Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
Mở đầu
Trong vài thập kỉ qua ngành in ấn, radio, truyền hình đã từng là ba
phương tiện thị trường đại chúng chính mà các doanh nghiệp thường sử dụng
để với tới người tiêu dùng. Thị trường đại chúng (mass market) được hiểu là
các dân số rất lớn mà các phương tiện này phục vụ. Giờ đây, các biên tập viên
tạp chí đã bắt đầu gọi Web là phương tiện thị trường đại chúng thứ tư. Từ nửa
cuối thế kỉ trước, thương mại điện tử đã được các nước phát triển biết đến và
sử dụng rất hiệu quả. Nhưng ở nước ta do nền cơ sở hạ tầng chưa cho phép,
nên thương mại điện tử (TMĐT) mới được biết đến và xem trọng trong thời
gian gần đây.
Hoạt động TMĐT là hoạt động thương mại thông qua hệ thồng “cửa
hàng điện tử” trên mạng Internet và hệ thống “thanh toán điện tử”. Cửa hàng
điện tử là những trang Web mà thông tin, hình ảnh đầy đủ về sản phẩm được
đưa lên đó cho người tiêu dùng tham quan tìm hiểu để quyết định lựa chọn
hay từ chối cho và giỏ hàng, có một hệ thống tự động định giá giỏ hàng để
người tiêu dùng dễ quản lý hơn đơn hàng của mỡnh. Cũn thanh toán điện tử là
thông qua hệ thống ngân hàng để chuyển tiền từ tài khoản của người mua đến
tài khoản của ngươi bán.
Xây dựng TMĐT có chi phí thấp nhưng lại có thể quảng bá hình ảnh về
sản phẩm, công ty trên phạm vi rộng lớn. Tuy nhiên do tình hình hiện nay,
nền kinh tế của nước ta con đang trong giai đoạn phát triển lên vấn đè thanh
toán và giao hàng còn gặp nhiều khó khăn. Song trong nền kinh tế thị trường
hậu WTO này TMĐT là một xu thế và cũng là sự phát triển tất yếu khụng
riờng gỡ của Công ty.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
Chương 1. Đặc điểm kinh tế và kĩ thuật chủ yếu ảnh
hưởng đến TMĐT của công ty TNHH cơ khí và
thương mại Hồng Phi
những khách hàng quen thuộc,… Hộ gia đình sản xuất kinh doanh xe gắn máy
Hồng Phi đã đI đến quyết định thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Theo quyết định số 096/2001/QĐ của sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tây,
công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi chính thức đI vào hoạt động từ
năm 2001. Ngành kinh doanh chủ yếu lúc bấy giờ là sản xuất má phanh xe gắn
máy. Sau hai năm hoạt động, Công ty vào ổn định dần, nhưng nhận thấy nhu cầu
của thị trường về các sản phẩm cơ khí là rất nhiều mà công ty lại có kinh nghiệm
và tiềm lực sản xuất chế tạo các sản phẩm đúc áp lực cao. Đến năm 2003, Công
ty quyết định kinh doanh thêm nghành mới là sản xuất, chế tạo và cung cấp ra
thị trường các sản phẩm đúc áp lực cao như đỳc cỏc linh kiện cho đồ điện cơ, gia
công hoàn thiện bộ Mayơ trước sau của xe mô tô hai bánh. Cũng vào năm 2003
này, Công ty còn quyết đinh nhảy vao ngành nghề kinh doanh khác là kinh
doanh thương mại xăng dầu, bao gồm dầu mỡ chính và dầu mỡ phụ trơ cho tất
cả các loại xe hiện có trên thị trường. Mặc dù lĩnh vực kinh doanh thương mại
xăng dầu mới bắt đầu từ nửa cuối năm 2003 nhưng lại có tốc độ phát triển rất
nhanh, đang dần chiếm vị trí quan trọng trong các ngành nghề kinh doanh của
Công ty. Đến cuối năm 2005, thương mại xăng dầu đã mang lại cho Công ty gần
ba tỷ đồng tiền doanh thu, chiếm hơn 40% doanh thu thuần của Công ty.
Do tình hình thị trường có nhiều biến động, Công ty lại vừa phát triển vừa
thay đổi lai cơ cấu ngành nghề kinh doanh của mình cho phù hợp với môi trường
và tiềm năng của Công ty để tối đa hoá lợi nhuận lên những năm trước 2005, hầu
như Công ty chưa có được lợi nhuận, thậm chí năm 2004 còn bị lỗ hơn 40 triệu.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
Nhưng từ năm 2005 trở đI, Công ty đã dần đI và ổn định và bước đầu đã có lợi
nhuận, mặc dù không nhiều (khoảng gần 2 triệu đồng) nhưng đang mở ra một
thời kì phát triển đầy hứa hẹn. Công ty dự tính trong những năm tiếp theo sẽ đầu
tư nhiều hơn cho phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy
mạnh tiêu thụ và mở rộng sản xuất kinh doanh.
