LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu,
“bị” quốc tế đánh giá là một trong những nước nghèo nhất thế giới.
Mặc dù những năm cuối của thế kỷ XX, đặc biệt dưới tác động của công
cuộc đổi mới hơn một thập niên trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những
bước phát triển đáng mừng với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm
tương đối cao (6-7%, đứng thứ hai sau Trung Quốc), đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân được cải thiện đáng kể. Nhưng do xuất phát điểm quá thấp,
vốn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, cộng với điều kiện tự nhiên ít
thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra, hơn nữa trong lịch sử phát triển của đất
nước, dân tộc ta luôn phải chống giặc ngoại xâm, đặc biệt là các cường quốc
hùng mạnh như Pháp, Mỹ, đã gây tổn thất rất lớn, kéo sự phát triển của nước ta
lùi lại hàng thế kỷ. Do vậy tới nay, bộ mặt kinh tế-xã hội của nước ta chưa được
mấy sáng sủa, tỷ lệ đói nghèo còn cao (đến 7/1998, theo Tổng cục thống kê, cả
nước còn 17,4% hộ đói nghèo, nhưng theo tính toán của Ngân hàng thế
giới(WB) thì con số đó còn cao hơn nhiều). Mặt khác, đến nay vẫn còn 80%
dân số và trên 70% lực lượng lao động của cả nước sống ở khu vực nông thôn
và như vậy, vấn đề nguồn nhân lực, vật lực, tiềm năng đất đai, điều kiện tự
nhiên nước ta gắn với vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, chúng ta chưa chú
trọng đầu tư phát triển một cách thoả đáng đối với khu vực nông thôn dẫn tới sự
phát triển không đồng đều giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi
và đồng bằng. Kết quả tất yếu là số hộ đói nghèo tập trung phần lớn ở địa bàn
nông thôn (trên dưới 90%), và con số ấy càng cao hơn đối với địa bàn nông
thôn miền núi, trong đó cao nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc (xem phụ lục 1).
Cái đói cái nghèo phản ánh từ những cái cụ thể nhất là miếng cơm manh
áo. Khi mà những nhu cầu cơ bản của con người chưa được đáp ứng thì họ,
những con người “một nắng hai sương” ấy không thể lo nghĩ về vấn đề lớn
những lao hơn, đó là góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ta tươi đẹp hơn,
giàu mạnh hơn. Nói theo khía cạnh khác, muốn đất nước ta phát triển, tăng
trưởng bền vững, vấn đề thứ nhất là xoá đói giảm nghèo. Một chính trị gia đã
nói: “Sự nghèo đói, dối nát, bệnh tật của một quốc gia còn tệ hại hơn cả nỗi
Như vậy, ranh giới giữa đói và nghèo là không được hưởng hoặc được
hưởng rất ít ỏi với không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Từ khái niệm chung ở trên, liên hệ với thực tiễn Việt Nam có thể hiểu về
đối tượng đói nghèo như sau:
- Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm
đau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát…. Nếu theo tiêu chí này thì những hộ
có thu nhập bình quân đầu người quy đổi ra gạo dưới 13 kg/tháng được coi là
hộ đói (Bộ Lao động – Thương binh và xã hội). Còn hộ nghèo là hộ thiếu ăn
nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng
phát triển sản xuất… Thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo của những hộ
này là dưới 25 kg/tháng ở nông thôn, hải đảo; dưới 20 kg/tháng ở nông thôn
đồng bằng và dưới 25 kg/tháng ở thành thị.
Nếu quy ra tiền, thì mức chuẩn nghèo quốc gia hiện nay là:
- Nông thôn miền núi: 80.000 VNĐ/tháng/người.
- Nông thôn đồng bằng: 100.000 VNĐ/tháng/người.
- Thành thị: 150.000 VNĐ/tháng/người.
3
Ngoài ra, còn có mức chuẩn nghèo do Ngân hàng thế giới(WB) đưa ra và
được xem là chuẩn nghèo quốc tế như sau:
- Nước chậm phát triển:0,5 USD/tháng/người.
