vốn sản xuất
cũng nh tiếp nhận hết đợc số vốn d thừa trong xã hội. Vì nhu cầu không
phù hợp nhau dẫn đến vốn không đáp ứng đợc về quy mô và thời hạn...mà
chỉ có tín dụng Ngân hàng là tổ chức sẵn sàng tiếp nhận hết đợc các
nguồn vốn nhàn rỗi dới các hình thức tiền gửi của dân c, các tổ chức kinh
tế...và cho vay đối với các Doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và dân c
thiếu vốn sản xuất.
( )
10
Luận Văn Tốt nghiệp
Ngân hàng là trung gian lớn nhất điều chỉnh vốn từ ngời thừa vốn
sang ngời thiếu vốn và ngợc lại.
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nh ợng
tạm thời một lợng giá trị dới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật từ ngời sở hữu
sang ngời sử dụng để sau một thời gian nhất định thì lợng giá trị đó đã trở
về tay ngời sở hữu nhng lớn hơn lợng giá trị ban đầu với những điều kiện
mà hai bên đã thoả thuận với nhau (lợi tức, thời hạn...).
về mặt tiền tệ, tín dụng Ngân hàng. Các Ngân hàng thơng mại với chức
năng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, thanh toán dịch vụ Ngân
hàng. Từ tháng 10 năm 1990 hệ thống Ngân hàng đợc sắp xếp theo khuôn
khổ pháp lý về kinh doanh tiền tệ. Pháp lệnh Ngân hàng hình thành trật tự
quản lý mới theo sự quản lý của Nhà nớc.
Sau khi hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời hệ thống Ngân hàng thơng
mại bao gồm Ngân hàng công thơng, Ngân hàng ngoại thơng, Ngân hàng
đầu t và Ngân hàng Nông nghiệp. Hai luật Ngân hàng Nhà n ớc và luật các
tổ chức tín dụng đợc Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ tháng
10 năm 1998 đã góp phần khẳng định vị thế của hệ thống Ngân hàng và đa
hoạt động của các Ngân hàng thơng mại vào thế ổn định mà luật đã quy
định.
Trong nền kinh tế thị trờng các Ngân hàng thơng mại hoạt động theo
cơ chế là một Doanh nghiệp, thông qua hoạt động tín dụng các Ngân hàng
thơng mại đã tự thải loại những khách hàng là Doanh nghiệp, t nhân và cá
thể không thể đứng vững và đi lên với tốc độ phát triển chung của nền
kinh tế tín dụng, Ngân hàng cũng đã tự lựa chọn khách hàng cho mình,
những Doanh nghiệp không đủ khả năng trả nợ hoặc kinh doanh không có
hiệu quả thì không đầu t. Từ đó tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp có su
hớng làm ăn tốt ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển thông qua việc thu hút vốn và đầu t, các Ngân hàng thơng mại đã
thúc đẩy nền kinh tế phát triển, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn
minh.
Trong nền kinh tế thị trờng, tín dụng Ngân hàng đã thực sự phát huy
hiệu quả cụ thể là:
Hiệu quả về mặt kinh tế.
( )
12
Luận Văn Tốt nghiệp
- Tín dụng Ngân hàng nhằm bổ sung nhu cầu vốn lu động phát sinh
Tín dụng Ngân hàng đối với hộ nông dân sẽ giải quyết các vấn đề ách
tắc trong sản xuất (thiếu vốn). Tạo điều kiện thu nhập cao, đời sống đầy
đủ, ổn định...
b- Vai trò của tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp với kinh tế hộ sản
xuất nớc ta hiện nay:
Ngân hàng Nông nghiệp có một thị trờng tín dụng rộng, trải đều trên
khắp đất nớc, với mục đích tạo ra thị trờng Tài chính tại nông thôn, mở
địa bàn đầu t tín dụng thúc đẩy sản xuất Nông nghiệp phát triển.