1.3.Ngành nghề kinh doanh
gia công và đúc Mayơ vẫn chưa tìm được thị trường tương ứng với tiềm năng của
Công ty lên chưa tạo được nhiều doanh thu cho Công ty. Kinh doanh thương mại
xăng dầu mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng lại đang dần chiếm vị trí quan trọng
trong Công ty.
2. Cơ cấu tổ chức của Công ty
2.1. Nhiệm vụ, chức năng
- Giám đốc công ty:là người đại diện pháp nhân của công ty và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về điều hành hoạt động của công ty, là người có
quyền điều hành cao nhất trong công ty.
- Các phó giám đốc công ty: là người giúp việc cho giám đốc cụng
ty.Phú giám đốc được phân công phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác
và chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty, trước pháp luật về các lĩnh vực
được phân công.
- Kế toán trưởng công ty: là người giúp giám đốc công ty quản lý công
tác kế toán tài chính theo pháp lệnh kế toán thống kê và thực hiện chức năng
nhiệm vụ theo quy định tại điều lệ kế toán trưởng.
- Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ: có chức năng tham mưu, giúp
việc giám đốc trong quản lý điều hành công việc và chịu trách nhiệm trước
giám đốc công ty về các lĩnh vực công tác được giao.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
- Cấp trưởng cỏc phũng ban và phân xưởng trong công ty: là người tổ
chức thực hiện các nhiệm vụ của giám đốc công ty giao và chịu trách nhiệm
trước giám đốc công ty và pháp luật về mọi hoạt động.
+ Phòng kinh doanh:cú chức năng tham mưu cho giám đốc trong qỳa
trỡnh tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh của công ty tiếp cận thị
trường,tuyờn truyền, quảng cáo thu hút khách hàng, xây dựng chiến lược kinh
doanh cho đơn vị, điều độ hàng hóa, trực tiếp theo dõi tình hình thực hiện kế
hoạch của các đơn vị cơ sở, phân tích nhu cầu thị trường, quảng cáo và giới
thiệu sản phẩm tới khách hàng.
Phân xởng
hoàn thiện
và đóng gói
Phân xởng
gia công
sau khi đúc
Phân xởng
đúc và ép
Cửa hàng giao dịch khách hàng
và giới thiệu sản phẩm cơ khí
Phòng kiểm
tra kỹ thuật
Cửa hàng xăng
dầu
Phòng quản
lý nhân sự
P.kế toán và
tiền lơng
Phòng kinh
doanh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
Những mối quan hệ khác
Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm 1 giám đốc, dưới giám đốc là 2 phó
giám đốc, phó giám đốc kinh doanh và phó giám đốc kĩ thuật. Dưới phó giám
đốc kinh doanh bao gồm: phòng kinh doanh, phòng quản lý nhân sự, phòng
kế toán tiền lương, và các phân xưởng, còn dưới phó giám đốc kĩ thuật cú
phũng kiểm tra kĩ thuật. Hệ thống các cửa hàng xăng dầu và cửa hàng giao
dịnh, giới thiệu sản phẩm làm việc dưới sự chỉ đạo của phòng kinh doanh.
3. Các kết quả mà Công ty đã đạt được
3.1. Các kết quả kinh doanh
Bảng 1: Một số kết quả Công ty đạt được
2003 2004 2005 2006
TSCĐ (trđ) 1.877 2.075 1.273 2.150
TSLĐ (trđ) 837 596 1.450 1.065
Nợ phải trả (trđ) 2 0 121 495
Vốn CSH (trđ) 2.712 2.671 2.602 2.720
Tổng VKD (trđ) 2.714 2.671 2.723 3.215
Doanh thu thuần (trđ) 1.234 3.253 6.902 9.123
Tổng chi phí (trđ) 1.235 3.293 6.900 8.998
Thuế (trđ) 39 47 65 138
Lợi nhuận (trđ) - 1 - 40 2 125
Số lao động (người) 95 102 120 128
Thu nhập bq(1000đ) 900 950 1.300 1.500
(Nguồn: báo cáo tài chính cuối năm các năm_ phòng kinh doanh)
Doanh thu hàng năm của công ty tăng qua các năm tuy nhiên nếu chỉ
tớnh riờng mặt hàng chủ đạo của công ty(sản phẩm cơ khớ_mỏ phanh xe gắn
máy) thì sản lượng và doanh số bán tăng nhanh vào năm 2005 và năm 2006.
