MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài 8
2. Mục tiêu của luận văn 9
3. Nội dung của luận văn 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Ý nghĩa khoa học thực tiễn, kinh tế – xã hội 9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế 10
1.2 Phân Loại 10
1.2.1 Chất thải lâm sàng 10
1.2.2 Chất thải gây độc tế bào 10
1.2.3 Chất thải phóng xạ 10
1.2.4 Chất thải hoá học 11
1.2.5 Chất thải sinh hoạt 11
1.2.6 Các loại bình chứa có áp 11
1.3 Tính chất chất thải y tế 12
1.3.1 Tính chất vật lý 12
1.3.2 Tính chất hoá học và giá trị nhiệt lượng 14
Chương 2:TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.1 Phương pháp khử trùng 15
2.2 Phương pháp trơ hoá (cố định và đóng rắn) 15
2.3 Phương pháp chôn lấp 16
2.4 Phương pháp đốt 16
2.5 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế17
2.5.1 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải y rắn tế
trên thế giới 17
2.5.2 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế
ở Việt Nam 17
2.6 Cơ sở lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế 19
2.6.1 Cơ sở lựa chọn 19
) và lượng không khí cần thiết 39
5.2.3 Xác định lượng và thành phần sản phẩm cháy 41
5.3 Xác định nhiệt độ thực tế và tính cân bằng nhiệt của lò 42
5.3.1 Xác định nhiệt độ cháy lý thuyết của dầu DO 42
5.3.2 Xác định nhiệt độ thực tế của lò 43
5.3.3 Tính cân bằng nhiệt và lượng nhiên liệu tiêu hao 43
5.3.4 Suất tiêu hao nhiên liệu tiêu chuẩn 45
5.3.5 Xác định kích thước buồng sơ cấp 45
5.3.6 Tính thiết bị đốt 46
5.4 Tính toán buồng đốt thứ cấp 49
5.4.1 Xác định lưu lượng và thành phần dòng vào 49
5.4.2 Tính cân bằng nhiệt và lượng nhiên liệu tiêu hao 50
2
5.4.3 Xác định chỉ tiêu kỹ thuật lò 51
5.4.4 Xác định kích thước buồng đốt thứ cấp 52
5.4.5 Tính thiết bị đốt 53
5.4.6 Thành phần và lưu lượng của khí thải ra khỏi lò đốt 54
5.5 Thể xây lò và tính toán khung lò 56
5.5.1 Thể xây lò 56
5.5.2 Khung lò 58
5.5.3 Kiểm tra tổn thất nhiệt qua xây lò 58
Chương 6: XỬ LÝ KHÓI THẢI CỦA LÒ ĐỐT
6.1 Xác định thành phần, lưu lượng và nồng độ các chất trong khói thải. chọn
phương pháp xử lý 62
6.1.1 Xác định thành phần, lưu lượng và nồng độ các chất trong khói thải62
6.1.2 Xác định các thành phần cần xử lý 63
6.1.3 Lựa chọn phương pháp xử lý 63
6.2 Tháp giải nhiệt 64
6.2.1 Khối lượng riêng hỗn hợp khí 64
6.2.2 Phương trình truyền nhiệt khi chất khí chuyển động ngược đều ở nhiệt
6.5 Tính ống khói 102
6.6 Dự toán chi phí cho công trình 104
6.6.1 Tính toán chi phí thiết kế và xây dựng hệ thống 104
6.6.2 Tính toán chi phí nguyên nhiên liệu sử dụng trong một ngày đêm (8h)106
6.6.3 Giá thành xử lý rác 106
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
1 Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa các loại chất thải 12
2 Bảng 1.2:Thành phần chất thải (rác sinh hoạt tại bệnh viện) 12
3 Bảng 1.3 thành phần chất thải nhiễm khuẩn có trong chất thải rắn y tế 13
4
Bảng 1.4:Thành phần vật lý chất thải y tế một số bệnh viện ở TP.
