Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang tính chất nghề nghiệp của tổ chức tín dụng
nói chung, ngân hàng TMCP nói riêng (chủ yếu là kinh doanh tiền tệ). Với ưu điểm lớn
nhất đó là lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao cho các tổ chức tín dụng. Tuy
nhiên, đằng sau những ưu điểm đó thì hoạt động tín dụng luôn luôn mang theo những rủi
ro tiềm ẩn, khó có thể tránh khỏi. Để nền kinh tế của Việt Nam chúng ta bền vững một
cách tương đối và để có thể tiếp tục tham gia vào sân chơi chung của toàn thế giới thì
vấn đề xem xét chặt chẽ các quy định về mặt pháp lý của hợp đồng tín dụng của các
ngân hàng TMCP là thật sự cần thiết. Bởi sự không chặt chẽ trong việc đặt ra quy định
của loại hợp đồng này nên dễ dẫn đến các tranh chấp giữa các chủ thể, hoặc làm giảm đi
hiệu quả cho vay hoặc chúng có thể làm giảm đi việc đa dạng hóa các dịch vụ tín dụng
ngân hàng mà các ngân hàng thương mại đang hướng đến. Chính vì nhận thức được tính
cấp thiết của vấn đề nên người viết đã chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt
động cho vay tại Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Thủ Đức”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp đồng tín dụng. Do thời gian nghiên cứu
không nhiều nên người viết chỉ tìm hiểu trong phạm vi hoạt động tín dụng của Ngân
hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Thủ Đức.
Trong khi tìm hiểu đề tài, người viết sử dụng các phương pháp sau để làm rõ bản
chất của vấn đề: phương pháp phân tích thực chứng, so sánh, đối chiếu, tổng hợp có sự
kế thừa các bài viết và luận điểm của các chuyên gia, quy định pháp luật của các nước
trên thế giới.
Thông qua việc viết báo cáo, người viết muốn tìm hiểu sâu hơn các quy định của
pháp luật về hợp đồng tín dụng cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó trong việc
ký kết hợp đồng tín dụng, nhằm đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hơn nữa quy trình
tiếp nhận hồ sơ vay vốn, quy trình cho vay.
Bố cục của đề tài bao gồm 3 phần:
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 2
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động tín dụng và hợp đồng tín dụng.
Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng
giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ
cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín
dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín
dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình,
các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy
tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4
tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong
sự phát triển kinh tế.
Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô
cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín
dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Với công nghệ ngân
hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể
thiếu ở cả trong nước và quốc tế.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên
kia là các cá nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các
cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ
dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ
dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín
dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay
mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi.
Từ các ý đã phân tích ở trên ta có thể rút ra được đặc điểm của tín dụng ngân
hàng như sau:
- Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ
là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền
đúng mục đích hay không, việc sử dụng vốn có hiệu quả không và việc thu hồi
vốn đúng kì hạn quy định.
1.1.1.3 Phân loại hoạt động tín dụng:
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau
tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu
chí sau:
Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành
3 loại sau:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường
được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 6
thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu
cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay
vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ
thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn
nhanh.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử
dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản
xuất có quy mô lớn.
Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định
và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng
chia thành hai loại:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được
cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để
mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình... Tín dụng tiêu dùng
thông thường khác là giá cả của chúng phản ánh và xoay quanh giá trị của chúng, còn
giá cả của vốn lại hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn, nó còn phụ thuộc
vào nhu cầu và sự thoả thuận của hai bên. Chính vì vậy, lợi tức chưa phản ánh được
hiệu quả của số vốn cho vay phát ra.
Như vậy, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay người ta đã so sánh
lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng. Vì vậy ta có định nghĩa khái
quát về lãi suất tín dụng như sau: lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu
được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Lãi suất tín dụng chính
là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó là cái giá của quyền được sử dụng vốn
trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó.
1.1.2.2 Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các hình thức tín dụng mà các loại
lãi suất tín dụng cũng được hình thành một cách đa dạng, đại bộ phận chúng đều do
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 8
ngân hàng trung ương kiểm soát và khống chế. Các hình thức lãi suất càng phong
phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng vì chính lãi suất là
chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng, do đó cần phải phân biệt được các loại
lãi suất tín dụng ngân hàng để thấy được hiệu quả của chúng trong phát triển tín dụng
nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.
Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại sau:
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho
các NHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.
- Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong
một khung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ương ấn định cho các NHTM hoặc do
NHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung
ương dành cho các NHTM, trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ
tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc
công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát triển.
Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế.
Là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất hữu hiệu và quan
trọng, từ đó góp phần tích tụ và tập trung sản xuất:
Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn,
tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các doanh nghiệp
cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời gian tích
luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
vốn cho sản xuất.
Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ
sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn
ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh tranh nổi, từ đó các
doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã
góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 10
Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hòa nguồn vốn, giúp
ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho
xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc
sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn
tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành.
Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho
chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn
định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.
Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên
hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa
nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gởi kèm theo các tài liệu
chứng minh về tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn vay.
Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định và được coi
như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng.
Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín
dụng
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ - pháp lý
do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay, trên cơ sở đó mà quyết
định cho vay hay không. Trong thực tế giao dịch ngân hàng, công việc thẩm định này
thuộc về nhân viên tín dụng của ngân hàng thực hiện và kết thúc bằng việc lập báo cáo
thẩm định hồ sơ tín dụng. Báo cáo này được trình lên cho người quản lý có thẩm quyền
của ngân hàng quyết định có cho vay hay không, nếu từ chối thì phải gửi văn bản đến
khách hàng, nêu rõ lý do từ chối
Chấp nhận giao kết hợp đồng tín dụng
Chấp nhận giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lý do bên nhận đề nghị
(thông thường là ngân hàng) thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 12
khách hàng với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng. Trên phương
diện lý thuyết, việc một bên chấp nhận vô điều kiện văn bản đề nghị hợp đồng của bên
kia có thể làm phát sinh một hợp đồng giữa họ với nhau, nếu trong văn bản đề nghị đã
hội đủ các điều khoản cốt yếu của loại hợp đồng mà họ mong muốn ký kết. Tuy nhiên,
do hợp đồng tín dụng vốn có ảnh hưởng sâu sắc và mang tính chất dây chuyền đối với
hệ thống tín dụng và cả đối với nền kinh tế của một quốc gia, nên các luật gia cho rằng
việc giao kết các hợp đồng tín dụng cần phải thực hiện một cách cẩn trọng và có suy xét,
cân nhắc, tính toán một cách thấu đáo. Quan niệm này là cơ sở để pháp luật dự liệu
những quy tắc dành riêng cho thủ tục ký kết một hợp đồng tín dụng, theo đó hành vi
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý
ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng chính thức giữa các
bên. Điều này có nghĩa rằng việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn thành
đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng
cứ trong quá trình giao dịch.
2
Nội dung của hợp đồng tín dụng:
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ
tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp
luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làm phát sinh
những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng.
Về lý thuyết, nội dung của hợp đồng tín dụng (các điều khoản của hợp đồng) phải
do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận ý chí, phù hợp với pháp luật và đạo
đức xã hội.
Các nội dung, các điều khoản cơ bản của hợp đồng tín dụng được quy định tại
Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng.
1.2.4 Vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng:
Dựa trên các quy định có tính nguyên tắc của Bộ luật dân sự 2005 về điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự, một hợp đồng tín dụng, với tư cách là một loại hình giao
dịch dân sự đặc thù, chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau:
1
Xem Khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự 2005.
2
Xen các Điều 11, 12, 13, 14 Luật giao dịch điện tử năm 2005..
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 14
- Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng phải có đủ năng lực pháp luật và năng
lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không trái với pháp luật và
đạo đức xã hội. (Xem mục 1.2.3)
- Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng và tự do ý chí.
- Hình thức của hợp đồng tín dụng phải phù hợp với quy định của pháp luật
1.3.1 Trách nhiệm pháp lý do việc vi phạm hợp đồng tín dụng:
Vi phạm hợp đồng tín dụng là hành vi của một bên hoặc cả hai bên tham gia hợp
đồng, cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Về
phương diện lý thuyết, một hành vi được coi là vi phạm hợp đồng tín dụng khi hành vi
đó thỏa mãn các điều kiện sau:
- Người thực hiện hành vi phải là các bên tham gia hợp đồng tín dụng (bên
vay và cho vay).
