QUẢN LÝ VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT NGOÀI CÔNG LẬP - Pdf 28

MỤC LỤC
Nội dung Trang
Mở đầu 3
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4
4. Giả thiết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Phạm vi nghiên cứu 5
PHẦN I
Cơ sở lý luận về công tác giáo dục đạo đức học sinh THPT
6
I. Một số khái niệm của đề tài 6
II. Đặc điểm về tâm lý và một số tác động đến đạo đức học sinh bậc
THPT
6
III. Các hoạt động của học sinh 8
IV. Vấn đề quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh cho học sinh trong
trường THPT
9
PHẦN II
Thực trạng của công tác chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức học sinh ở trường THPT ngoài công lập
15
I. Thực trạng chung 15
II. Khái quát về nhà trường năm học 2011 - 2012 15
III. Những kết quả đã đạt được trong công tá giáo dục ở nhà trường 16
IV. Những nguyên nhân và tồn tại 16
PHẦN III
Một số biện pháp giáo dục đạo đức học sinh các trường THPT ngoài

III. Kiểm chứng trên nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp đã nêu
26
Kết luận và khuyến nghị 28
Kết luận 28
Khuyến nghị 28
2
QUẢN LÝ VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG
THPT NGOÀI CÔNG LẬP
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, đất nước ta có nhiều đổi mới trong lĩnh vực kinh tế và
xã hội, một nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước. Trong công cuộc đổi mới nước ta đã giành được nhiều thành
tựu to lớn về kinh tế, xã hội, văn hoá- giáo dục.
Bên cạnh mặt tích cực, mặt trái của cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng tiêu cực
đến sự nghiệp giáo dục, trong đó suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác
động đến đa số thanh niên và học sinh như: Có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và
hoài bão, lập thân, lập nghiệp. Thêm vào đó sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông
qua các phương tiện như phim ảnh, games, Internet… làm ảnh hưởng đến quan niệm
sống, tình bạn, tình yêu lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các em chưa
được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này. Đánh giá thực trạng Giáo duc- Đào
tạo Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã nhấn mạnh “Đặc biệt lo ngại là một bộ
phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo
lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và
đất nước. Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức, ý thức
công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh…tổ chức cho
học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và yêu
cầu giáo dục toàn diện”. Phát biểu trong hội thảo vừa qua, thứ trưởng bộ Giáo dục và
Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển khẳng định “Vấn đề giáo dục đạo đức hiện rất cấp bách vì

và công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT nói chung và trường THPT
ngoài công lập nói riêng tỉnh Hải Dương, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện cho học sinh trong nhà trường
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh ở trường THPT ngoài công lập tỉnh Hải Dương
3.2. Khách thể nghiên cứu.
Công tác quản lý học sinh và công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT
mà chúng tôi đang công tác là trường ngoài công lập; có tham khảo các trường THPT
ngoài công lập khác ở tỉnh Hải Dương.
4. Giả thiết nghiên cứu
Việc quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT ngoài công lập
tỉnh Hải Dương đã có nhiều kết quả tốt song vẫn còn nhiều tồn tại do một số yếu tố
chủ quan và khách quan nhất định. Nếu sử dụng những biện pháp quản lý công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh như đã trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm này thì
công tác giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT ngoài công lập tỉnh Hải
Dương sẽ thu được kết quả tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở khoa học của việc quản lý và giáo dục đạo đức học sinh ở các
trường THPT ngoài công lập tỉnh Hải Dương
- Khảo sát đánh giá thực trạng học sinh ở nơi công tác là trường ngoài công lập
và các trường ngoài công lập trong tỉnh Hải Dương
- Đề xuất những biện pháp để việc quản lí học sinh và giáo dục đạo đức đạt hiệu
quả tốt hơn.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu qua các văn bản tài liệu; Phân tích, tổng hợp, hệ thống
hoá các tài liệu, các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nghị quyết,
4
chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về quản lý công tác quản lý
và giáo dục đạo đức cho học sinh.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THPT
I- Một số khái niệm cơ bản trong đề tài.
1. Khái niệm về biện pháp
Đến nay, đã có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về biện pháp
nhưng theo nghĩa chung nhất thì biện pháp được hiểu là cách làm để thực hiện một
công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra.
Chúng ta cần phân biệt khái niệm biện pháp với một số khái niệm tương tự như
phương pháp, giải pháp, cách thức. Điểm giống nhau của các khái niệm này là đều nói
về cách làm, cách tiến hành một công việc. Tuy vậy, giữa các khái niệm cũng có
những điểm khác nhau. Biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động
cụ thể còn phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau.
2. Khái niệm về biện pháp quản lý giáo dục
Để hiểu khái niệm biện pháp quản lý giáo dục chúng ta cần xét thêm một số khái
niệm có liên quan sau đây:
- Khái niệm về quản lý
Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách
thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích
của tổ chức.
- Khái niệm giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý
thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được
những thói quen hành vi đạo đức.
- Quản lý giáo dục đạo đức
Từ khái niệm quản lý và khái niệm giáo dục đạo đức nêu trên, chúng ta có thể
định nghĩa: Quản lý giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể tới khách
thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn bằng
cách hiệu quả nhất.
- Biện pháp quản lý và công tác giáo dục đạo đức học sinh
Qua phân tích ở trên chúng tôi đi đến khái niệm: Biện pháp quản lý và công tác