Đầu t tín dụng là nguồn vốn lớn nhất, là thị trờng tín dụng chủ yếu tại
địa phơng. Trong đầu t phát triển Nông nghiệp, nó thực sự mang lại lợi ích
đối với sản xuất và kinh doanh. Đây là cầu nối giữa sản xuất và lu thông
hàng hoá với lu thông tiền tệ. Điều chủ yếu để chuyển nền kinh tế Việt
Nam và Nông nghiệp Việt Nam sang xản xuất hàng hoá theo cơ chế thị tr -
ờng là việc hình thành một thị trờng Tài chính sống động và đa dạng ở
nông thôn. Theo nghĩa rộng thì thị trờng Tài chính là tổng hoà nhiều hoạt
động tín dụng, lu thông vốn ở nông thôn, tín dụng Ngân hàng là cầu nối
giữa ngời có vốn tạm thời nhàn rỗi và ng ời có nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh.
Tín dụng Ngân hàng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập
trung rộng đất, vốn để chuyển nhanh kinh tế hộ sản xuất hàng hoá. Hiện
nay ở nông thôn Việt Nam có rất nhiều hộ nông dân có đất nhng không
sản xuất Nông nghiệp họ có nghề khác phù hợp hơn nên số đất đợc chia
họ cho thuê mợn...Bên cạnh đó lại có những hộ có khả năng sản xuất
Nông nghiệp, có lao động, có vốn lại biết cách làm và tính toán có hiệu
quả, họ muốn mở rộng quy mô sản xuất nên phải thuê mớn đất, đấu thầu
đất...nếu số vốn không đủ họ phải đi vay các tổ chức tín dụng. Bởi vậy
đồng vốn tín dụng của Ngân hàng đã giúp cho họ khả năng giải quyết
nhiều vấn đề. Từ khi có đất họ có thể mua sắm trang thiết bị, máy móc, chi
phí để mở rộng sản xuất. Nếu quy mô sản xuất càng lớn thì sản lợng tăng,
tỉ trọng hàng hoá càng nhiều giúp họ thắng lợi trong cạnh tranh thúc đẩy
làm đợc. Cũng từ đó điều kiện mở mang nâng cao trình độ dân trí để nông
dân có thể tiếp thu và thực hiện chuyển giao công nghệ. Kỹ thuật tiên tiến
vào sản xuất Nông nghiệp. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong Nông nghiệp góp phần xây dựng nông thôn giàu mạnh và văn minh.
( )
15
Luận Văn Tốt nghiệp
Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát triển ngành nghề mới giải
quyết công ăn việc làm cho ngời lao động. Chính việc xây dựng cơ sở vật
chất, xây dựng các xí nghiệp chế biến nông sản, đầu t chuyển đổi cơ cấu
cây trồng...đã tạo công ăn việc làm thu hút lực lợng lao động dôi thừa
trong nông thôn.
Việc đầu t tín dụng của Ngân hàng đã khuyến khích hộ nông dân phát
triển sản xuất tạo ra nhiều hàng hoá cung cấp cho công nghiệp, xuất khẩu
giúp cho hộ nông dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tạo điều
kiện thuận lợi cho Nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất mới với các hình thức chuyên môn hoá
thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng cờng hạch toán kinh tế. Nghị quyết 10 ra
đời cùng với những chính sách hỗ trợ kịp thời của Ngân hàng đã tạo cho
kinh tế Nông nghiệp Việt Nam có thêm sức lực mới.
Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất kinh tế lời ăn lỗ
chịu, cơ chế thị trờng là cạnh tranh do vậy đòi hỏi trình độ sản xuất cũng
phải đợc nâng cao, cơ cấu kinh tế hợp lý, hạch toán kinh tế sao cho chi phí
đầu vào thấp để thu đợc lợi nhuận cao. Chế độ chính sách cho vay của
Ngân hàng là phải đảm bảo thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và vốn vay phải
thực sự mang lại hiệu quả (tổ chức cho vay phải lấy nguyên tắc hiệu quả
kinh tế làm thớc đo nên đã đa kinh tế hộ từ sản xuất tự túc, tự cấp quen
dần với nền kinh tế hộ sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng).