HCM
13
5 Bảng 1.5: thành phần hóa lý của rác y tế 13
6 Bảng 2.1: Đặc điểm một số lò đốt 22
7 Bảng 3.1 :Đặc trưng khí tượng tỉnh Tây Ninh 25
8
Bảng 3.2 : Lượng mưa trung bình ở một số nơi trong tỉnh Tây Ninh
trong 20 năm (1978 – 1999)
26
9
Bảng 3.3 : Hiện trạng và dự báo dân số tại huyện Hoà Thành, huyện
Châu Thành và Thị Xã tây Ninh
27
10 Bảng 3.4: Bảng thống kê các cơ sở khám chữa bệnh 30
11 Bảng 3.5 : Dự báo một số chỉ tiêu phát triển y tế tới năm 2010 31
DANH MỤC CÁC HÌNH
6
STT TÊN HÌNH TRANG
1 Hình 2.1: Công nghệ thiêu đốt rác y tế 21
2 Hình 2.2: Sơ đồ vận hành lò đốt GG42 HOVAL 23
3 Hình 6.1 : Hình mặt bích 75
4 Hình 6.2: Chọn tháp giải nhiệt nước tuần hoàn loại LiangChi
Model: LBC-W-125RT
79
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTRYT : Chất thải rắn y tế
CTYT : Chất thải y tế
RYT : Rác y tế
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá tại các thành phố
và các khu đô thị Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và đang có xu hướng tiếp tục tăng
mạnh mẽ trong những năm tới. Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị
7
hoá, nhiều loại chất thải khác nhau sinh từ các hoạt động của con người có xu hướng
tăng lên về số lượng, từ nước cống, rác sinh hoạt, phân, chất thải công nghiệp đến các
chất thải độc hại, như rác y tế. Nếu ta không có phương pháp đúng đắn để phân huỷ
lượng chất thải này thì sẽ gây ô nhiễm môi trường do vượt quá khả năng phân huỷ của
tự nhiên.
Chất thải rắn hiện nay trở thành vấn đề bức xúc trong cuộc sống đô thị và ảnh
hưởng xấu của nó đến xã hội. Bên cạnh các vấn đề quan tâm, ta cũng cần quan tâm
đến lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh.
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là loại chất thải nguy hại. Trong thành phần
CTRYT có các loại chất thải nguy hại như: chất thải lâm sàng nhóm A,B,C,D,E. Các
loại chất thải này đặc biệt là chất thải nhiễm khuẩn nhóm A, chất thải phẫu thuật nhóm
4/ Dự báo khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế cho bệnh viện đa khoa Tây
Ninh đến năm 2020.
5/ Tính toán, thiết kế lò đốt rác y tế công suất 30 kg/h.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết
- Sưu tầm số liệu, tư liệu tổng quan về chất thải rắn y tế.
- Sưu tầm số liệu, tư liệu về các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế.
- Sưu tầm số liệu, tư liệu về hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn y tế.
Nghiên cứu thực nghiệm
- Khảo sát khu vực đặt lò đốt rác y tế.
5. Ý nghĩa khoa học thực tiễn, kinh tế – xã hội
Ý nghĩa khoa học
- Trên cơ sở thiết kế lò đốt để xử lý chất thải rắn y tế cho tỉnh Tây Ninh,
lò đốt được thiết kế hai cấp có thể xử lý triệt để chất thải rắn y tế và khí gas
sinh ra trong quá trình đốt nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải
rắn gây ra.
Ý nghĩa kinh tế - xã hội
- Công nghệ này có thể áp dụng để xử lý chất thải rắn y tế cho bệnh viện
Đa khoa tỉnh Tây Ninh và các bệnh viện khác.
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc,
xét nghiệm, nghiên cứu…CTYT nguy hại là chất thải có các thành phần như: máu,
dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan; bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược
9
phẩm, hóa chất, chất phóng xạ…thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYT được xếp là chất
thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng;
gây nguy hại sức khỏe, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ.
Rác sinh hoạt y tế là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả
chất bài tiết.
Chất thải phóng xạ khí: khí dùng trong lâm sàng, khí từ kho chứa chất phóng
xạ.