người Việt nam ra nước ngoài làm ăn sinh sống, một số gia đình trở lên giàu có vượt
chội so với mức thu nhập chung, các luồng văn hoá qua tiếp xúc trực tiếp, qua du lịch,
phim ảnh …đã du nhập vào nước ta lối sống hưởng lạc, tiêu sài sa xỉ, tiêu tiền theo
kiểu “đại gia”. Trong khi đó nước ta với một nền kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó
khăn, đa số người dân có thu nhập và mức sống thấp. Vấn đề này dẫn tới một số
người dân trong đó phần lớn là lứa tuổi học sinh, sinh viên đua đòi, tiêu sài quá mức,
khi không có tiền thì xuất hiện hiện tượng trộm cắp, lừa đảo, cắm kí và các tệ nạn
khác. Mặt khác một số người quá coi trọng đồng tiền, lên mặt dạy đời vì họ nghĩ có
tiền là giỏi hơn mọi người khác, những người có mức sống trung bình và thấp cảm
thấy tự ti, đôi khi họ cảm thấy bất công vì họ rất chịu khó làm ăn nhưng cũng không
thoát khỏi cảnh khó khăn, quan hệ về tình cảm con người, về các chuẩn mực đạo đức
bị thay đổi, nhiều người trong xã hội còn nói câu cửa miệng với nhau “ Văn hay chữ
tốt, không bằng thằng dốt lắm tiền” điều đó ảnh hưởng rất lớn tới suy nghĩ và động cơ
của lớp trẻ.
Việc mở rộng các khu công nghiệp, các dự án vui chơi giải trí như sân gôn…lấy
đi những mảnh ruộng vốn là nền tảng cho cuộc sống sinh nhai ở nông thôn và những
nơi cận thành, những người dân nhận được tiền đền bù, mua sắm, xây dựng nhà cửa,
tiêu sài, nhiều trường hợp có tiền sinh ra con cái, thậm trí bố mẹ cũng xa vào các tệ
nạn xã hội; đồng tiền sử dụng không hiệu quả và không có mục đích duy trì cuộc sống
lâu dài; chỉ một hai năm là người dân tại các khu đó tiền thì hết, việc làm không có,
thói quen tiêu sài và các tệ nạn thì vẫn lưu lại từ già đến trẻ; một số người đi xa để
kiếm việc làm. Đó cũng là lí do làm tăng tệ nạn xã hội và thói đua đòi, lêu lổng
7
- Về phía gia đình: Sự thay đổi về kinh tế, xã hội làm thay đổi về nhận thức, đạo
đức, lối sống nhiều hơn so với những thành viên lớn tuổi như ông bà, cha mẹ; do vậy
nhiều quan điểm không có được sự đồng thuận trong cuộc sống ở ngay chính gia
đình, từ lứa tuổi cuối cấp THCS và bậc THPT rất nhiều gia đình có sự mâu thuẫn giữa
con cái và bố mẹ, có những trường hợp đến mức gay gắt, điều này tạo nên không khí
căng thẳng và con cái không muốn gần gũi tâm sự với bố mẹ, bố mẹ đôi khi thấy bất
lực. Mặt khác để thoả mãn nhu cầu kinh tế ngày càng tăng, cha mẹ lao vào công việc

