Vai trò quyết định của kinh tế đối với phát triển xã hội và giải quyết các
VĐXH
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét xã hội với tính cách là
một hệ thống bao gồm trong đó bốn lĩnh vực cơ bản: lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội,
lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hóa tinh thần của đời sống xã hội, và đã xác định vai
trò, vị trí của các yếu tố, chỉ ra các chiều tác động qua lại giữa chúng, trên cơ sở đó
làm cho cả hệ thống xã hội vận động, biến đổi và phát triển. Trong đó, "Chúng tôi
coi những điều kiện kinh tế là cái cuối cùng quyết định sự phát triển lịch sử Sự
phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, là dùa
vào sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả những sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau
và cũng tác động đến cơ sở kinh tế. Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là
nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động. Trái
lại, có sự tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, là một tính tất yếu, xét đến
cùng, bao giờ cũng tự vạch ra con đường đi của nó" [49, 788].
Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình tất yếu, khách quan
tuân theo những quy luật nội tại của nó, xu hướng chung của quá trình phát triển đó
được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Xã hội tồn tại và phát
triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất. Dù được xem xét trong toàn bộ lịch sử
của sự hình thành và phát triển xã hội loài người nói chung, hay được xem xét
trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của các xã hội hiện thực nói riêng, thì sản xuất vật
chất vẫn luôn luôn đóng vai trò là cơ sở, là nền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội.
Ph. Ăngghen đã viết: "Chúng ta tự làm nên lịch sử của chúng ta, nhưng trước hết là
với những tiền đề và trong những điều kiện nhất định. Trong số những tiền đề và
điều kiện Êy thì chính những điều kiện kinh tế giữ vai trò quyết định cuối cùng"
[49, 727]. Và xét đến cùng, chính "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết
định các quá trình sinh hoạt xã hội và tinh thần nói chung".
Quan điểm duy vật lịch sử luôn luôn nhấn mạnh vai trò hàng đầu của trình
độ phát triển lực lượng sản xuất và năng suất lao động đối với sự vận động và phát
triển của xã hội. C.Mác đã đứng ở tầm cao của sự phát triển lịch sử để đánh giá tầm
quan trọng của việc phát triển lực lượng sản xuất. Trước hết, ông cho rằng, lực
lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lịch sử. Sự phát triển của
được biểu hiện mét phần trong những tiền đề kinh tế, một phần trong sự cố kết tất
yếu của sự phát triển tù do của tất cả mọi người, và cuối cùng trong tính chất phổ
biến của hoạt động của các cá nhân trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện có" [43,
644]. Như vậy, phát triển con người là trung tâm, là động lực của phát triển và tiến
bộ xã hội. Song để phát triển con người lại phải thực hiện tốt chiến lược PTKT,
đồng thời giải quyết tối ưu mối quan hệ giữa PTKT và giải quyết các VĐXH.
Qua đó, có thể nói rằng, một khi đã không thừa nhận tính khách quan, phổ
biến của sự phát triển xã hội là nằm trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà
lại muốn đi tìm ở các lĩnh vực riêng biệt của đời sống xã hội, thì không thể tránh
khỏi rơi vào quan điểm chủ quan, phiến diện, thậm chí duy tâm. Và, do đó sẽ
không thấy được động lực thực sự của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, khi khẳng
định sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định tính khách quan, phổ biến của
phát triển xã hội, cần nhớ rằng chỉ xét đến cùng và xét trên phạm vi lịch sử toàn thế
giới thì lực lượng sản xuất mới không những là cội nguồn, là nguyên nhân quyết
định sự phát triển của xã hội loài người, mà nó còn tạo thành cơ sở cho sự thống
nhất, cũng như cho mối liên hệ của lịch sử toàn thế giới.
Ngày nay, do sự tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ
hiện đại, loài người đang đứng trước những nguy cơ: chiến tranh hạt nhân, sự phá
hủy môi sinh, nạn cạn kiệt tài nguyên , một số học giả phương Tây đã nói đến "sự
tận cùng của lịch sử", "sự cáo chung của nhân loại" Mét trong những quan niệm
bi quan về sự phát triển xã hội là quan niệm của một số nhà nghiên cứu lý luận
trong nhóm "Câu lạc bộ Rô-ma". Họ cho rằng, mọi sự phát triển của sản xuất đều
dẫn đến khủng hoảng, do đó, cần phải đưa sự phát triển của lực lượng sản xuất
xuống mức thấp nhất bằng con số "không", rằng chỉ cần tái sản xuất giản đơn ra
con người và của cải là có thể giúp cho nhân loại thoát khỏi thảm họa của "ngày
tận thế".
Ngược lại, một số học giả khác như R.Arôn, G.Can, đặc biệt là nhà xã hội
học người Mỹ Rôxtâu lại đưa ra quan điểm về quyết định luận kỹ thuật, coi kỹ
thuật là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội và lấy sự tiến bộ kỹ thuật làm tiêu
chuẩn hàng đầu của tiến bộ xã hội. Quan điểm này được phổ biến rộng rãi ở nhiều
hỏi, "Chúng ta phải làm sao thực hiện ngay, 1- Làm cho dân có ăn. 2- Làm cho dân có
mặc. 3- Làm cho dân có chỗ ở" [51, 152]. Vì vậy, Người đặc biệt chăm lo PTKT.