1.2.4 Chất thải hoá học
10
Chất thải từ nhiều nguồn, chủ yếu từ hoạt động xét nghiệm, chuẩn đoán bao
gồm: formaldehyd, hoá chất quang học hoá, dung môi, etylen, hỗn hợp hoá chất…
1.2.5 Các loại bình chứa có áp
Bình chứ khí có áp như bình CO
2
, O
2
, gas, bình khí dung, bình khí dùng 1 lần…
các bình dễ gây cháy nổ, khi thiêu đốt cần thu riêng.
1.2.6 Chất thải sinh hoạt
Chất thải không bị coi là chất thải nguy hại, phát sinh từ bệnh viện, phòng làm
việc…giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng, túi nilon, thức ăn dư thừa…
Khả năng gây ô nhiễm của các loại chất thải rắn
- Các loại bông, băng, gạc, đồ vải chứa rất nhiều vi trùng gây bệnh. Qua
trung gian của các loài côn trùng như ruồi, muỗi các loại vi trùng này sẽ
xâm nhập nhiều nơi, qua đường thức ăn, nước uống có thể gây ra các dịch
bệnh trên phạm vi rộng.
- Các loại bệnh phẩm ngoài các khả năng gây bệnh cho con người còn dễ bị
thối rửa, hôi thối làm ô nhiễm môi trường không khí và làm mất mỹ quan
xung quanh.
- Các vật sắc nhọn như kim tiêm, ống chích nếu đưa thẳng ra bãi chôn lấp sẽ
gây nguy hiểm cho công nhân thu dọn vệ sinh hoặc những người nhặt rác
về các bệnh lây truyền qua đường máu khi giẫm phải.
Vì vậy: để đảm bảo an toàn trong lúc vận chuyển hoặc thu gom đem đi xử lý
thích hợp. Một số bệnh viện chưa trang bị lò đốt rác y tế đã kí hợp đồng xử lý rác y tế
Chất dịch 17,7 9,9 0
Misorganics 0 1,9 0,4
(Nguồn : Cefinea)
Bảng 1.2:Thành phần chất thải (rác sinh hoạt tại bệnh viện)
STT Thành phần
Phần trăm trọng lượng
(%)
1 Giấy và giấy thấm 60
2 Plastic 20
3 Thực phẩm thừa 10
4 Kim loại, thủy tinh, chất vô cơ 7
5 Các loại hỗn hợp khác 3
(Nguồn : Cefinea)
Bảng 1.3 thành phần chất thải nhiễm khuẩn có trong chất thải rắn y tế
STT Thành phần Phần trăm trọng lượng (%)
1 Giấy và quần áo 50 – 70
2 Plastic 20 – 60
3 Thủy tinh 10 – 20
4 Chất dịch 1 – 10
(Nguồn : Cefinea)
Bảng 1.4:Thành phần vật lý chất thải y tế một số bệnh viện ở TP. HCM
12
STT Thành phần vật lý Phần trăm trọng lượng (%)
1 Plastic 30,1
2 Cao su (C
4
H
6
)n 24,2
3 Vải, giấy (C
(kg)
Phân tử lượng
(g)
Lượng mol
(kmol)
C 50,85 50,85 12 4,23
H 6,71 6,71 2 3,35
O 19,5 19,5 32 0,59
N 2,75 2,75 28 0,098
Ca 0,1 0,1 40 0,00025
P 0,08 0,08 15 0,0053
S 2,71 2,71 32 0,084
Cl 15,1 15,1 71 0,212
A (tro) 1,05 1,05 - -
W (nước) 1,5 1,5 18 0,605
Tổng 100 100
(Nguồn: Cefinea)
1.3.1.2 Độ ẩm
Độ ẩm của chất thải rắn là thông số liên quan đến giá trị nhiệt lượng, xem xét
khi lựa chọn, phương pháp xử lý, thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt. Độ ẩm thay đổi theo
thành phần và theo mùa trong năm. Tùy từng loại chất thải có độ ẩm khác nhau 8,5 –
17%, chủ yếu là giấy, plastic chiếm tỷ lệ cao. Độ ẩm tương đối thường thích hợp với
phương pháp xử lý bằng công nghệ thiêu đốt.