Phương tiện hoạt động học tập là thư viện, sách vở, phòng thí nghiệm và các
thiết bị môn học kèm theo.
Các quá trình tâm lý diễn ra trong quá trình học tập của học sinh với nhịp độ
căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ, về cảm xúc và tính tích cực, chủ động trong hành
động.
8
Những nét đặc trưng trong hoạt động học tập của học sinh có tính độc đáo về
mục đích và kết quả hoạt động. Đó là quá trình nhận thức dưới sự hướng dẫn của giáo
viên. Học sinh THPT học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kĩ
năng, kĩ xảo, phát triển và từng bước hình thành những phẩm chất của nhân cách.
- Hoạt động tập thể của học sinh.
Nhà trường THPT là một bộ phận cấu thành của xã hội. Việc giáo dục học sinh
của trường không thể tách rời khỏi guồng máy chung của xã hội. Cùng với việc phấn
đấu hoàn thành nhiệm vụ năm học, nhà trường phải gắn liền với các hoạt động của địa
phương, các phong trào do ngành phát động và tổ chức. Thông qua các hoạt động tập
thể mà dần dần hình thành lên nhân cách của học sinh.
Hoạt động tập thể của học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và
phong phú, từ tổ chức phong trào thi đua của học sinh và tổ chức Đoàn thanh niên đến
các hoạt động thực tiễn tham gia sản xuất, lao động công ích đóng góp xây dựng công
trình văn hoá, các công trình công cộng của nhà trường, tổ chức cổ động tuyên truyền
các chính sách của Đảng và Nhà nước, phong trào đền ơn đáp nghĩa
Qua hoạt động giúp học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức đã được học, đem kiến
thức vận dụng vào thực tiễn và từ thực tiễn sinh động để kiểm nghiệm, minh hoạ cho
những tri thức lý luận, những nguyên lý đã tiếp thu từ sách vở. Chính trong hoạt động
thực tiễn xã hội mà các mối quan hệ giao tiếp, các phẩm chất cần thiết của người lao
động như khả năng quan sát tinh vi, nhạy bén, óc tò mò khoa học, óc sáng tạo, năng
lực hoạt động thực tiễn được biểu hiện, được hình thành và phát triển.
Hoạt động tập thể của học sinh biểu hiện như là một sản phẩm của sự trưởng
thành về mặt xã hội. Cũng như các hoạt động khác, việc tham gia hoạt động của học
sinh cũng được kích thích bởi nhiều động cơ khác nhau: động cơ tự khẳng định tự

bộ, thống nhất.
- Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh là các phẩm chất đạo đức quan trọng
của nhân cách xã hội chủ nghĩa như lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, lòng
nhân ái và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa
Các nội dung này quy định nội dung công việc của các nhà giáo dục và các nhà
quản lý giáo dục trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Càng nắm vững nội
dung giáo dục, công tác quản lý càng cụ thể, càng có điều kiện để chỉ đạo công tác
giáo dục đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Các phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
Phương pháp giáo dục đạo đức là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục đạo
đức, nhằm thực hiện những mục đích và nhiệm vụ của giáo dục đạo đức, làm cho học
sinh nắm vững và thực hiện đúng đắn những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Có 3
nhóm phương giáo dục đạo đức cơ bản sau:
Nhóm các phương pháp thuyết phục:
Đây là nhóm phương pháp nhằm trang bị tri thức về các chuẩn mực xã hội, hình
thành niềm tin, tình cảm và ý thức cá nhân. Nhóm này gồm có các phương pháp sau:
Phương pháp đàm thoại: Thể hiện ở chỗ nhà giáo dục trao đổi ý kiến với học
sinh về một câu chuyện nào đó nhằm mục đích giúp họ hiểu đúng về các chuẩn mực
xã hội, có thái độ phù hợp Những câu chuyện đó thường có nội dung chính trị, tư
tưởng, đạo đức đa dạng và phong phú.
Nhiệm vụ của phương pháp này nhằm lôi cuốn học sinh để giúp các em phân tích
và đánh giá các sự kiện, hành vi, các hiện tượng trong đời sống xã hội, trên cơ sở đó
hình thành cho các em những thái độ đúng đắn với hiện thực xung quanh, đối với
những bổn phận của người công dân, những bổn phận chính trị, đạo đức của họ.
Phương pháp khuyên giải: Là phương pháp mà nhà giáo dục đưa ra những lời
khuyên cho đối tượng, giải thích cho đối tượng hiểu tại sao nên làm như thế. Khuyên
giải cũng nhằm thuyết phục đối tượng nghe theo, làm theo các chuẩn mực đạo đức
của xã hội.
10