- Nước đang phát triển: 1 USD/tháng/người.
- Nước châu Mỹ: 2 USD/tháng/người.
- Nước châu Âu: 4 USD/tháng/người.
- Nước công nghiệp: 14,4 USD/tháng/người.
Theo tiêu chuẩn này, nên xếp Việt Nam vào loại nước chậm phát triển thì
mức chuẩn nghèo quy đổi ra VNĐ là khoảng 230.000VNĐ/tháng/người, cao
hơn 1,5 lần so với chuẩn nghèo thành thị. Còn nếu xếp Việt Nam vào loại các
nước đang phát triển thì mức chuẩn nghèo tương ứng là khoảng
460.000VNĐ/tháng/người, (giả sử tỷ giá là 15.000VND/1USD). Đây là nguyên
nhân chính dẫn tới sự chênh lệch lớn về xác định tỷ lệ hộ nghèo giữa Tổng cục
cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nếu không giải quyết thành công nhiệm vụ và
yêu cầu xóa đói giảm nghèo (đặc biệt đối với nông dân, nông thôn) sẽ làm gia
tăng phân hóa giàu nghèo có nguy cơ đẩy tới phân hóa giai cấp với hậu quả là
sự bần cùng hóa, do đó đe dọa sự ổn định chính trị - xã hội, làm chệch định
hướng xã hội chủ nghĩa, không thực hiện được công bằng xã hội.
3.Những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo:
Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến xung quanh việc xác định nguyên nhân
của đói nghèo. Trên thực tế, không có một nguyên nhân biệt lập riêng rẽ, nhất là
khi xét đói nghèo trên diện rộng có tính chất xã hội mà các nguyên nhân thường
đan xen lẫn nhau giữa khách quan với chủ quan, giữa tất yếu với ngẫu nhiên, cơ
bản với tức thời, trực tiếp với gián tiếp. Nói cách khác, sự đói nghèo của một số
gia đình thường không xuất phát từ một nguyên nhân mà từ nhiều nguyên nhân
khác nhau. Nhìn chung chúng đều nằm trong những cụm nguyên nhân chính
sau:
3.1 Do xa cách:
• Về địa lý:
Phần lớn hộ đói nghèo tập trung ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, rừng
sâu, núi cao. Ở đó hệ thống hạ tầng cơ sở rất yếu kém. Ví dụ, đường ô tô tới
trung tâm xã riêng miền núi phía Bắc có trên 400 xã chưa có, chiếm 2/3 số
xã miền núi trong toàn quốc; còn đối với vùng cao chủ yếu là những con
đường mà chỉ có ngựa thồ và người đi bộ mới đi được. Các chòm xóm, bản,
các hộ ở cách xa nhau trong điều kiện đi lại khó khăn là đặc điểm bắt buộc
của những cư dân sống bằng nương rẫy. Họ thực hiện những hoạt động của
một nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc (chủ yếu là lương thực). Hầu như họ
rất ít đi chợ, mỗi lần đi chợ họ mua dự trữ những mặt hàng thiết yếu như dầu
thắp, muối ăn và sản phẩm thiết yếu khác.
Việc đi lại cách trở, xa các chợ, thị tứ, thị trấn đã làm cho người dân khó
tiếp cận với các dịch vụ công cộng, phúc lợi xã hội như: y tế, giáo dục, văn
5
hóa, thông tin, tín dụng, các chương trình khuyến nông, khuyến lâm…Vì
những thế, do sự mù chữ, thiếu hiểu biết nên họ dễ bị lợi dụng, dễ phải mua
đắt bán rẻ hay khai thác gỗ trái phép để bán cho thương lái với giá rẻ nhằm
duy trì cuộc sống làm huỷ hoại môi trường…
6
Tóm lại, những cách biệt trên làm cho người dân ở đây có quan hệ với tự
nhiên nhiều hơn là quan hệ với xã hội, gắn với kinh tế tự nhiên nhiều hơn là
gắn với kinh tế hàng hoá. Đó là sự thiệt thòi lớn của cư dân, của nông hộ đói
nghèo những nơi xa cách. Vì vậy cần phải có chính sách hữu hiệu xoá bỏ sự
xa cách trên.