1.3.1.3 Tỷ trọng
Xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ. Tỷ
trọng thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác. Tỷ trọng là thông số quan
trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý vì liên quan tới khối lượng
rác thu gom và thiết kế qui mô lò đốt. RYT có thành phần hữu cơ cao nên tỷ trọng chất
thải thấp 208 – 345kg/m
3
Chương 2
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Chất thải y tế thường áp dụng các phương pháp xử lý và tiêu hủy:
Phương pháp xử lý: thiêu đốt, khử khuẩn bằng hoá chất, nồi hấp, đóng gói
kín, vi sóng…
Phương pháp tiêu hủy: bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh, chôn lấp trong
khu đất bệnh viện, nước thải được thải vào hệ thống xử lý.
2.1 Phương pháp khử trùng
Đây là công đoạn đầu tiên khi xử lý RYT nhằm hạn chế tai nạn cho nhân viên
thu gom, vận chuyển và xử lý rác. Chất thải lâm sàng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao,
phải được xử lý an toàn bằng phương pháp khử trùng ở gần nơi chất thải phát sinh sau
đó cho vào túi nilon màu vàng rồi vận chuyển tiêu hủy.
14
Khử trùng bằng hóa chất: clor, hypoclorite…là phương pháp rẻ tiền, đơn
giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu diệt hết vi khuẩn trong
rác. Vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất, nên xử lý không hiệu quả. Hoá chất
bản thân đã nguy hiểm, cần nghiền nhỏ chất thải để giảm thể tích.
Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ
vận hành, bảo dưỡng cao; xử lý kim tiêm sau khi nghiền nhỏ, làm biến dạng. Nhược
điểm tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp.
Khử trùng bằng siêu cao tầng: khử trùng tốt, năng suất cao. Tuy nhiên, đòi
hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ
biến.
2.2 Phương pháp trơ hoá (cố định và đóng rắn)
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi để xử lý chất thải nguy hại trong đó
có cả rác y tế. Đó là qúa trình xử lý trong đó xử lý chất thải nguy hại được trộn với phụ
gia hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan
truyền ra ngoài.
Công nghệ này đang được áp dụng để:
Cải tạo khu vực chứa chất thải nguy hại.
hệ thống thoát nước mưa riêng và phủ đất các ô đạt độ cao. Để giảm mùi hôi
còn phải có hàng rào cách ly và sử dụng các chế phẩm vi sinh.
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có Bãi Chôn Lấp nào thoả mãn các yêu cầu trên,
hơn nữa phân sinh ra từ các Bãi Chôn Lấp cũng không sử dụng được cho đồng ruộng
nước ta. Thế nhưng ở nước ta, hầu hết phương pháp xử lý rác sinh hoạt hiện nay là
phương pháp này. Và phương pháp này cũng không dùng để xử lý rác y tế.
2.4 Phương pháp đốt
Phương pháp đốt là phương pháp oxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy
trong không khí, trong đó rác sẽ được chuyển hoá thành khí và các chất trơ không
cháy. Đây là phương pháp phổ biến, nhiều nơi áp dụng; là quá trình ôxi hóa rác ở nhiệt
độ cao, tạo CO
2
, H
2
O…Phương trình tổng quát:
C
x
H
y
O
z
+ (x+y/4+z/2) O
2
= xCO
2
+ yH
2
O
Ưu điểm: xử lý triệt để rác, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh và các chất ô nhiễm
khác, diện tích xây dựng nhỏ, vận hành đơn giản và có thể xử lý rác có chu kỳ
thiểu phải đạt từ 850 – 900
0
C. Để giảm NO
x
trong khí thải, ở đây người ta dùng dung
dịch Urê 40% trong nước để xử lý. Khí thải được xử lý đạt tiêu chuẩn quy định của Ba
Lan trước khi thải ra môi trường.
Ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Phần Lan, Thụy Điển, Canada đã triển khai nhiều lò đốt
chất thải nguy hại trong đó thu hồi nhiệt để cấp cho nồi hơi phát điện. Ở Mỹ, Canada
chủ yếu đốt chất thải theo công nghệ lò quay (khoảng 70%), trong khi đó ở các nước
Châu Âu lại chủ yếu là đốt trên lò nhiệt phân tĩnh.