sinh phải phải suy nghĩ, đấu tranh động cơ, xem xét lại hành động của mình có phù
hợp với các yêu cầu và chuẩn mực đạo đức hay không, phải lựa chọn quan điểm, thái
độ hành vi phù hợp.
Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử
của học sinh: Chức năng chính của nhóm phương pháp này là để động viên khuyến
khích những hành vi phù hợp và ngăn chặn hành vi không phù hợp của cá nhân hay
tập thể đối tượng giáo dục. Nhóm này gồm có các phương pháp sau:
Phương pháp khen thưởng: Là phương thức biểu thị thái độ đồng tình, sự đánh
giá tích cực của xã hội, của tập thể, của nhà giáo dục đối với những hành vi phù hợp
với chuẩn mực của cá nhân hoặc tập thể học sinh. Khen thưởng nhằm làm cho các cá
nhân và tập thể được khen cảm thấy tin tưởng, tự hào và tiếp tục làm nhiều điều tốt
đẹp hơn nữa.
11
Phương pháp trách phạt: Là phương thức biểu thị thái độ không tán thành, lên
án, phủ định của giáo viên, của tập thể, của xã hội đối với những hành vi của cá nhân
hay tập thể học sinh trái với các chuẩn mực đạo đức, để buộc cá nhân hay tập thể đó
từ bỏ những hành vi có hại cho xã hội. Trách phạt nhằm làm cho đối tượng bị trách
phạt ăn năn, hối lỗi từ đó quyết tâm điều chỉnh sự ứng xử, hành vi của mình theo đúng
các chuẩn mực đã định.
Phương pháp thi đua: Thi đua là tạo ra các phong trào hoạt động, tạo cơ hội và
điều kiện cho các cá nhân và tập thể phấn đấu vươn lên để khẳng định mình. Thi đua
là phương thuốc kích thích khuynh hướng khẳng định ở mỗi học sinh thúc đẩy họ đua
tài, gắng sức, hăng hái vươn lên, lôi cuốn người khác cùng tiến lên, giành cho được
những thành tích cá nhân và tập thể cao nhất. Thi đua kích thích sự nỗ lực, phát huy
sáng tạo, đề cao trách nhiệm, thực hiện tương trợ tập thể để cùng nhau tiến bộ.
2. Quản lý các con đường, hình thức tổ chức và các phương tiện giáo dục đạo
đức học sinh
- Quản lý các con đường và hình thức giáo dục
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh có thể tiến hành bằng nhiều con đường và
hình thức khác nhau như:

sinh là yếu tố quyết định trực tiếp đến đạo đức của các em. Sự hình thành và phát
triển đạo đức của mỗi cá nhân là một quá trình lâu dài và phức tạp. Trong quá trình
đó, các tác động bên ngoài và những động lực bên trong thường xuyên tác động lẫn
nhau và vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của mỗi
con người. Lứa tuổi học sinh, việc tự tu dưỡng, tự rèn luyện hết sức quan trọng. Việc
học sinh tự giác, tích cực rèn luyện có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thiện nhân
cách của các em. Nhà trường cần tạo cơ hội và điều kiện cho các em tự tu dưỡng và
rèn luyện nhân cách của mình.
Như vậy, sự hình thành đạo đức của học sinh do ảnh hưởng của tác động bên
ngoài mà trước hết là do tác động của giáo dục nhà trường, của tập thể, của gia đình
sẽ dần dần chuyển thành tự giáo dục của chủ thể học sinh mà trong đó tự tu dưỡng, tự
rèn luyện, tự hoàn thiện đạo đức nhân cách là yếu tố cơ bản, có tích chất quyết định
trực tiếp.
Các nhà quản lý cần nắm vững các con đường giáo dục này để quản lý công tác
giáo đạo đức cho học sinh một cách có hiệu quả.
- Quản lý các phương tiện giáo dục đạo đức cho học sinh
Các phương tiện để giáo dục đạo đức cho học sinh hết sức đa dạng và phong phú.
Việc quản lý các phương tiện này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh. Nếu quản lý tốt, các phương tiện sẽ có tác dụng tích cực trong việc hình
thành các phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh. Nếu quản lý không tốt, các phương
tiện sẽ trở nên vô tác dụng, thậm chí phản tác dụng, gây lãng phí trong giáo dục.
Phương tiện đầu tiên cần quản lý đó là các loại sách báo, tạp chí. Sách báo tạp
chí có tác dụng rất lớn trong việc hình thành tri thức về các chuẩn mực đạo đức cho
học sinh. Những sách tốt, có giá trị còn giúp học sinh định hướng giá trị, nâng cao
trình độ, tầm hiểu biết. Tuy vậy nếu không quản lý tốt, các loại sách độc hại sẽ xâm
nhập vào nhà trường sẽ làm hoen ố nhân cách học sinh, tạo cho các em những định
hướng trị sai lệch.
Phương tiện cần quản lý thứ hai trong nhà trường là các loại phim ảnh, mạng
internet. Phim ảnh, các thông tin trên mạng có nhiều giá trị đối với học sinh trong đó
có giá trị giáo dục. Nhưng những phim ảnh đồi trụy, cổ vũ lối sống bê tha, những