- Tín dụng Ngân hàng còn mang lại hiệu quả về mặt xã hội.
Trớc đây cha có chính sách cho vay hộ nông dân, ngời dân thiếu vốn
tháng 6/1993 của Trung ơng Đảng khoá VII đã chỉ rõ:"...Mở rộng tín dụng
Nhà nớc và nhân dân tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, nhất là hộ nông
dân nghèo đợc vay vốn sản xuất kinh doanh".
Thực hiện chủ trơng này trong những năm qua, hình thức cho vay hộ
sản xuất đã khẳng định hớng đi đúng đắn, mang lại hiệu quả thiết thực góp
phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển Nông nghiệp ở nớc ta, giải quyết
nhu cầu vốn rất lớn của các hộ gia đình nông dân, có hộ nông dân là
khách hàng chính thống của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.
Sau những năm 1980 từ chỉ thị 100 của Ban bí th, nghị quyết 10 của
Bộ chính trị kinh tế gia đình xã viên dần đợc trở lại vị trí xứng đáng của
họ.
( )
17
Luận Văn Tốt nghiệp
Khoán 10 do Đại hội Đảng khoá VI đề ra có một bớc tiến quan trọng
về việc tổ chức lại sản xuất Nông nghiệp theo hớng mới sau khoán 10
(kinh tế hộ nông dân đã đợc xác định là một chủ thể sản xuất hàng hoá ở
nông thôn, nông dân phấn khởi hăng say sản xuất, sử dụng triệt để những
tài năng, tài nguyên, đất đai, vốn liếng, lao động cho sản xuất Nông
nghiệp. Là động lực để chuyển dịch nền sản xuất tiểu nông sang sản xuất
hàng hoá.
Ngày 25/8/1991 Hội đồng Bộ trởng đã ra chỉ thị 202/CP về cho vay
vốn hộ sản xuất nông - lâm - ng - diêm - nghiệp đã mở hớng đầu t cho
Ngân hàng và 3 năm sau ngày 02/03/1993 Thủ tớng Chính phủ ban hành
Nghị định 14/CP kèm theo quy định về chính sách cụ thể cho hộ sản xuất
vay vốn để phát triển nông - lâm - ng - diêm - nghiệp và kinh tế nông
thôn.
Cùng với sự biến động của nền kinh tế Nớc nhà hàng loạt các chính
sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc ra đời: Chính sách ruộng đất, đầu t đặc
biệt là chính sách đầu t tín dụng của Ngân hàng biến động theo.
hợp đồng tín dụng với Ngân hàng.
+ Hộ muốn đợc vay vốn Ngân hàng phải đảm bảo các điều kiện, phải
có dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế của
địa phơng, phải có vốn tự có và hộ vay phải có tài sản thế chấp, bảo lãnh,
cầm cố. Hộ vay phải chấp nhận sự kiểm tra giám sát của Ngân hàng trớc,
trong và sau khi nhận tiền vay.
+ Đối tợng cho vay đã đợc Ngân hàng cụ thể hoá theo từng loại vay
ngắn hạn trung và dài hạn (thực tế hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp chủ
yếu đầu t ngắn hạn và trung hạn).
Thời hạn cho vay đối với hộ phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh
doanh, khả năng hoàn vốn và tính chất nguồn vốn. Thời điểm hiện nay
thực hiện theo công văn 324 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc và quy
định 180 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp thì thời
hạn cho vay ngắn hạn tối đa không quá 12 tháng, cho vay trung hạn từ 12-
60 tháng, cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên nhng không qúa thời hạn
hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối
với các pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời
sống.
Mức cho vay:
( )
19
Luận Văn Tốt nghiệp
Ngân hàng Nông nghiệp căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng,
vốn tự có tham gia vào dự án, phơng án sản xuất kinh doanh, tỷ lệ cho vay
tối đa so với giá trị tài sản làm đảm bảo theo quy định của Nhà nớc - Ngân
hàng Nhà nớc và hớng dẫn của Ngân hàng Nông nghiệp, khả năng trả nợ
của khách hàng, khả năng nguồn vốn của Ngân hàng để quyết định mức
cho vay.