2.5.2 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải rắn y
tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam, rác thải nguy hại với độc tính đã và đang tác động tiêu cực một
cách trầm trọng đến sức khỏe con người và môi trường sống. Trước đây do chưa được
quan tâm đúng mức, hầu hết các loại rác nguy hại trên được thugom và đưa đi xử lý
chung với rác sinh hoạt.
Theo thống kê của Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, mỗi ngày các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong cả nước thải ra môi trường khoảng
50.000 tấn chất thải rắn, trong đó gồm 26.877 tấn chất thải công nghiệp, 21.828 tấn
chất thải sinh hoạt và 240 tấn chất thải y tế (toàn ngành y tế có 826 Bệnh viện), trong
số đó 12 – 25 % là chất thải y tế nguy hại cần xử lý đặc biệt bằng phương pháp thiêu
đốt.
Hà Nội có khoảng 40 Bệnh viện Trung ương và Địa phương cùng với hành
trăm trung tâm y tế cấp huyện và xã, mỗi ngày mỗi cơ sở này thải ra khoảng 11 – 12
tấn chất thải y tế. Theo thống kê của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội (URENCO),
mỗi ngày chỉ thu gom được khoảng 60% lượng chất thải trên và 5% trong số đó được
đem xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, số còn lại được đem đi chôn lấp.
Trước đây ở Hà Nội chỉ có 2 lò đốt rác y tế ở Bệnh viện Lao phổi và Bệnh viện
Việt Đức, nhưng do công nghệ lạc hậu vẫn gây ô nhiễm môi trường. Từ tháng 7/1996,
& MT TP. Hồ Chí Minh; các lò đốt rác công nghiệp LODRA và lò đốt rác y tế LODY
của Công ty cổ phần FBE Vietnam; lò đốt rác y tế của Viện Môi trường và Tài nguyên
chế tạo cho Trung tâm Y tế Bến Cầu, Tây Ninh; lò đốt rác do Trường Đại Học Bách
Khoa TP. Hồ Chí Minh chế tạo cho Bệnh viện Cù Lao Minh, Bến tre; lò đốt rác y tế
của Viện Cơ học ứng dụng chế tạo cho Trung tâm lao và bệnh phổi Tiền Giang
2.6 Cơ sở lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế
2.6.1 Cơ sở lựa chọn
Dựa vào càc phương pháp xử lý rác y tế đã nêu, các phương pháp đều có ưu
nhược điểm riêng. Khử trùng bằng hoá chất không đảm bảo hiệu quả khử trùng, chất
thải vẫn còn nguy cơ lây nhiễm cao; khử trùng bằng nối hấp, sóng viba đòi hỏi kỹ
thuật cao, chi phí tốn kém; phương pháp chôn lấp thường không qua xử lý nên ảnh
hưởng đến môi trường.
18
Qua các phân tích trên, phương pháp thiêu đốt RYT là thích hợp, phù hợp điều
kiện nhiều vùng ở nước ta, có nhiều ưu điểm, giảm 90 – 95% trọng lượng chất thải
hữu cơ trong rác, chất thải phát sinh từ quá trình đốt có thể được xử lý tại chỗ, tránh
rủi ro khi vận chuyển, hiệu quả cao đối với chất thải nguy hiểm, chất thải lây nhiễm
cao.
2.6.2 Quá trình quản lý chất thải rắn y tế trước khi xử lý
2.6.2.1 Thu gom
Phải có lịch trình thu gom và vận chuyển rác hợp lý.
RYT được gói trong bao nilon hoặc trong thùng chứa có nắp đậy.
Quy định màu sơn của các thùng chứa rác khác nhau để phân biệt (thùng màu
xanh chứa rác sinh hoạt, màu vàng chứa các loại rác y tế như bông băng, gạc, ống
tiêm, bệnh phẩm…màu đen chứa chất thải phóng xạ, thuốc gây độc tế bào…)
Các loại bệnh phẩm phải được chuyển ngay đến nơi tập trung rác bằng các
dụng cụ và phương tiện chuyên dùng để chuẩn bị cho việc thiêu đốt, không được để
bệnh phẩm tồn đọng lâu trong các phòng, khoa của bệnh viện.