chức này thông qua quy chế hoạt động, chế độ sinh hoạt, thông qua các nội quy, quy
định của mình để tiến hành giáo dục đạo đức cho học sinh.
Các cán bộ tổ chức đoàn, Ban quản sinh, hội cha mẹ học sinh và bộ máy tổ chức
của nhà trường. Đây là lực lượng vừa tham gia quản lý học sinh vừa tác động giáo
dục các em. Lực lượng này cũng có vai trò to lớn trong công tác giáo dục đạo đức học
sinh.
Công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh cần chú ý đến ưu thế riêng của từng
lực lượng và tổ chức phối hợp các lực lượng cùng tham gia thì công tác giáo dục đạo
đức học sinh mới đạt hiệu quả cao.
KẾT LUẬN PHẦN I
Để giải quyết được nhiệm vụ đặt ra, trong đề tài này chúng tôi đã làm rõ một số
khái niệm có liên quan như: Thế nào là biện pháp, biện pháp khác với phương pháp
và giải pháp ở chỗ nào, thế nào là đạo đức và giáo dục đạo đức. Trong đó khái niệm
quan trọng nhất của đề tài là biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh. Từ các khái niệm trên chúng tôi đi đến các khái niệm công cụ của đề tài như sau:
Quản lý giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn bằng
cách hiệu quả nhất.
14
Về bản chất, quản lý giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của
chủ thể quản lý lên các thành tổ tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục đạo đức
nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức.
Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức là các việc làm, các tác động cụ thể
của chủ thể quản lý lên các khách thể quản lý nhằm làm cho hoạt động giáo dục đạo
đức đạt được mục đích đã đề ra một cách hiệu quả nhất.
Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức là các cách thức tác động cụ thể của
các nhà quản lý vào hệ thống bộ máy giáo dục, đặc biệt là các bộ phận phụ trách giáo
dục đạo đức cho học sinh, nhằm là cho quá trình giáo dục đạo đức đạt hiệu quả cao.
PHẦN II
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO

+ Phòng vi tính: 03 với 75 máy
+ Phòng nghe nhìn 03
+ Phòng tổ bộ môn: 05
+ Các phòng làm việc khác tương đối đầy đủ
- Học sinh chủ yếu là các con em nông nên dân trí chưa được cao, điều kiện kinh
tế nhiều gia đình còn khó khăn
III- Những kết quả đã đạt được trong công tác giáo dục ở nhà trường:
- Trong những năm qua, nhiều năm liền trường được công nhận là trường tiên
tiến, chi bộ Đảng đạt trong sạch, vững mạnh, Công đoàn và Đoàn thanh niên liên tục
được công nhận vững mạnh xuất sắc được tặng Bằng khen
- Đội ngũ nhà trường đoàn kết, có tính gắn bó cao. Phần lớn giáo viên và cán bộ
nhà trường còn trẻ, nhiệt tình trong công tác, năng nổ, sáng tạo trong công việc.
- Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp hàng
năm bao giờ cũng đạt và vượt mức trung bình của tỉnh. Chất lượng giáo dục đạo đức
ngày càng có sự chuyển biến rõ rệt, tỉ lệ học sinh vi phạm kỷ luật giảm. Không có học
sinh sử dụng ma tuý. Vị thế của trường được nâng cao rõ rệt.
Kết quả xếp loại đạo đức:
Năm học
Số học
sinh
Xếp loại đạo đức
Tốt Khá TB yếu Kỉ luật
Đuổi học
1 năm
2008-2009 1481 5
82
7
21
1
46

