các giải pháp chủ yếu quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm - Pdf 28

Lời mở đầu
Kinh tế Việt Nam đang trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng và toàn diện. Việc gia nhập AFTA, WTO giúp chúng ta thu
hút đợc nhiều nguồn vốn đầu t trong và ngoài nớc, tạo động lực thúc đẩy nền
kinh tế tăng trởng và phát triển không ngừng. Một chân trời mới đã mở ra với
rất nhiều thuận lợi, cơ hội phát triển nhng cũng không ít khó khăn thách thức.
Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm gì để tồn tại và phát triển bền vững trớc sức
ép cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt?
Để đạt đợc những mục tiêu của mình, nhất là mục tiêu lợi nhuận và tăng
trởng bền vững, đòi hỏi các doanh nghiệp phải động não, tích cực, nhạy bén,
nắm bắt ngay các cơ hội. Nhng trớc hết, vũ khí đắc lực xuất phát từ nội tại
doanh nghiệp đó chính là chất lợng và giá cả. Doanh nghiệp không những cần
sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm mà còn phải tìm mọi biện pháp để hạ giá
thành sản xuất làm cơ sở cho việc định giá bán. Giá thành không chỉ là căn cứ
lập giá bán mà còn phản ánh kết quả của việc quản lý vật t, lao động, tiền vốn
tiết kiệm hay lãng phí, từ đó giúp cho các nhà quản lý biết đợc nguyên nhân ảnh
hởng đến giá thành để đề ra các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí sản xuất,
giảm giá thành sản xuất.
Vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là tìm mọi biện pháp để nâng
cao sức cạnh tranh và uy tín trên thơng trờng. Để làm đợc điều đó, các doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm, cải tiến mẫu
mã nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ng ời tiêu dùng và xã hội. Một
trong những biện pháp hữu hiệu đó là phải phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trờng.
Trong qúa trình thực tập tại Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ơng,
em đã nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá
thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với Công ty nói riêng.
Vận dụng những kiến thức đã học ở nhà trờng, nhờ sự hớng dẫn tận tình của thầy
1
PGS.TS Nguyễn Đăng Nam và các cô chú, các anh chị Phòng tài chính kế toán
Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ơng, em đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm

doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, một mặt doanh nghiệp tiêu
dùng một bộ phận nguồn lực (làm phát sinh chi phí), mặt khác lại tạo ra nguồn lực
mới dới dạng các sản phẩm, dịch vụ. Đây thực chất là quá trình tiêu dùng các yếu
tố sản xuất kinh doanh (t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động) để tạo
ra các sản phẩm, dịch vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
của xã hội. Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra gồm chi phí cho hoạt động đầu
t dài hạn, chi phí hoạt động kinh doanh và các chi phí hoạt động kinh tế khác.
Chi phí hoạt động kinh doanh là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến
hoạt động kinh doanh thờng xuyên của các doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận là chi phí sản xuất
kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính. Trong đó, chi phí hoạt động sản xuất
kinh doanh là các chi phí cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong khi tiến
hành sản xuất, các doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật t nh nguyên liệu, nhiên
liệu, vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, các công cụ, dụng cụ, trả tiền lơng, tiền
công cho công nhân viên Đó là những chi phí th ờng xuyên phát sinh, gắn liền
với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác
nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng nh
phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần
phải đợc phân loại theo những tiêu thức phù hợp.
3
1.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm, nội dung của chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của các loại vật t đã
tiêu hao, chi phí hao mòn máy móc, thiết bị, tiền lơng hay tiền công và các
khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất, bán hàng của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải luôn luôn
quan tâm đến việc quản lý chi phí, bởi vì nếu chi phí không hợp lý, hợp lệ đều

tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
Thông thờng có một số phơng pháp chủ yếu để phân loại chi phí sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung kinh tế của
chi phí (theo yếu tố):
Cách phân loại này dựa vào hình thái kinh tế nguyên thuỷ của chi phí
phát sinh không tính đến công dụng, địa điểm phát sinh của chúng trong quá
trình sản xuất (dựa vào nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của khoản chi phí đã
chi ra). Các yếu tố thuộc về đối tợng lao động sẽ đợc tính là mua từ bên ngoài.
Dựa vào căn cứ trên, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc chia
thành các yếu tố sau:
- Chi phí vật t: là toàn bộ giá trị các loại vật t mà doanh nghiệp mua từ
bên ngoài dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí
nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí phân bổ công cụ, phụ tùng thay thế, dụng cụ
lao động
- Chi phí tiền lơng và các khoản trích theo lơng: là toàn bộ các khoản tiền
lơng, tiền công mà doanh nghiệp phải trả cho ngời lao động tham gia vào hoạt
động sản xuất kinh doanh; các khoản trích nộp theo tiền lơng nh chi phí bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn mà doanh nghiệp phải nộp trong
kỳ.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
5
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả
cho các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn
vị khác ở bên ngoài cung cấp nh: Các khoản chi về tiền điện, tiền nớc, điện thoại,
văn phòng phẩm, tiền thuê kiểm toán, tiền thuê dịch vụ pháp lý, tiền mua bảo hiểm
tài sản, bảo hiểm tai nạn con ngời, tiền thuê thiết kế, chi phí thuê sửa chữa TSCĐ,
chi hoa hồng đại lý, môi giới, chi xúc tiến thơng mại
- Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí ngoài các khoản đã nêu
trên nh các khoản nộp về thuế tài nguyên, thuế đất, thuế môn bài, tiền thuê đất,

nh chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh, quản
lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn
doanh nghiệp nh: tiền lơng và các khoản phụ cấp trả cho Hội đồng quản trị, Ban
giám đốc và các nhân viển quản lý ở các phòng ban, chi bảo hiểm, kinh phí công
đoàn của bộ máy quản lý doanh nghiệp, các khoản chi phí vật liệu, đồ dùng văn
phòng, khấu hao TSCĐ chung cho doanh nghiệp; các chi phí bằng tiền, dự phòng
nợ phải thu khó đòi, phí kiểm toán, chi phí tiếp đón, khánh tiết, công tác phí, các
khoản trợ cấp thôi việc cho ngời lao động; các khoản chi phí nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu đổi mới công nghệ, chi thởng sáng kiến, chi phí đào tạo nâng cao tay
nghề của công nhân, chi bảo vệ môi trờng.
Cách phân loại chi phí này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí
và tính giá thành cho từng loại sản phẩm; có thể quản lý chi phí tại các địa điểm
phát sinh chi phí, quản lý tốt chi phí, khai thác các khả năng nhằm hạ giá thành
sảm phẩm của doanh nghiệp.
c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ giứa chi phí với quy mô sản
xuất kinh doanh:
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đợc chia làm hai loại là chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Chi phí cố định là chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể)
theo sự thay đổi của sản lợng sản xuất, hay quy mô kinh doanh của doanh
7
nghiệp. Thuộc về loại chi phí này gồm có: Chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí về
tiền lơng trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, các chi phí về thuê tài sản, thuê văn
phòng làm việc.
Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi theo sự thay đổi của sản lợng sản
xuất hay quy mô sản xuất.
Thuộc về loại chi phí này gồm các chi phí về vật t, chi phí tiền lơng công
nhân sản xuất trực tiếp, chi phí dịch vụ nh tiền điện, tiền nớc, tiền điện thoại
Khi quy mô sản xuất kinh doanh tăng thì chi phí cố định tính cho một

ra các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại
trừ.
- Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng
chính sách giá cả cạnh tranh đối với từng sản phẩm đợc đa ra tiêu thụ trên thị tr-
ờng.
Giá thành sản phẩm có thể phân loại theo các tiêu thức khác nhau:
a) Phân loại giá thành theo phạm vi tập hợp chi phí:
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành
sản xuất và giá thành toàn bộ của các sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ.
- Giá thành sản xuất bao gồm những khoản chi phí doanh nghiệp phải bỏ
ra để hoàn thiện việc sản xuất sản phẩm. Giá thành sản xuất sản phẩm đợc tính
theo công thức:
Giá thành sản
xuất sản phẩm
=
Chi phí vật t
trực tiếp
+
Chi phí nhân
công trực tiếp
+
Chi phí sản xuất
chung
- Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ của sản phẩm) là toàn
bộ chi phí để hoàn thành việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ đ-
ợc tính theo công thức:
Giá thành toàn
bộ của sản phẩm
=
Giá thành sản