Nhà phân loại rác phải thông thoáng tốt, thường xuyên phun xịt các loại thuốc
chống ruồi, muỗi.
Buồng đốt chính: gồm 2 giai đoạn
+ Giai đoạn 1: chất thải được sấy khô.
+ Giai đoạn 2: cháy và khí hóa.
Buồng đốt sau: gồm 3 giai đoạn
+ Giai đoạn 3: phối trộn.
+ Giai đoạn 4: cháy ở dạng khí.
+ Giai đoạn 5: ôxi hoá hoàn toàn.
Các yếu tố quyết định sự hiệu quả của lò đốt: sự cân bằng năng lượng, hệ thống
kiểm soát chế độ đốt, nhiệt độ nóng chảy trong buồng đốt, độ ẩm của chất thải.
Phương pháp đốt là phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất để xử lý triệt để chất
thải y tế nguy hại.
20
Rác y tế
Tập trung – phân loại
Bịch nilon chuyên dùng
Thùng chứa
Lò đốt rác
Thiết bị xử lý khí thải
Quạt gió
Nước thải nhiễm bẩn
Tàn troBãi chôn lấp
Rác sinh hoạt
Ống khóiHệ thống xử lý nước thải
Hình 2.1: Công nghệ thiêu đốt rác y tế
2.6.4 Các kiểu lò cơ bản
Có 2 kiểu lò cơ bản:
Lò quay (chuyển động quay): có cấu tạo hình trụ, nằm ngang. Chuyển động
quay quanh trục của lò làm chất thải được đảo trộn đều, nâng cao hiệu quả cháy. Lò
được chế tạo với công suất lớn, chi phí đầu tư và vận hành rất cao.
Ví dụ minh họa:
Lò đốt rác bằng gas, được đặt tại trung tâm hỏa tánh Bình Hưng Hòa, công suất 7
tấn/ngày (GG42 HOVAL) có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn, do công ty
môi trường % đô thị quản lý. Lò sử dụng nhiệt theo nguyên lý hiệu ứng nhiệt
phân. Lò gồm 2 buồng: buồng đầu đốt để khí hóa, buồng thứ hai đốt cháy khí
sinh ra từ buồng đầu. Đây là kiểu lò tĩnh, hoạt động liên tục, chia làm 3 giai đoạn:
nạp rác (8h), đốt (8h), làm nguội (8h).
Hình 2.2: Sơ đồ vận hành lò đốt GG42 HOVAL
Nguyên lý vận hành: lò sử dụng nhiệt để thiêu hủy rác qua 2 buồng đốt, buồng
sơ cấp (giai đoạn I) rác được đốt ở 700
o
C, buồng thứ cấp gia tăng nhiệt đến 1000
o
C,
đảm bảo đốt cháy hoàn toàn khí từ buồng sơ cấp. Bicabonate Natri và than hoạt tính
Đem
chôn
Chôn
Sấy lò Nạp rác GĐI GĐII Làm nguội Tro
Bộ phận
giải nhiệt
Buồng
phản ứng
Bộ phận
lọc
Hệ thống bơm
hoá chất
Hóa chất sau
phản ứng
22
48
’’
kinh độ Đông
Phía Tây và Tây Bắc giáp với ba tỉnh Svay – Riêng, Kông – Pông – Chàm và
Swoai – Riêng của vương quốc Cămphuchia, đường biên giới chung hai nước dài
240km, có hai cửa khẩu Mộc Bài và Sa Mát. Ngoài ra còn nhiều cửa khẩu tiểu ngạch
khác.
Phía Đông giáp với tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp với TP. Hồ
Chí Minh và tỉnh Long An.