hoá.
* Nguyên nhân từ phía gia đình học sinh:
16
Hiện nay có một bộ phận cha mẹ học sinh do mải làm ăn, đi làm ăn xa hay ly hôn
nên thiếu sự quan tâm đến con cái. Đối với những trường hợp này việc giáo dục hầu
như giao phó cho toàn bộ nhà trường.
* Nguyên nhân từ phía xã hội:
Nhiều người cho rằng: Việc giáo dục đạo đức học sinh là trách nhiệm của nhà
trường, họ không chịu trách nhiệm nên khi cần có sự phối hợp giáo dục tỏ ra thờ ơ,
trốn tránh. Bên cạnh đó mặt trái của nền kinh tế thị trường và các tiêu cực xã hội đã
tác động trực tiếp tới các em.
* Nguyên nhân từ chính phía học sinh:
Học sinh các trường THPT ngoài công lập ở tỉnh Hải Dương là những em không
đỗ vào các trường công lập, một số em ở bậc tiểu học và các lớp đầu cấp THCS học
khá tốt và ngoan, nhưng vì nhiều lý do khác nhau những năm cuối bậc THCS như do
mải chơi, đua đòi… nên không thi đỗ vào các trường công lập, số học sinh này nhiều
em có tính tình rất “ngãng”, làm cho bố mẹ, giáo viên và những người khác rất khó
chịu khi tiếp xúc. Một bộ phận học sinh chưa có định hướng hoặc chưa xác định được
mục đích học tập và rèn luyện đúng đắn, động cơ học tập chưa cao, chưa tự giác chấp
hành nội quy, quy định của nhà trường
- Một số học sinh sống không có lý tưởng, hoài bão, lười học hoặc không trung
thực trong học tập, thiếu tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong
học tập, rèn luyện, ý thức vì cuộc sống cộng đồng thấp. Có thái độ thờ ơ, vô cảm
trước các hiện tượng đời sống xã hội.
- Việc khen thưởng, biểu dương người tốt, việc tốt chưa được kịp thời.
- Sự phối hợp giữa các tổ chức trong và ngoài nhà trường hiệu quả chưa cao.
- Một số học sinh sống buông thả, lười lao động, thiếu trách nhiệm, thực dụng, ý
thức tự rèn luyện chưa tốt
Vậy một điều rất rõ là học sinh ở các trường THPT ngoài công lập tỉnh Hải
Dương

cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp giáo dục nhân cách toàn diện
cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta
hiện nay.
II. Một sô biện pháp quản lý và giáo dục đạo đức học sinh trong tường
THPT ngoài công lập.
Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, nguyên nhân và một số tồn tại trong
công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở một số
trường THPT ngoài công lập, tôi đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT ngoài công lập tỉnh Hải Dương
1. Tăng cường việc quản lý học sinh trong nhà trường
Ngạn ngữ có câu: “Dạy đạo đức mà không rèn thói quen thì cũng vô nghĩa”;
18
vậy muốn giáo dục đạo đức học sinh trước hết phải làm tốt công tác quản lý học
sinh, học sinh phải có nền nếp tốt, thực hiện tốt các nội qui của nhà trường, có những
thói quen tốt về xưng hô, ứng xử, có ý thức trong việc giữ gìn cơ sở vật chất trong nhà
trường và nơi công cộng… sau đây xin đề xuất một số biện pháp và việc làm cụ thể
như sau:
1.1 Với giáo viên giảng dạy
Trong giờ dạy giáo viên phải luôn nhiệt tình, ân cần, tận tụy và thân thiện với
học sinh; một việc không kém phần quan trọng là phải quản lý tốt lớp học từ những
việc nhỏ nhưng thường xảy ra đó là có biện pháp nhắc nhở, quản lý để học sinh không
mất trật tự, làm việc riêng, ngả ngốn. Các biện pháp như động viên, nhắc nhở, ghi vào
nhận xét ở sổ đầu bài, thông tin và kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và Ban quản sinh
để cùng nhắc nhở giáo dục và quản lý học sinh để làm tốt công tác quản lý học sinh
trong giờ học
1.2 Với giáo viên chủ nhiệm
Luôn gần gũi, quan tâm tới học sinh trong lớp để nắm được tâm tư nguyện vọng,
tính cách của từng học sinh, động viên, chia xẻ với các em học sinh trong học tập và
cuộc sống; đặc biệt là những em học sinh cá biệt hoặc trong hoàn cảnh có vấn đề như
chán học, muốn bỏ học, bị đối tượng khác lôi kéo xa vào các trò chơi, tệ nạn…khi đó