- Trái với cam kết trong hợp đồng tín dụng, để chứng minh một hành vi rõ
ràng là trái với cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên có quyền lợi bị xâm
hại bởi hành vi đó phải dẫn chứng về sự tồn tại một cam kết của người
thực hiện hành vi, đồng thời phải chứng minh rằng người đó đã thực hiện
hành vi trái với những cam kết của chính họ trong hợp đồng tín dụng.
- Bên thực hiện hành vi có một lỗi xác định là cố ý hoặc vô ý. Đối với hợp
đồng tín dụng, do nghĩa vụ của các bên là hết sức rõ ràng, cụ thể, xác định
và bao giờ cũng ghi rõ trong văn bản hợp đồng nên bên có quyền lợi bị
xâm hại chỉ cần chứng minh rằng bên đối tác đã không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết cũng đủ để dẫn chứng lỗi của
người đó. Ngược lại, bên thực hiện hành vi trái với cam kết trong hợp
đồng tín dụng phải chứng minh rằng mình không có lỗi, bằng cách dẫn
chứng những sự kiện khách quan đã cản trở mình thực hiện nghĩa vụ đó.
- Hành vi đó nhằm xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên đối ước,
hoặc xâm hại tới lợi ích khác như lợi ích chung của toàn xã hội, lợi ích của
tổ chức và cá nhân khác.
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 16
Về nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng đều phải chịu trách nhiệm
pháp lý, dù rằng mức độ, tính chất và loại trách nhiệm pháp lý có thể là khác nhau, tùy
thuộc vào hậu quả xảy ra bởi hành vi đó như thế nào. Có hai loại trách nhiệm pháp lý
phát sinh do việc vi phạm hợp đồng tín dụng: trách nhiệm nộp phạt và trách nhiệm bồi
thường.
kinh tế. Qua 15 năm hoạt động, cơ sở vật chất và mạng lưới hoạt động của Ngân hàng
ngày càng mở rộng, đời sống cán bộ nhân viên ngày càng được cải thiện, uy tín của
Ngân hàng ngày càng được nâng cao.
Từ những ngày đầu hoạt động, Ngân hàng Nam Á chỉ có 3 chi nhánh với số vốn
điều lệ 5 tỷ đồng và gần 50 cán bộ nhân viên. Đến nay, qua những chặng đường phấn
đấu đầy khó khăn và thách thức, Ngân hàng Nam Á đã không ngừng lớn mạnh, có mạng
lưới gồm hơn 50 địa điểm giao dịch trên cả nước. So với năm 1992, vốn điều lệ hiện nay
tăng gấp 270 lần, số lượng cán bộ nhân viên tăng gấp 20 lần, phần lớn là cán bộ trẻ,
nhiệt tình được đào tạo chính quy trong và ngoài nước, có năng lực chuyên môn cao.
Trong quá trình hình thành và phát triển, Ngân hàng luôn quan tâm đến công tác đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực, coi cán bộ nhân viên là tài sản quý giá nhất của Ngân hàng.
Những năm gần đây, Ngân hàng Nam Á được biết đến là một trong những Ngân
hàng TMCP phát triển ổn định, bền vững, có chất lượng tín dụng thuộc loại tốt và được
Ngân hàng Nhà nước đánh giá xếp loại A trong nhiều năm liền. Ngân hàng Nam Á là
một trong số ít Ngân hàng tại Việt Nam được Ngân hàng Thế giới chọn để thực hiện Dự
án Tài chính Nông thôn II từ năm 2002.
Thương hiệu Ngân hàng Nam Á đã được người tiêu dùng, cơ quan chức năng
công nhận thông qua các giải thưởng có giá trị như: Top Trade Services do Bộ Công
Thương trao tặng, “Thương hiệu vàng” do Bộ Công Thương và Hiệp hội chống hàng giả
và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam (VATAP) trao tặng; năm 2007, Ngân hàng còn nhận
Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang