CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề:
Hoa cát tường có tên khoa học Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn có nguồn gốc
từ miền tây nước Mỹ, có khả năng chịu lạnh tốt, với nhiều chủng loại và màu sắc đa
dạng như: kem, tím, vàng, hồng, hồng phai, tím đậm, trắng viền tím…
Cát tường không rực rỡ như hoa cúc và không lộng lẫy như hoa hồng nhưng lại
thu hút khách bởi vẻ đẹp đơn sơ và bởi quan niệm cát tường là loài hoa mang lại nhiều
may mắn.
Hiện tại cát tường là giống hoa được người tiêu dùng rất ưa chuộng và đang được
sản xuất làm hoa thương phẩm. Hoa cát tường được sản xuất nhiều ở Đà Lạt vì điều kiện
khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây rất phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của nó.
Hoa Cát Tường là một loài hoa đẹp, có hiệu quả kinh tế cao, du nhập vào Việt
Nam khoảng 10 năm trở lại, chủ yếu được trồng ở Đà Lạt. Hạt của hoa Cát Tường rất
nhỏ, 1g hạt có khoảng 1.500 hạt nên khi gieo ngoài vườn ươm rất dễ thất thoát, tỷ lệ nảy
mầm thấp nên việc tìm kiếm phương pháp nhân nhanh giống hoa Cát Tường có hiệu quả
và chất lượng là rất cần thiết.
Hiện nay phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật đã được áp dụng trên loài hoa
này với vật liệu nuôi cấy là lóng thân, đế hoa, chồi bên và đã thu được nhiều thành tựu
đáng kể.
Nuôi cấy lát mỏng tế bào đã được thử nhiệm trên hoa Cát Tường, với vật liệu là lát
mỏng lóng thân và lát mỏng đế hoa và đã tạo được cây con hoàn chỉnh với hệ số nhân
giống cao.
Tuy nhiên việc khảo sát các nồng độ phytohoocmon phù hợp, nhằm rút ngắn thời
gian và tăng hiệu suất nhân giống vẫn đang được tiếp tục. Từ thực tế trên chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài:
1/22
Khào sát ảnh hưởng của Phytohoocmone lên sự phát sinh hình thái từ chồi bên
trong nuôi cấy in vitro của cây hoa Cát (Eustoma grandiflorum).
1.2 Mục tiêu
- Cố đinh được mẫu trong điều kiện invitro
5, 10, 15 ngày sau cấy tiến hành quan trắc tỷ lệ nhiễm
Tỷ lệ mẫu nhiễm = (số mẫu nhiễm \tổng số mẫu)*100
2.3.2 TN2: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên sự phát sinh hình thái
từ lát cắt mỏng và chồi bên
2.3.2.1 Vật liệu: lát cắt mỏng lá, đế hoa, lát cắt mỏng chồi bên và chồi bên.
2.3.2.2 Bố trí thí nghệm: Thí nghiệm được bố trí với 14 nghiệm thức, mỗi nghiệm
thức với 3 lần lặp lại, 1 lần lặp lại 3 chai, mỗi chai 3 mẫu. Các mẫu được nuôi cấy trên
môi trường Murashige-Skooge 1962 (MS) có 30g/l đường saccaroze, agar 9g/l, 20%
nước dừa già, pH = 5,7, bổ xung thêm BA, NAA với các nồng độ khác nhau và được hấp
vô trùng ở 121
O
C trong 20 phút. Nhiệt độ trong suốt quá trình thực nghiệm là 26
o
C ±2.
Cường độ ánh sáng 2.000 -2.200lux, thời gian chiếu sáng 16 giờ/ngày.