năm nhà trường tổ chức tập huấn, hội thảo về công tác chủ nhiệm lớp, cho toàn
thể giáo viên trong đó chú trọng một số vấn đề như:
- Dựa vào luật giáo dục, những quy định của Bộ GD-ĐT, hiến pháp và pháp
luật của nhà nước, các văn bản chỉ đạo…thống nhất các quan điểm về việc quản lý
học sinh của trường; trên cơ sở đó có sự thống nhất về cách quản lý, xử lý học sinh vi
phạm, của Ban giám hiệu với Ban quản sinh và giáo viên chủ nhiệm
- Mời các đồng chí có nhiều kinh nghiệm về quản lý học sinh, đã làm tốt công tác
chủ nhiệm tham luận về kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm; các đồng chí còn
khiếm khuyết, còn băn khoăn về quản lý học sinh cũng tham luận đưa ra các tình
huống; các đồng chí giáo viên cùng thảo luận để rút ra kinh nghiệm, nhất là quản lý
và giáo dục học sinh cá biệt
* Tổ chức họp giao ban hàng tuần vào cuối tuần, thành phần gồm Ban giám
hiệu, Ban quản sinh, các đồng chí tổ trưởng chuyên môn; một trong những nội dung
quan trọng là nắm bắt được tình hình quản lý và vi phạm của học sinh để có những
chỉ đạo phù hợp với các hiện tượng xảy ra và các tình huống phát sinh
* Chỉ đạo để Ban quản sinh, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn và cha
mẹ học sinh, phối kết hợp tốt với nhau trong quản lý học sinh; ngăn chặn học sinh
nghỉ bỏ học và các hiện tượng vi phạm khác trong và ngoài trường học
* Sau mỗi kỳ có đánh giá chi tiết về công tác quản lý học sinh của giáo viên chủ
nhiệm, Ban quản sinh…việc này được đánh giá vào thi đua của giáo viên
2. Tăng cường việc tuyên truyền giáo dục pháp luật, nội quy nhà trường cho
học sinh và cha mẹ học sinh.
Trong các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh thì biện pháp tuyên truyền, giáo
dục pháp luật và nội quy nhà trường có thể xem là biện pháp quan trọng nhất và phải
được làm thường xuyên.
Hàng năm nhà trường thường đón nhận khoảng gần 500 học sinh vào học lớp 10.
Đây là đối tượng học sinh mới chuyển cấp học, phạm vi tiếp xúc, môi trường học tập
và sinh hoạt thay đổi, do vậy cần tuyên truyền cho các em nắm được những nội dung
cơ bản của pháp luật và nội quy của nhà trường, giúp các em chủ động hoà nhập với
cuộc sống xã hội. Để thực hiện biện pháp này cần tiến hành một số nội dung sau:

Đối với cán bộ Đoàn thanh niên, quản sinh, bảo vệ , yêu cầu phải nắm bắt các
chủ trương của Đảng, chính quyền để có định hướng cho mọi hoạt động của đoàn
viên trong toàn trường.
Đối với giáo viên, giáo viên chủ nhiệm trong toàn trường, cần nâng cao ý thức
trách nhiệm về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các bài giảng, tiết
giảng, qua các giờ sinh hoạt lớp, qua sự mẫu mực của nhà sư phạm và qua các hoạt
động ngoại khoá với tập thể các lớp.
Để mọi người nắm được tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh, có thể tổ chức các hình thức hoạt động sau:
Tổ chức Hội thảo về giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh để
mọi người trao đổi và hiểu biết hơn về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức,
quản lý giáo dục đạo đức.
Tuyên truyền, vận động thông qua các phong trào thi đua như "Kỷ cương, tình
thương, trách nhiệm", "Lá lành đùm lá rách".
Thường xuyên lắng nghe học sinh phản ánh để hiểu tâm tư, nguyện vọng từ đó
điều chỉnh các hoạt động giáọ dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho phù hợp
từ nhận thức, suy nghĩ và hành động trong hoàn cảnh thực tiễn của nhà trường hiện
nay.
21
Tổ chức hội thảo bàn về đạo đức, giáo dục đạo đức cho cán bộ giáo viên, công
nhân viên và học sinh trong toàn trường giúp cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về
công tác giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức.
4. Xây dựng cảnh quan môi trường "Xanh, sạch, đẹp"
- Môi trường "Xanh, sạch đẹp" được thể hiện ngay từ cổng trường làm cho học
sinh khi mới bước chân vào công trường đã có ngay cảm giác về một ngôi trường gọn
gàng, ngăn nắp, sạch đẹp sẽ tạo cho các em có cảm giác trân trọng, nâng niu, giữ gìn.
- Các công trình của nhà trường như lớp học, sân trường, nhà vệ sinh, khu vực
uống nước phải được bố trí hợp lý khoa học học và luôn có bảng hướng dẫn và nhắc
nhở các em học sinh luôn có ý thức giữ gìn. Bên cạnh các công trình này luôn bố trí
hê thống thùng đựng rác.