3.2. Áp lực về nhân khẩu và lao động:
Đây là một hạn chế lớn ở hầu hết các vùng nông thôn, trong khi đó tốc độ
tăng tự nhiên của dân số vẫn còn ở mức cao làm cho nguồn lực bình quân đầu
người ngày càng giảm. Do đó việc tranh chấp trong khai thác tài nguyên và
hưởng thụ những thành quả mang lại là một hệ quả tất yếu. Mặt khác với khả
năng tự thân quá yếu kém họ không thể tạo được sức cạnh tranh cao và gặp
nhiều khó khăn trong nỗ lực thoát khỏi đói nghèo.
Sức ép về tăng dân số làm gia tăng việc di dân tự do từ những nơi đất đai
cạn kiệt tới những nơi còn màu mỡ, còn khả năng canh tác dẫn tới phá rừng,
huỷ hoại môi trường, làm tăng diện tích đất trống đồi núi trọc. Cũng cần lưu ý
rằng, diện tích gieo trồng 1 ha vùng núi chỉ bằng 1/2 ha vùng đồng bằng, năng
suất chỉ bằng 1/3 vì đất kém màu mỡ, đất lẫn đá và gốc cây. Vì vậy, bình quân
mỗi hộ phải có từ 2 ha nương rẫy (tức là 2 - 4 héc ta đất rừng) mới đủ lương
thực chi dùng.
Mặt khác, tỉ lệ gia tăng dân số cao nên trẻ em chiếm một tỉ lệ lớn trong
gia đình làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn, túng quẫn. Theo thống
kê năm 2001, số người trong độ tuổi lao động bình quân hộ ở Đông Bắc là 2,4;
Tây Bắc là 2,6 trong khi số nhân khẩu bình quân hộ tương ứng là 4,6 và 5,3.
Đối với các hộ nghèo, bình quân nhân khẩu thường cao hơn từ một đến hai
người, nhưng tỉ lệ trẻ em lại lớn. Đây là do trình độ dân trí thấp, nhận thức
không đúng đắn về việc sinh đẻ có kế hoạch, quan niệm lệch lạc (đẻ nhiều con
như tái sản xuất mở rộng nhằm nâng cao thu nhập. Nhưng đại bộ phận người
nghèo ở nông thôn sống bằng nghề nông hiệu quả không cao. Vấn đề tiêu thụ
nông sản lại có nhiều khó khăn, “khi được mùa thì mất giá, khi được giá thì mất
mùa” trong khi giá các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp vẫn tăng cao
làm giảm nguồn thu nhập chính của người nông dân. Cùng với tác động của giá
cánh kéo giữa hàng hoá nông nghiệp và hàng hoá công nghiệp nên đời sống của
người nông dân khó được cải thiện. Những nghịch lý này làm cho khả năng tích
luỹ vốn thấp. Trước thực trạng thiếu vốn của người nông dân, Nhà nước đã có
những chính sách tín dụng ưu đãi nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Có một nghịch
lý là vốn ngân hàng cho người nghèo vay còn nhiều mà các hộ nghèo vẫn phải
đi vay mượn của tư nhân, phải chịu cảnh vay nặng lãi. Xuất phát từ thực tế là
nhu cầu vay thường có tính chất đột xuất (chủ yếu là nhu cầu phi sản xuất) và
không phù hợp với cơ chế vay vốn của ngân hàng. Do vậy, không ít hộ đã phải
bán lúa non để lo lót các khoản chi tiêu bắt buộc. Thực tế nghiệt ngã ấy đã đẩy
họ vào cuộc sống nghèo đói hơn. Còn về vấn đề cho vay vốn sản xuất, ở nhiều
nơi người dân (nhất là người dân nghèo có trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết)
8
không dám sử dụng vốn cho vay của Nhà nước vì một lí do đơn giản “sợ không
trả nợ được Nhà nước”.