Người chủ trương vận động bà con nông dân đi vào làm ăn tập thể, chú trọng xây
dùng và PTKT quốc doanh, giải phóng mọi lực lượng sản xuất, làm cho mọi người,
mọi nhà trở nên giàu có, Ých quốc lợi dân. "Bác chỉ nói một điểm rất giản đơn "có
thực mới vực được đạo" đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác - Lênin" [52,
420].
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang có sự chuyển biến to lớn. Điều đó thể
hiện vai trò ngày càng tăng của kinh tế đối với đời sống con người, ở mục tiêu
PTKT của mọi quốc gia và ở trong tỷ trọng ngày càng lớn của yếu tố kinh tế trong
quan hệ quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra một
lượng giá trị chưa từng có, một sự thay đổi mà người ta thường nói đến dưới những
tên gọi "thời kỳ hậu công nghiệp"; "làn sóng văn minh thứ ba" Trong hoàn cảnh
đó, trên bình diện quốc gia, sù PTKT đã trở thành mục tiêu chiến lược số một của
mọi quốc gia và hợp tác đã trở thành một phương thức thực hiện sự phát triển đó.
Việt Nam là một nước nghèo, về thu nhập vào loại thấp nhất thế giới, lại
phải trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá, chịu đựng những hậu quả rất nặng nề.
PTKT từ lâu đã trở thành vấn đề cấp bách đối với nước ta, nhưng do những hoàn
cảnh và điều kiện lịch sử nhất định, PTKT chưa được giải quyết đầy đủ, bị rơi vào
hàng thứ yếu. Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội từ cuối thập kỷ 70 đầu 80 biểu
hiện trước hết ở tình trạng suy thoái kinh tế, sản xuất trì trệ, lạm phát phi mã, đời
sống của nhân dân gặp khó khăn, thiếu thốn. Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986.
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã xác định: "Phải tập trung sức làm tốt đổi mới
kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các
nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, coi đó là điều
kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị" [24, 57].
Sau gần 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế tăng trưởng nhanh,
GDP bình quân hàng năm thời kỳ 1991-1998 đạt trên 8%. Trên lĩnh vực nông
nghiệp, lương thực từ chỗ không đủ ăn, đến nay mỗi năm xuất khẩu từ 2 đến trên 4
triệu tấn gạo, đời sống của đa số dân cư được tăng lên đáng kể. Thành tựu PTKT
quan trọng là ở chỗ: PTKT không thể không gắn với một chế độ chính trị mang
tính cách mạng, tiến bộ xã hội và tính nhân văn sâu sắc. PTKT không thể tách rời
tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, CNH phải đi
đôi với HĐH. Mục tiêu tối cao của sự nghiệp CNH, HĐH là phải hướng tới việc
nâng cao chất lượng sống cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội. Mục tiêu đó
chỉ có thể thực hiện được khi có sự kết hợp hài hòa giữa PTKT nhanh với việc cải
thiện đời sống nhân dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, đồng thời giải
quyết tốt các VĐXH, nâng cao chất lượng môi trường sống.
Hiện nay, nhiều nước có mức PTKT cao đang phải đối phó với hàng loạt
VĐXH gay gắt: phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, thất nghiệp, sự băng hoại về
đạo đức, nhân phẩm Thực tiễn đó đã đem lại cho chóng ta bài học quý báu về sự
thống nhất biện chứng giữa nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội trong quá trình phát
triển.
Nhìn mét cách tổng thể, một quá trình phát triển phải bao gồm đầy đủ ba
mục đích: Thứ nhất, các giá trị vật chất được đưa lên ưu tiên hàng đầu và trong giá
trị vật chất, giá trị kinh tế được xem là quan trọng nhất. Thứ hai, bao gồm các giá
trị xã hội, chính trị, văn hóa và những chế định có liên quan. Thứ ba, liên quan đến
giá trị nội tại của con người, làm cho con người trở nên người hơn, nhân bản hơn.
Ba mục đích này không thể tách rời nhau, PTKT, phát triển xã hội sẽ trở nên vô
nghĩa, nếu không đi liền với việc phát triển con người. PTKT không phải là toàn bộ
mục đích của sự phát triển. Hơn nữa, xét cho cùng, nó cũng chỉ là phương tiện để
đạt tới mục đích nhân văn cao cả, nhưng nó là cái cơ bản trên đó một xã hội phát
triển được tạo dựng. Nó là trung tâm, là cái trục xuyên suốt bước chuyển cách
mạng từ trạng thái chậm phát triển sang trạng thái phát triển và khi đã đạt tới trình
độ chín muồi, thì PTKT làm thay đổi toàn bộ cấu trúc và bộ mặt xã hội. Ở đây kinh
tế không phải là cái quyết định duy nhất, nhưng là cái cơ bản, cái quyết định tối
hậu cho một trật tự phát triển.