Cách phân loại này có tác dụng đánh giá tình hình thực hiện tiết kiệm chi
phí và tình hình thực hiện giá thành sản phẩm so với giá thành sản phẩm kế
hoạch để quản lý và giám sát chi phí, xác định đợc các nguyên nhân vợt (hụt)
định mức chi phí trong kỳ kế hoạch. Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức
cho phù hợp.
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
10
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có
những mặt khác nhau:
Thứ nhất: Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra
chúng, còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với một khối lợng sản phẩm, dịch vụ
đã hoàn thành.
Thứ hai: Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp đợc phân thành các yếu
tố chi phí, có cùng một nội dung kinh tế, chúng không nói rõ địa điểm và mục
đích bỏ ra chi phí. Còn những chi phí nào phát sinh nói rõ địa điểm và mục đích
bỏ ra chi phí đó thì chúng đợc tập hợp lại thành các khoản mục để tính toán giá
thành sản phẩm, dịch vụ.
Thứ ba: Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trớc
của kỳ nhng cha phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trớc, nhng kỳ
này mới phát sinh thực tế, nhng không bao gồm chi phí phải trả kỳ này nhng
thực tế cha phát sinh. Ngợc lại giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí
phải trả trong kỳ và chi phí trả trớc đợc phân bổ trong kỳ.
Thứ t: Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản
phẩm hoàn thành mà còn liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm
hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản
phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhng lại liên quan đến chi phí sản xuất
của sản phẩm dở dang kỳ trớc chuyển sang. Mặt khác, do chi phí kỳ trớc
chuyển sang kỳ này và chi phí sản xuất cuối kỳ này chuyển sang kỳ sau thờng
không bằng nhau dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong kỳ th-
ờng không trùng nhau.

chi phí đó.
- Tài chính doanh nghiệp cần quản lý chi phí theo định mức đã xây dựng.
Xây dựng định mức chi phí là việc xác định số tiền tối thiểu để hoàn thành một
đơn vị sản phẩm, dịch vụ hoặc công việc. Khi xây dựng các định mức chi phí
cần phải đảm bảo tôn trọng các yêu cầu cơ bản dới đây:
12
+ Dựa vào tài liệu lịch sử, căn cứ vào tính chất của sản phẩm dịch vụ để
xem xét tình hình chi phí thực tế cả về hiện vật và giá trị liên quan đến đơn vị
sản phẩm, dịch vụ, công việc.
+ Phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của đơn vị
+ Đảm bảo tính khách quan, trung thực.
+ Xem xét các yếu tố ảnh hởng của thị trờng và các yếu tố khác tác động
đến việc xây dựng định mức chi phí trong kỳ.
Ngoài ra, hàng năm doanh nghiệp cần rà soát, xây dựng và bổ sung hệ
thống định mức lao động, tiền lơng, định mức tiêu hao vật t các loại, định mức chi
phí nhân công, chi phí vật t mua ngoài làm căn cứ quản lý và kiểm tra xem xét
trong kỳ doanh nghiệp thực hiện việc quản lý chi phí có chấp hành tốt các định
mức quản lý hay không. Việc xây dựng định mức chi tiêu trong quản lý doanh
nghiệp cần gắn liền với kết quả kinh doanh và có chứng từ hợp lệ.
Xây dựng các định mức chi phí sản xuất kinh doanh là công việc phức tạp
và khó khăn, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải chú ý đến đặc điểm tổ
chức sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý cụ thể, loại sản phẩm, dịch vụ, loại vật
liệu sử dụng cho từng loại sản phẩm, dịch vụ, địa điểm kinh doanh, nguồn hàng
cung cấp, đơn giá vật t, đơn giá lao động...
- Phải xác định đúng tính chất các chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh
để tính đúng chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Điều này đòi hỏi
ngời làm công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phải nắm chắc chế độ tài
chính doanh nghiệp, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm và năng lực quản lý đối
với hoạt động của doanh nghiệp.
13