3.4 Do những rủi ro, thiên tai, địch hoạ:
Đây là nguyên nhân làm cho người dân từ không nghèo trở thành nghèo,
đã nghèo lại càng nghèo. Những rủi ro hay những tai hoạ đột xuất như: lũ lụt,
hạn hán, mất mùa, hoả hoạn, ốm đau… làm cho họ cùng quẫn, không còn khả
năng lao động, tạo ra thu nhập hay xây dựng lại cơ nghiệp ban đầu. Đối với
người nghèo, họ ít có khả năng phòng tránh và khi xảy ra hoàn cảnh của họ
càng thảm hại hơn. Còn đối với người giàu, người khá giả họ có sẵn dự trữ khi
thiếu đói, mất mùa và đầu tư trở lại vào vụ sản xuất mới nhằm gỡ lại sự mất
mát, cuộc sống cũng sớm được ổn định. Còn người nghèo họ chỉ biết trông chờ
vào trợ cấp hoặc nguồn vốn vay. Nhưng nhiều người còn tự ti, suy nghĩ nông
cạn không dám vay vì sợ rủi ro lại đến thì gánh nặng nợ nần chồng chất hơn.
tịch Hồ Chí Minh đã xác định nghèo đói cũng là một thứ “giặc” như giặc dốt,
giặc ngoại xâm nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu làm sao để nhân dân thoát nạn
bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, đời sống hạnh phúc.
“Làm cho người nghèo thì đủ ăn,
Người đủ ăn thì khá, giàu
Người khá, giàu thì giàu thêm”
Thực hiện tư tưởng đó của Người, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách tạo điều kiện cho người nghèo và xóa đói giảm nghèo đã trở
thành một trong những chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện trên phạm vi
cả nước.
Các tỉnh, xã, miền núi, vùng cao, vùng sâu, và vùng xa là nơi có tỉ lệ hộ
nghèo đói cao nhất. Một trong các nguyên tắc đầu tư của Nhà nước về xóa đói
giảm nghèo là tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Chính vì vậy, khu vực
các tỉnh miền núi trong đó có các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc
miền núi và biên giới, vùng sâu, vùng xa được xác định là một trọng tâm của
xóa đói giảm nghèo. Đây cũng là khu vực có rất nhiều khó khăn khi thực hiện
các chính sách xóa đói giảm nghèo nhưng còn có ý nghĩa rất lớn về an ninh,
chính trị và quốc phòng. Chính phủ đã quyết định một chương trình riêng về
xóa đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn trong khu vực này là chương
trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc
miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là chương trình 135).
Các hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh miền
núi:
Ngày 23/7/1998, chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia
xóa đói giảm nghèo thời kì 1998 - 2000. Từ đó tới nay có nhiều chính sách
10
và dự án được thực hiện trong phạm vi cả nước có liên quan, tác động tới
các tỉnh miền núi như:
- Chính sách hỗ trợ về y tế.
- Chính sách hỗ trợ về giáo dục.
Cái gốc để xóa đói giảm nghèo chính là phát triển sản xuất, tạo nên việc
làm và tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Đối với miền núi, khó khăn nhất
chính là xoá bỏ tập quán canh tác cũ, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn và tổ
chức tốt công tác khuyến nông thông qua các mô hình trình diễn theo phương
thức “cầm tay chỉ việc”. Các dự án khuyến nông, khuyến lâm với vai trò tích
cực của các tổ chức đoàn thể (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh…)
đã góp phần giúp hộ nghèo làm quen dần với phương thức canh tác mới, sử
dụng giống cây, con mới, tạo điều kiện để họ sử dụng vốn vay ưu đãi có hiệu
quả hơn.
Kết quả tổng hợp của các chính sách dự án là tỉ lệ hộ đói nghèo giảm khá
nhanh trong 5 năm từ 1996 - 2000 trung bình mỗi năm là 2%, hầu hết các tỉnh
miền núi có tỉ lệ hộ nghèo đói giảm bình quân hàng năm cao hơn trung bình cả
nước.
Trên đây là những kết quả lớn thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà
nước trong công cuộc chiến đấu - tấn công đói nghèo. Song, đến nay vẫn còn
nhiều hạn chế, tồn tại, kết quả đạt được còn mong manh chưa bền vững. Theo
thống kê thì chương trình xóa đói giảm nghèo tiến triển chậm, chưa đạt kết quả
mong muốn so với hệ thống chính sách đã có và lượng vốn đã bỏ ra. Chẳng
hạn, chủ trương bình quân đề ra mỗi năm giảm 300.000 hộ đói nghèo nhưng
trong 5 năm qua bình quân mỗi năm mới giảm được 240.000 hộ (đạt 80% so
với chỉ tiêu so với đề ra). Về hệ thống cơ sở hạ tầng tuy đã được cải thiện song
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hoá và nâng cao đời
sống nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đường giao thông còn
kém, đặc biệt đi lại khó khăn trong mùa mưa, hệ thống thuỷ lợi phần lớn là
công trình tạm và trên thực tế mới đáp ứng được một phần yêu cầu sản xuất lúa,
các cây trồng khác chủ yếu là nhờ nước trời. Số trạm y tế đạt tiêu chuẩn chỉ đạt
46%. Cơ sỏ trường lớp tuy được tăng cường nhưng vẫn nghèo nàn, thiếu…
(một thực trạng đáng lo ngại là nhiều nơi chỉ chạy theo thành tích số lượng các
công trình mà quên mất chỉ tiêu chất lượng của chúng). Và nhin chung, sản xuất
nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp tự túc, manh múm, nhỏ lẻ, phương thức
nhiều so với mật độ bình quân cả nước (232 người/ km
2
). Dân cư nông thôn
chiếm 83,5 % dân số toàn vùng với 1,8 triệu hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và
nuôi trồng thuỷ sản. Quy mô hộ bình quân khoảng 5 nhân khẩu với 2 - 3 lao
động. Đất nông nghiệp bình quân đầu người 1.182 m
2
bằng 96,2% so với toàn
quốc (1.229 m
2
).
Về điều kiện tự nhiên, 65% diện tích vùng có độ cao từ 200 m trở lên,
14% có độ cao khoảng 100 m. Trừ một số ít lưu vực giữa núi và các thung lũng
sông, địa hình phần lớn bị chia cắt bởi độ dốc lớn. Hơn 50% vùng cao có các
sườn dốc trên 20 độ, do đó khó khăn cho việc xây dựng đường sá, đường điện,
các công trình hạ tầng cơ sở khác cũng như việc việc duy tu bảo dưỡng chúng.
Khí hậu khắc nghiệt, nhiệt độ trong ngày thường thay đổi lớn (thường đêm và
sáng sớm trời lạnh đặc biệt đối với những vùng cao) gây ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt đông sản xuất cũng như sinh hoạt của người dân. Mưa nhiều, tập trung
nên thường gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, giao thông và hệ thống thuỷ
nông, các ruộng bậc thang hàng năm bị xói mòn mạnh, ước tính hàng năm mất
150 - 350 tấn/ ha (trong khi diện tích đất bằng hạn chế, nông dân muốn canh tác
phải làm trên nương rẫy, ruộng bậc thang trên sườn dốc). Đây cũng là một lí do
dẫn tới hiện trạng chặt phá rừng để sản xuất nông nghiệp làm tăng diện tích đất
trống đồi núi trọc. Tuy nhiên mưa phân bố không đều nên mặc dù có những nơi
mưa nhiều bị úng ngập, nhưng cũng có nhiều nơi chịu hạn hán nghiêm trọng
(nhất là vào mùa khô), có nơi người dân phải đi lấy nước xa 15 - 20km. Đất
feralit đỏ vàng là phổ biến, đất nghèo dinh dưỡng chiếm tỉ lệ cao, thiếu vi lượng
đối với cây trồng nên thường gây bệnh bướu cổ (do thiếu iốt).
13