+ Đối với cho vay ngắn hạn khách hàng phải có tối thiểu vốn tự có
bằng 20% tổng nhu cầu vốn.
I. Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phơng.
Nguyên Bình là huyện vùng cao của tỉnh Cao Bằng, trung tâm huyện
cách Thị xã Cao Bằng 46km nằm ở phía Tây của tỉnh, tiếp giáp với các
huyện bạn Thông Nông, Ngân Sơn, Hoà An, Bảo Lạc và Ba Bể. Huyện có
địa hình phức tạp, một số vùng cao thiếu nớc sinh hoạt và sản xuất, đặc
biệt là đối với vùng núi đá. Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính gồm 2 thị
trấn và 18 xã (trong đó có 13 xã thuộc vùng III). Dân số toàn huyện
37.801 ngời, mật độ 46 ngời/km
2
, gồm 8 dân tộc anh em chung sống.
(Kinh, Tày, Nùng, Dao, Ngái, Mông, Hoa, Cao Lan...). Trong đó dân tộc
Dao chiếm đa số. Trình độ dân chí nhìn chung còn thấp, đời sống nhân
dân còn nhiều khó khăn, kinh tế nông nghiệp sản xuất có tính chất tự túc,
tự cấp, thu nhập bình quân mới đạt 1,4 triệu đồng / năm / ng ời.
Về cơ sở hạ tầng còn yếu kém, giao thông đi lại khó khăn, hiện còn 4
xã cha có đờng ô tô đến trung tâm xã đó là xã Mai Long, xã Hng Đạo,
Triệu Nguyên, Quang Thành. Về đất đai tự nhiên của huyện hình thành 2
vùng núi đá và núi đất rõ rệt. Kèm theo đó là điều kiện canh tác và phát
triển kinh tế nông thôn ở từng vùng có những thuận lợi, khó khăn khác
biệt nhau.
Toàn huyện có diện tích đất đai tự nhiên là 83.720ha trong đó diện
tích canh tác lúa nớc 5.239 ha chiếm tỷ lệ 6% đất đai toàn huyện, diện tích
này hầu hết là đất đai phì nhiêu mầu mỡ. Toàn huyện có nhiều tiểu vùng
khí hậu phù hợp với sinh trởng của các loại cây quý hiếm. Huyện có u thế
rất mạnh về công nghiệp khai khoáng nh thiếc, quặng, sắt, ra đi um, vàng
sa khoáng... là những ngành nghề truyền thống từ lâu đời.
Về lâm nghiệp có diện tích đất trồng cây ăn quả, cây xuất khẩu rất
lớn.
Mặc dù là 1 huyện miền núi cao có nhiều dân tộc nhng dân huyện
Nguyên Bình sống yên ấm, đàm bạc thơng yêu lẫn nhau trong khối đại
Tổng sản lợng lơng thực qua các năm đều tăng, năm sau cao hơn năm
trớc. Năm 1995 đạt 10.600 tấn, năm 1996 đạt 10.950 tấn, năm 1997 đạt
11.460 tấn, năm 1998 đạt 11.800 tấn, năm 1999 đạt 12.300 tấn.
Có đợc kết quả trên do huyện luôn luôn quan tâm phát triển sản xuất,
đặc biệt chú trọng khâu giống mới có năng suất cao, cung ứng đầy đủ
giống cho nông dân, công tác khuyến nông đợc chú trọng, các dịch vụ:
Phân bón, thuốc trừ sâu luôn luôn đảm bảo nhất là công tác Thuỷ lợi đợc
đặc biệt chú trọng.
Đã chỉ đạo phát triển vùng cây ăn quả, vùng cây xuất khẩu phát triển
theo hớng sản xuất hàng hoá phù hợp, chú trọng cải tạo v ờn tạp và trồng
mới đa diện tích cây trồng xuất khẩu (nh trúc, gỗ lát...) lên 4.500 ha đạt
sản lợng xuất khẩu 50.700 tấn / năm.