i1
: Số lợng sản phẩm thứ i đợc sản xuất ra năm nay
Z
i0
: Giá thành đơn vị sản phẩm thứ i kỳ báo cáo
Z
i1
: Giá thành đơn vị sản phẩm thứ i năm nay
i: Sản phẩm so sánh thứ i (i= 1,n)
Tỷ lệ hạ giá thành của sản phẩm hàng hoá so sánh đợc, phản ánh số tơng đối
về chi phí sản xuất và tiêu thụ tiết kiệm đợc và xác định theo công thức:
T
Z
= x100

Trong đó: T
Z
: tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh đợc
M
Z
, Q
i1
, Z
i 0
: nh trên.
14
i =1
M
z
n

pháp giảm chi phí, hạ giá thành. Nhờ hạ giá thành mà doanh nghiệp có thể giảm
giá bán sản phẩm trên thị trờng, khiến nhiều ngời tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của
doanh nghiệp hơn do chất lợng tốt và giá cả phải chăng. Việc tiêu thụ đợc đẩy
mạnh giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh vòng quay vốn. Có thể nói
hạ giá thành sản phẩm là nhân tố quan trọng tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng
cao năng lực cạnh tranh.
15
- Hạ giá thành có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thêm sản
xuất sản phẩm, dịch vụ. Do doanh nghiệp đã tiết kiệm đợc các chi phí nguyên
nhiên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và
chi phí quản lý nên với khối lợng sản xuất nh cũ, nhu cầu vốn lu động đợc giảm
bớt. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp có thể rút bớt vốn lu động dùng trong sản
xuất hoặc có thể sử dụng lợng vốn lu động tiết kiệm đợc để mở rộng sản xuất
tăng thêm quy mô và khối lợng sản phẩm tiêu thụ.
1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến chi phí sản xuất kinh doanh
và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hay thấp
phụ thuộc và nhiều nhân tố. Song có thể chia thành 3 nhóm nhân tố chủ yếu:
1.3.1 Nhân tố về mặt kỹ thuật, công nghệ sản xuất
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học-
kỹ thuật và công nghệ sản xuất, các máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại đợc
sử dụng trong sản xuất ngày càng nhiều, tạo khả năng lớn cho việc tiết kiệm hao
phí lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình sản xuất. Vì vậy, doanh
nghiệp nào nắm bắt và ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học- kỹ
thuật vào sản xuất sẽ có đợc nhiều lợi thế hơn trong cạnh tranh, tiết kiệm đợc
chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
1.3.2 Nhân tố về mặt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính
doanh nghiệp
Nếu trình độ trang bị kỹ thuật hiện đại mà quản lý lại không tốt thì chi
phí không có xu hớng giảm mà còn có xu hớng tăng lên. Do vậy, phải tổ chức