NT 1: Môi trường MS + 1,0 mg/ml NAA
NT 2: Môi trường MS + 0,5 mg/ml BA + 1 mg/ml NAA
NT 3: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 1 mg/ml NAA
NT 4: Môi trường MS + 1,5 mg/ml BA + 1 mg/ml NAA
NT 5: Môi trường MS + 2,0 mg/ml BA + 1 mg/ml NAA
3/22
NT 6: Môi trường MS + 2,5 mg/ml BA + 1 mg/ml NAA
NT 7: Môi trường MS + 3,0 mg/ml BA + 1 mg/ml NAA
NT 8: Môi trường MS + 1 mg/ml BA
NT 9: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 0,5 mg/ml NAA
NT 10: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 1,0 mg/ml NAA
NT 11: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 1,5 mg/ml NAA
NT 12: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 2,0 mg/ml NAA
NT 13: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 2,5 mg/ml NAA
NT 14: Môi trường MS + 1,0 mg/ml BA + 3,0 mg/ml NAA
số
Tỷ
lệ
(%)
Tổng
số
Tỷ
lệ
(%)
Tổng
số
Tỷ
lệ
(%)
Mẫu nhiễm 2 13 2 13 5 33 3 20 13 87
Mẫu sống 0 0 2 13 10 67 12 80 2 13
5/22
Mẫu chết 13 87 11 74 0 6 0 0 0 0
Tổng 15 100 15 100 15 100 15 100 15 100
Việc khử mẫu đoạn thân mang chồi bên của cây hoa Cát tường bằng nước javen ở
các nồng độ khác nhau, đã cho thấy được với nồng độ nước javen (1:4) thì cho kết quả
thu được là tốt nhất. ở nồng độ này ta thu được tổng số mẫu sống không nhiễm là 80 %,
mẫu nhiễm là 20 %, mẫu chết là 0 % trên tổng số mẫu là 100 %, và đạt tỷ lệ khử tốt nhất
so với các nồng độ khác.
Đối với các nồng độ (1:1) và (1:2) thì ta có thể thấy được tỷ lệ mẫu nhiễm là thấp
nhất so với các nồng độ khác đạt 13 % trên tổng số mẫu là 100 %, nhưng trái lại ở nồng
độ nay do nước javen quá đậm đặc làm cho mẫu hầu như chết hoàn toàn, tỷ lệ mẫu chết ở
các nồng độ (1:1) là 87 %, (1:2) la 74 %, và tỷ tệ mẫu sống không nhiễm ở 2 nồng độ này
là rất thấp, nồng độ (1:1) là 0 %, (1:2) đạt 13 %
3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên quá trình hình
chồi cũng giảm xuống chỉ còn khoảng từ 1,2-2,5 cm.
Tỷ lệ
NT
BA
(mg)
NAA
(mg)
Số chồi hình
thành/mẫu
Chiều cao
(cm)
Ghi chú
NT1 0,0 1,0 1,3 4,9 Có sẹo dưới, ra rễ
NT2 0,5 1,0 1,7 5,8 Có sẹo dưới, tạo PLB
NT3 1,0 1,0 0,9 1,2
NT4 1,5 1,0 3,8 2,5 Có sẹo dưới, tạo PLB
NT5 2,0 1,0 8,7 2,0 Tạo cụm chồi
NT6 2,5 1,0 19,5 1,3 Có sẹo dưới
NT7 3,0 1,0 16,5 1,5
NT8 1,0 0,0 3,5 1,5
NT9 1,0 0,5 3,3 0,6
NT10 1,0 1,0 3,7 1,6
NT11 1,0 1,5 2,4 2,5
NT12 1,0 2,0 2,9 2,8
NT13 1,0 2,5 2,5 1,3
NT14 1,0 3,0 3,8 1,0
8/22
Riêng ở NT2(0,5mg BA : 1,0mg NAA) và NT4(1,5mg BA : 1,0mg NAA) có sẹo
dưới của chồi và tái tạo PLB (protocorm like body).
Dụa vào bảng kết quả, tôi nhận thấy trong môi trường NT6 (2,5mg BA : 1,0mg
Hình 11: Cụm chồi hoa Cát tường được tạo thành từ chồi bên của cây con trong ống
nghiệm sau 30 ngày nuôi cấy trên môi trường NT10 (MS có 1,0 mg BA và 1,0 mg NAA).
14/22
Hình 12: Cụm chồi hoa Cát tường được tạo thành từ chồi bên của cây con trong ống
nghiệm sau 30 ngày nuôi cấy trên môi trường NT11 (MS có 1,0 mg BA và 1,5 mg NAA).
Hình 13: Cụm chồi hoa Cát tường được tạo thành từ chồi bên của cây con trong ống
nghiệm sau 30 ngày nuôi cấy trên môi trường NT12 (MS có 1,0 mg BA và 2,0 mg NAA).
15/22
Hình 14: Cụm chồi hoa Cát tường được tạo thành từ chồi bên của cây con trong ống
nghiệm sau 30 ngày nuôi cấy trên môi trường NT13 (MS có 1,0 mg BA và 2,5 mg NAA).
Hình 15: Cụm chồi hoa Cát tường được tạo thành từ chồi bên của cây con trong ống
nghiệm sau 30 ngày nuôi cấy trên môi trường NT14 (MS có 1,0 mg BA và 3,0 mg NAA)
3.2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên quá trình hình thành mô sẹo
trong nuôi cấy lát mỏng tế bào.