( )
23
Luận Văn Tốt nghiệp
Chăn nuôi đàn gia súc tăng 4%, bình quân mỗi hộ 1,2 con bò, 2,7 con
lợn, sản lợng thịt tăng 5%. Phát triển phong trào chăn nuôi cá ở ao, hồ, cá
ruộng và các con đặc sản khác nh Rắn để xuất khẩu....
Đối với Lâm nghiệp, đã chuyển hớng rất mạnh, lấy khoanh nuôi, tái
sinh rừng, bảo vệ rừng là chính, kết hợp giao đất, giao rừng, trồng mới
tăng nhanh vốn rừng. Thực hiện giao đất giao rừng cho hộ quản lý chăm
sóc và trồng mới gắn với đầu t vốn theo các dự án và công tác khuyến lâm.
Từ 1995 đến nay diện tích rừng trồng mới đạt 121 ha. Trong đó: năm
1995 trồng 28,6 ha, năm 1998 đạt 92,9 ha gồm 86,3 ha trúc sào và 35,3 ha
thông.
Khoanh nuôi rừng 7.341 ha rừng đầu nguồn Sông Hiến.
Phong trào phát triển kinh tế vờn đồi, vờn rừng theo mô hình VAC
nông lâm kết hợp đang từng bớc đợc mở rộng và đem lại hiệu quả đang
khích lệ, các dự án nhỏ, vốn quốc gia giải quyết việc làm, vốn cho vay hộ
sản xuất của Ngân hàng Nông nghiệp huyện đã thúc đẩy rõ rệt kinh tế v ờn
bản đợc chỉ đạo chặt chẽ đi vào nề nếp, đúng qui định của Nhà n ớc đã tạo
điều kiện để thu hút vốn đầu t và sử dụng vốn có hiệu quả cao.
5) Phát triển mạnh hệ thống giao thống nông thôn với phơng châm
nhà nớc và nhân dân cùng làm. Trong 5 năm qua đã huy động đợc 71.882
ngày công đào đắp sửa chữa và làm mới đợc 239 km đờng liên thôn, liên
xóm tạo điều kiện thông thơng về kinh tế.
6- Kinh tế dịch vụ, thơng mại, xuất khẩu phát triển chiếm tỷ trọng
đáng kể trong cơ cấu kinh tế. Thị trờng vật t hàng hoá phong phú, việc
xuất khẩu quặng thiếc, quặng sắt đạt kim ngạch xuất khẩu 3,5 triệu
USD/năm.
Công tác tài chính Ngân hàng có nhiều cố gắng, tăng thu ngân sách
trên địa bàn mỗi năm tăng 15,94% đáp ứng tốt hơn công tác đầu t và chi
tiêu tại địa phơng.
Về phía Ngân hàng nông nghiệp huyện đã thực hiện tốt việc chuyển
mạnh kinh doanh, tăng khả năng huy động vốn trên địa bàn, mở rộng hình
thức cho vay để phát triển sản xuất, phát triển Ngân hàng lu động, đáp ứng
vốn cho thời vụ vùng sâu, vùng xa, phục vụ tốt việc cung ứng vốn cho các
thành phần kinh tế.
Dới sự lãnh đạo của Huyện Uỷ, UBND huyện Nguyên Bình, có sự đầu
t cho vay vốn phát triển kinh tế theo định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, lấy sản xuất nông, lâm nghiệp là thế mạnh sẵn có của địa phơng để phát
triển, đến nay trong toàn huyện đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế -
xã hội - nền kinh tế nhiều thành phần đã đợc hình thành và phát triển,
quan hệ sản xuất đợc điều chỉnh một bớc quan trọng trên cả 3 mặt: Quan
hệ sở hữu, chế độ phân phối, cơ chế quản lý, đời sống nhân dân các dân
tộc ngày càng đi lên.
II/ Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng Nông nghiệp huyện Nguyên Bình.
( )
25