giáo viên bộ môn đặc biệt với Đoàn cấp trên, các xã Đoàn trên địa bàn trường tuyển
sinh với Ban đại diện cho cha mẹ học sinh, tạo ra các hoạt động bổ ích, các hoạt động
của giáo dục chính trị, các hoạt động chính trị tư tưởng của Đoàn thanh niên được
lồng ghép trong hoạt đồng ngoài giờ lên lớp góp phần giáo dục đạo đức học sinh đạt
kết quả tốt.
Ban giám hiệu tạo mọi điều kiện cho Đoàn có cơ hội giao lưu học hỏi với các
Đoàn trường bạn, có phong trào hoạt động đoàn tốt để rút ra các kinh nghiệm đồng
thời giáo dục tinh thần đoàn kết trong đoàn viên thanh niên.
Ban chấp hành Đoàn trường thực hiện và giám sát ký kết vớí các đoàn viên thanh
niên không tham gia vào các tệ nạn xã hội.
Phải có sự phối hợp chặt chẽ, thông tin hai chiều giữa các Đoàn trường và Đoàn
xã trên địa bàn trường tuyển sinh.
Lễ ký kết giao và nhận các đoàn viên thanh niên cho Đoàn cơ sở các xã trong dịp
hè. Qua hoạt động này giúp trường nắm bắt được các thông tin đầy đủ về học sinh
chuẩn bị vào trường nắm bắt được các thông tin đầy đủ về học sinh chuẩn bị vào
trường cũng như học sinh về tham gia hoạt động hè tại địa phương, dựa vào kết quả
hoạt động hè tại địa phương để đánh giá nhận xét ý thức của đoàn viên thanh niên
trong một năm học.
6. Phát huy hoạt động tự quản của tập thể học sinh.
Tập thể học sinh là một tổ chức có cùng môi trường học tập, có cùng lứa tuổi là
nơi các em thể hiện những tâm tư tình cảm, bộc lộ bản thân vì thế người cán bộ quản
lý kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, Phải giúp các em xây dựng được một tập thể lớp
có kế hoạch tổ chức hoạt động tử quản.
Để phát huy được hoạt động tử quản của học sinh cần có sự đầu tư xây dựng
đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn. Cụ thể:
Ban cán sự lớp là những học sinh có phẩm chất, có năng lực, nhiệt tình và có uy
tín với tập thể lớp.
Để có đội ngũ này, Đoàn trường tham mưu với giáo viên chủ nhiệm thông qua
những thông tin nắm bắt được qua lễ bàn giao sinh hoạt hè với Đoàn cơ sở thông qua
quá trình rèn luyện với công tác thị trường.

trách nhiệm của xã hội : "Giúp nhà trường công tác hoạt động giáo dục góp phần
xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, ngăn chặn những
hành động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên ". Như vậy gia đình - xã hội có vai trò
rất lớn trong việc GDĐĐ học sinh.
- Thực hiện cam kết không vi phạm pháp luật, không điều khiển xe gắn máy đến
trường khi chưa đủ tuổi, không tham gia vào các tệ nạn xã hội giữa học sinh và công
an được làm thường xuyên trong năm học.
- Các giáo viên chủ nhiệm phải có trách nhiệm thông tin đầy đủ, thường xuyên,
kịp thời về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh đến BGH, đặc biệt là với cha mẹ
học sinh. Đồng thời phải nắm chắc tìm hiểu cụ thể những thông tin phản hồi từ phía
cha mẹ học sinh. Từ đó phối hợp với các gia đình để uốn nắn giáo dục học sinh khi sự
việc còn mới manh nha, tránh trường hợp xảy ra mới xử lý.
- Nhà trường cùng với Ban đại diện cha mẹ học sinh phải có sự liên hệ chặt chẽ
với chính quyền địa phương để quản lý học sinh.
- Trường hợp có học sinh vi phạm kỷ luật, BGH phải kết hợp với Ban đại diện
cha mẹ học sinh vi phạm để kịp thời giáo dục một cách nghiêm khắc. Sau đó phải có
kế hoạch theo dõi và giúp đỡ học sinh vi phạm tiến bộ.
- Để quản lý chặt chẽ học sinh ngay từ đầu năm học BGH, GVCN đã thống nhất
phương pháp hình thức quản lý chặt chẽ học sinh khi ở nhà thông qua Đơn xin nghỉ
học do nhà trường phát cho cha mẹ học sinh. Gia đình học sinh quản lý chặt chẽ tờ
đơn xin nghỉ học này và chỉ phát cho học sinh khi các em có lý do chính đáng phải
nghỉ học. Bằng cách này sẽ hạn chế được hiện tượng học sinh nghỉ học không có lý
do.
24
8. Tổ chức và đa dạng hóa các hình thức giáo dục, đạo đức học sinh thông
qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, đẩy mạnh hoạt động giáo dục truyền thống.
Theo điều 24 của điều lệ trường Trung học nhấn mạnh :"Hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường
tổ chức bao gồm hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn nghệ, thể dục, thể thao nhằm
phát triển năng lực toàn diện của học sinh Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của

gặp gỡ, giúp đỡ các gia đình khó khăn, gia đình có công với cách mạng để bồi dưỡng
lòng nhân ái, khoan dung, thân thiện với nhau.
Tổ chức tốt các đợt thi đua chào mừng các ngày lễ lớn trong năm học .
Mối quan hệ giữa các biện pháp
25

Trích đoạn Kiểm chứng trên nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã nêu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status