xuất cạnh tranh, các doanh nghiệp phải chú trọng đầu t nhiều hơn cho đổi mới kỹ
thuật, công nghệ sản xuất, đào tạo lao động, quảng cáo tiếp thị Vì vậy cũng có
thể làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến việc quản lý chi phí sản xuất
và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Mỗi nhân tố có phạm vi và mức độ
17
tác động khác nhau, làm sao hạn chế ảnh hởng tiêu cực, phát huy tích cực nhằm
có biện pháp tăng cờng quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
1.4 Biện pháp quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp
1.4.1 Vai trò của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp trong việc
quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đa ra quyết định tài
chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt đợc mục tiêu hoạt động
tài chính doanh nghiệp, đó là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị
doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
Để tồn tại phát triển trong nền kinh tế thị trờng thì các hoạt động của
doanh nghiệp phải đợc đặt trên cơ sở của công tác hoạch định cả về chiến lợc và
chiến thuật. Xét trên góc độ tài chính, việc giám sát thờng xuyên đi sâu vào mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một biện pháp có hiệu quả
để thúc đẩy doanh nghiệp ra sức cải tiến công tác quản lý chi phí sản xuất, phấn
đấu hạ giá thành sản phẩm tăng khối lợng tiêu thụ. Thông qua giám đốc tài
chính sẽ chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu từ đó khai thác mọi tiềm năng của doanh
nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm là đảm bảo tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ đợc giá thành sản
phẩm. Việc quản lý không chỉ ở các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn ở mọi
giai đoạn của quá trình sản xuất từ:
- Khâu huy động vốn, đảm bảo vốn đầy đủ kịp thời cho hoạt động sản
xuất kinh doanh: Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp là xác định đúng

tài chính doanh nghiệp.
1.4.2 Một số biện pháp chủ yếu để quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh và hạ giá thành sản phẩm
1.4.2.1 Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
19
Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh là việc xác định toàn bộ mọi
khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để sản xuất và tiêu thụ sản xuất kỳ kế
hoạch. Thông qua việc lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh , doanh nghiệp có
thể kiểm tra tình hình sử dụng chi phí, phát hiện khả năng tiết kiệm chi phí để thúc
đẩy đơn vị cải tiến kinh doanh tăng lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở
rộng và cải thiện đời sống công nhân viên của đơn vị. Trong quá trình lập kế hoạch
chi phí sản xuất kinh doanh òi hỏi ngời quản lý phải tính đúng, tính đủ các chi phí
sản xuất kinh doanh để xác định chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời theo dõi động viên
các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện.
1.4.2.2 Quản lý và sử dụng lao động có hiệu quả để giảm chi phí tiền l-
ơng, tiền công để hạ giá thành sản phẩm
Muốn giảm chi phí tiền lơng và tiền công cần phải tăng nhanh năng suất
lao động. Để làm đợc nh vậy cần phải tiến hành cải tiến tổ chức sản xuất, tổ
chức lao động đào tạo bồi dỡng nâng cao trình độ kỹ thuật và tay nghề; hoàn
thiện định mức lao động, tăng cờng kỷ luật lao động, áp dụng hình thức tiền l-
ơng tiền thởng, trách nhiệm vật chất để ngời lao động gắn bó và có trách nhiệm
nâng cao năng suất lao động.
Sử dụng yếu tố con ngời là rất quan trọng vì tỷ trọng chi phí tiền lơng
chiếm rất lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Do đó giá thành sản phẩm
phải chịu tơng đối lớn. Hàng kỳ doanh nghiệp nên tổ chức bình chọn những cá
nhân, đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để khen thởng kịp thời, doanh
nghiệp đa ra hệ số thi đua vào trong tiền lơng phải trả cho cán bộ công nhân
viên. Mặt khác, doanh nghiệp cần phải chú trọng đến công tác đời sống cho cán
bộ công nhân viên nh: nơi ăn ở, vui chơi, thể dục thể thao; đảm bảo đầy đủ
chính sách cho ngời lao động nh: nghỉ phép, nghỉ ốm, sẽ khuyến khích đợc ngời