Bảng 2: Kết quả thành lập mô sẹo từ lát mỏng lóng thân sau 4 tuần nuôi cấy
16/22
Qua bảng trên ta thấy nuôi cấy lát mỏng lóng thân ở nghiệm thức NT1, NT2 cho
tỷ lệ mẫu hình thành nên mô sẹo cao nhất với 100% số mẫu nuôi cấy đã tạo sẹo sau 20
ngày, thấp nhất là ở nghiệm thức NT3, NT4, NT8, NT9, NT10, NT12, NT13, NT14 với
0% mẫu nuôi cấy tạo sẹo. Vậy nồng độ thích hợp nhất cho tạo sẹo từ nuôi cấy lát mỏng
lóng thân ở thí nghiệm này là BA 0mg/ml; NAA 1,0mg/ml và BA 0,5mg/ml; NAA
1,0mg/ml.
Tỷ lệ
NT
Tổng số mẫu
cấy
Mẫu chết
Mẫu phát sinh
mô sẹo
Ghi chú
nuôi cấy trên môi trường NT1 (MS có 0 mg BA và 1,0 mg NAA).
Hình 16: Mô sẹo được tạo thành từ lóng thân của cây con trong ống nghiệm sau 30 ngày
nuôi cấy trên môi trường NT2 (MS có 0,5 mg BA và 1,0 mg NAA).
Bảng 3: Kết quả phát sinh hình thái từ lát mỏng lá sau 4 tuần nuôi cấy
Tỷ lệ Tổng số mẫu Mẫu chết Mẫu phát sinh
mô sẹo
Mẫu phát
sinh chồi
Mẫu không
phát sinh
18/22
NT hình thái
Tổng
số
Tỷ lệ
(%)
Tổng
số
Tỷ lệ
(%)
Tổng
số
Mẫu
tạo
PLB
Tổng
số
Tỷ lệ
(%)
Tổng
CHƯƠNG 4
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
20/22
1. Kết luận
* Quy trình khử:
Với các nồng độ Javen 1/1,1/2,1/3 không khử được chồi bên. Nồng độ 1/5 tỉ lệ chết tới
87 %, nồng độ thích hợp nhất để khử mẫu là 1/4 đạt 80%.
* Ảnh hưởng của nồng độ BA và NAA đến sự hình thành chồi bên và mô sẹo từ lát
mỏng tế bào.
- Môi trường nuôi cấy có nồng độ BA 2,0mg/ml ; NAA 1,0mg/ml (NT6) cho hệ số nhân
chồi cao nhất, thứ hai là môi trường độ BA 2,5mg/ml; NAA 1,0mg/ml (NT7)
- Môi trường tạo rễ cao nhất là môi trường có nồng độ BA 0mg/ml ; NAA 1,0mg/ml
(NT1).
- Môi trường tạo PLB cao nhất là môi trường có nồng độ BA 2,0mg/ml ; NAA 1,0mg/ml
(NT6), kế đến là môi trường có nồng độ BA 0,5mg/ml; NAA 1,0mg/ml (NT2) .
- Nồng độ thích hợp nhất cho tạo sẹo từ nuôi cấy lát mỏng lóng thân là BA 0,5mg/ml;
NAA 1,0mg/ml (NT2).
- Nồng độ thích hợp nhất cho tạo sẹo từ nuôi cấy lát mỏng lá là BA 2,0mg/ml ; NAA
1,0mg/ml (NT6) và BA 2,5mg/ml; NAA 1,0mg/ml (NT7).
- Đối với sự hình thành chồi từ mô sẹo lá và cụm chồi từ chồi ngủ thì NT 6 cho kết quả
tốt nhất.
2. Đề nghị
- Tiếp tục quá trình nuôi cấy để đánh giá khả năng sinh trưởng của chồi, khả năng ra rễ,
tỷ lệ sống ngoài vườn ươm.
- Tiếp tục khảo sát các dãy nồng độ chất điều hòa sinh trưởng khác trong nuôi cấy mô
hoa Cát Tường.
- Thử nghiệm các nguồn vật liệu khác nhau như cánh hoa, đế hoa, bầu nhụy…trong nuôi
cấy mô hoa Cát Tường.
- Tiếp tục theo dõi sự hình thành chồi bên và mô sẹo từ lát mỏng tế bào của các NT 2, 5,
6, 7.