Thị xã (trong đó có 5 huyện biên giới) gồm: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh
Châu, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng. Toàn tỉnh được chia
ra là 79 xã, 3 phường và 8 thị trấn. Trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của tỉnh
23
được đặt tại thị xã Tây Ninh cách Tp.Hồ Chí Minh 99 km về phía Tây Bắc theo quốc
lộ 22 và cách thủ đô Hà Nội 1809 km theo quốc lộ 1.
Định hình tỉnh Tây Ninh nghiêng theo hướng Đông Bắc – Tây Nam với hai đặc
trưng khác biệt. Phía Bắc có địa hình đồi núi dốc, với độ cao trung bình từ 10 – 15 m.
đặc biệt cách Thị Xã Tây Ninh gần 10 km có ngọn núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi
duy nhất trong tỉnh. Phía Nam địa hình mang đặc điểm đồng bằng, với độ cao trung
bình 3 – 5 m. nhìn chung địa hình tỉnh Tây Ninh tương đối bằng phẳng thuận lợi cho
các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng.
3.1.2 Đặc điểm các điều kiện tự nhiên
Tây Ninh là một tỉnh nằm miền Đông Nam Bộ nên khí hậu và các điều kiện tự
nhiên trong tỉnh cũng bị ảnh hưởng chủ yếu như khí hậu của các tỉnh khác trong vùng.
Điều kiện bức xạ tương đối dồi dào, ít chịu ảnh hưởng của các dòng không khí lạnh
cực đới từ phía Bắc, mà chịu ảnh hưởng của luồng không khí nóng ẩm đặc trưng của
vùng khí hậu Cận nhiệt đới, có phân biệt hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa (từ
tháng 5 – tháng 11).
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh Tây Ninh là 27,4
Vận tốc gió
m/s (cách
MĐ 2m)
1,5 1,7 2,0 1,6 1,6 1,7 1,7 1,8 1,5 1,6 1,8 1,7
(Nguồn : Công ty công nghệ môi trường Thăng Long)
Gió
Toàn bộ tỉnh Tây Ninh chịu ảnh hưởng của ba hệ thống gió hoàn lưu: Gió mùa
Mùa Đông, gió mùa Mùa Hè và gió Tín Phong xen kẽ vào các đợt suy yếu của gió
mùa. Tốc độ gió cực đại ghi nhận được năm 1979 là 28 m/s, hầu hết chúng đều xuất
hiện trong các cơn giông, tần suất xuất hiện các đợt gió đạt cấp 10 trở lên rất thấp
khoảng 2%, ít khi xảy ra.
Từ tháng 11 đến tháng 12, Tây Ninh chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh
cực đới phía Bắc, hướng gió thịnh hành trong các tháng này chủ yếu là hướng Bắc,
Đông Bắc, Tây Bắc. Tốc độ gió trung bình là 5 -7 m/s, tần suất 25 – 45%.
Từ tháng 5 đến tháng 10, là thời kỳ Tây Ninh chịu ảnh hưởng các khối không
khí nống ẩm ở phía Tây Nam, từ tháng 6 đến cuối tháng 10 thịnh hành là gió Tây
Nam, tốc độ gió từ 3 – 5 m/s, chiếm 35 – 45%.
Độ ẩm không khí
Tây Ninh nằm trong khu vực Cận Nhiệt Đới, với các đặc trưng của vùng khí
hậu này là có độ ẩm tương đối trung bình thấp hơn các tỉnh phía Bắc. Trong ngày độ
ẩm tương đối đạt cao nhất 4 – 5 giờ và thấp nhất lúc 12 – 15 giờ. Độ ẩm tương đối
trung bình thấp nhất đạt khoảng 69%, độ ẩm trung bình vào những tháng mùa khô đạt
khoảng 75% và trong những ngày mùa lớn độ ẩm tương đối có thể lên tới 99%.
Chế độ mưa
Tây Ninh có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa: Bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa vào thời
gian này chiếm khoảng 86% lượng mưa cả năm. Trong mưa thường xảy ra mưa rào,
nặng hạt và mau tạnh.
Mùa khô: Lượng mưa vào mùa này rất ít nhưng tính chung trong năm thì lượng
mưa và lượng bốc hơi vào mùa mưa và mùa khô là gần ngang nhau nên thường xảy ra