khoản chi phí này thực tế phát sinh có phù hợp với dự toán đợc lập, cần kết hợp
với tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp,
21
qua đó ngăn chặn kịp thời tình trạng chi phí quá mức cần thiết kém hiệu quả.
Mặt khác, tổ chức s dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho
mua sắm vật t tránh tổn thất cho sản xuất nh phải ngừng sản xuất vì thiếu vật t,
kiểm tra tình hình dự trữ vật t, tồn kho sản phẩm, từ đó đẩy mạnh tốc độ chu
chuyển vốn, giảm bớt nhu cầu vay vốn làm giảm bớt chi phí lãi vay.
Trên đây là một số biện pháp nhằm để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh
doanh hạ giá thành sản phẩm. Thực tế, do đặc điểm khác nhau giữa các doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nên mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào
những biện pháp chung đó để đa ra cho doanh nghiệp mình phơng hớng biện
pháp cụ thể có tính chất khả thi nhằm quản lý chi phí sản xuất kinh doanh hạ
giá thành sản phẩm.
22
Chơng II
Thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ
giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần
bảo vệ thực vật 1 Trung ơng
2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Bảo
vệ thực vật 1 Trung ơng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Khoảng 30 năm trở lại đây, sản xuất nông nghiệp Việt Nam tăng trởng
nhanh và ổn định. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trung bình 5,5% mỗi năm.
Nhờ đó, Việt Nam đã cơ bản giải quyết đợc vấn đề an ninh lơng thực, mở đờng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển các ngành phi nông nghiệp.
Tuy nhiên, khi trình độ thâm canh của bà con nông dân ngày càng cao, diện tích
trồng trọt đợc mở rộng thì sâu bệnh phá hoại mùa màng cũng xuất hiện ngày càng
nhiều và diễn biến hết sức phức tạp. Do đó, việc thành lập một bộ phận chuyên

Sau hơn 10 năm phát triển, Công ty nhận thấy hình thức doanh nghiệp
nhà nớc không còn phù hợp so với xu thế phát triển kinh tế của đất nớc hiện
nay. Theo đánh giá sơ bộ, trên thị trờng sản xuất kinh doanh vật t, thuốc bảo vệ
thực vật hiện nay có khoảng hơn 300 doanh nghiệp tham gia hoạt động so với
con số 3 doanh nghiệp trong thời gian đầu những năm 90. Điều này cho thấy
sức ép cạnh tranh trên thị trờng rất cao và có xu hớng ngày càng phát triển. Trớc
làn sóng cổ phần hoá DNNN đang diễn ra mạnh mẽ, để giúp cho nền nông
nghiệp nớc ta phát triển mạnh mẽ hơn, đủ sức cạnh tranh trên thị trờng đặc biệt
khi Việt Nam gia nhập WTO, Bộ NN&PTNT có quyết định số
3112/QĐ/BNN/ĐMDN ngày 10/11/2005 và quyết định số 678/QĐ/BNN/ĐMDN
ngày 10/3/2006 về việc chuyển DNNN PSC1 thành công ty cổ phần với tên gọi
24
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ơng. Giấy phép đăng ký kinh doanh số
0103012757 ngày 05/06/2006 do phòng ĐKKD sở KHĐT thành phố Hà Nội
cấp, trong đó:
- Vốn điều lệ là: 35 tỉ VNĐ
- Vốn nhà nớc là: 18,77 tỉ VNĐ (chiếm 53,65%)
Qua nhiều năm hoạt động, kinh doanh có hiệu quả, quy mô sản xuất của
công ty ngày càng đợc mở rộng. Đến nay, công ty đã đặt nhiều chi nhánh tại
nhiều tỉnh thành trên khắp cả nớc.
2.1.1.2 Ngành nghề kinh doanh và các sản phẩm chủ yếu
a) Ngành nghề kinh doanh.
- Kinh doanh hàng t liệu sản xuất bao gồm: Dụng cụ phun, rải thuốc bảo
vệ thực vật, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, trang thiết bị
phục vụ cho nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản.
- Kinh doanh hàng t liệu tiêu dùng, sinh hoạt bao gồm: hàng may mặc,
máy móc, thiết bị dùng trong công xởng hoặc phòng thí nghiệm, máy móc thiết
bị đun nóng, làm lạnh, đồ nội thất gia đình (bàn, ghế, giờng, tủ...)
- Sản xuất và mua bán hóa chất, phân bón hóa học, phân bón lá, phân bón
hữu cơ sinh học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt chuột, ruồi, muỗi, kiến, gián,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status