Năm 2005 cũng là năm mà kinh doanh xăng dầu có bước tiến rõ rệt nhất đóng
góp lượng lớn vào doanh thu của Công ty lên doanh thu năm 2005 gần gấp
đôi năm 2004. Điều này là tín hiệu mừng cho tương lai, vì nếu giữ được mức
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
tăng doanh thu như vậy thì vài năm tới khi đi và ổn định hơn thì Công ty có
thể tăng được lợi nhuận. Nên đến năm 2006 Công ty đã có lợi nhuận cao và
thu nhập trung bình của người lao động được tăng lên đáng kể, thuế và các
khoản phải nộp cho Nhà nước cũng tăng theo. Năm 2005 là năm bước ngoặt
mang tính đột phá và đến năm 2006 thì dần đi vào ổn định. Chúng ta hãy xem
xét tốc độ tăng trưởng tiêu thụ mặt hàng sản phẩm cơ khí qua bảng dưới đây:
mối quan hệ với các nhà cung ứng trong thị trường nguyên vật liệu, xây dựng
mối quan hệ với khách hàng, tạo dựng hình ảnh Công ty trong mắt người tiêu
dùng và kinh nghiệm quản lý cũng lao động của đội ngũ công nhân viên.
Nguyên vật liệu chủ yếu của Công ty chủ yếu là loại vật liệu tái sử dụng
mà nguồn vật liệu này lại được thu mua từ các đại lý. Có một mối quan hệ rất
sâu sắc tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong cả công doạn thu mua
nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hoá, đó là mối quan hệ với các đại lý tại địa
bàn mà Công ty phân phối sản phẩm. Công ty giao hàng mới cho các đại lý và
nhận, thu mua lại các hàng cũ, đã qua sử dụng. Do vậy không những tiết kiệm
được về mặt chi phí vận chuyển mà cái mối quan hệ qua lại ấy tạo ra sự vững
bền trên cả hai thị trường mua nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Qua mấy
năm hoạt động, mặc dù lợi nhuận chưa cao song nhiều người tiêu dùng đã biết
đến sản phẩm của Công ty, và điều này là tiền đề cho sự phát triển của Công
ty sau này. Về phía kinh nghiệm của người lao động cũng tăng lên rất rõ rệt,
trình độ lao động có tay nghề cao năm 2005 tăng lên gấp đôi so với năm
2001, và số lao động bậc 1 cũng chỉ chiếm số lượng rất nhỏ trong Công ty.
Trong khi đó cơ sở vật chất kĩ thuật của Công ty cũng được đầu tư thêm
dần qua các năm, đi liền đó là trình độ lao động của đội công nhiên viên cũng
tăng dần theo thời gian làm việc.
Là một công ty nhỏ nhưng Công ty cũng đó gúp được một phần vào quá
trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, giải quyết cho hơn 100 lao động và
đóng góp gần bẩy tỷ đồng cho tổng thu nhập Quốc dân.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
4. Đặc điểm kinh tế và kĩ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến thương mại điện
tử tại Công ty
4.1. Nền kinh tế thị trường – tất yếu của việc xây dựng thương mại điện tử
Việt Nam sau khi bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại bị Mỹ cấm vận
trong thời gian dài. Nền kinh tế vốn đã nhỏ bé lại càng trở lên suy thoái hơn.
Nền kinh tế bao cấp tập trung quan liêu, người dân không có kháI niệm tiêu
lực để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vỡ cỏc doanh nghiệp hiểu rằng,
để tồn tại và phát triển, chỉ có một cách duy nhất là làm hài lòng khách hàng.
Trong nỗ lực làm hài lòng khách hàng, các doanh nghiệp phảI trực tiếp cạnh
tranh nhau, họ không muốn đứng lại nhìn người khác đi qua để rồi mình chìm
xuống. Người ta nói thị trường là chiến trường để nói lên sự khốc nghiệt của
nó. Thị trường luôn biết cách đào thải những gì không phù hợp với nó và chỉ
để những gì phù hợp với nó tồn tại mà thôi. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc
liệt như vậy, các doanh nghiệp cần phải tự cải thiện mình sao cho phù hợp với
thị trường, mà thị trường thỡ luụn biến đổi lờn cỏc doanh nghiệp cũng không
ngừng đổi mới theo. Mỗi một quyết định, chính sách, chiến lược đều có ảnh
hưởng lớn đến công ty, quyết định sự thành bại của công ty. Vì khi mình làm
sai, họ làm đúng thỡ mỡnh sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi. Một sự đào thải không
chỉ có ý nghĩa là dừng lại mà còn có ý nghĩa “diệt vong”. Để phục vụ khách
hàng cả về chiều sâu và chiều rộng, đáp ứng được nhu cầu và quy luật của thị
trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều hình thức tiêu thụ, quảng bá,
chuyền tin. Và TMĐT có thể giúp doanh nghiệp làm điều đó.
Rất nhiều các doanh nghiệp, không những ở nước ngoài và ngay cả ở Việt
Nam đã xây dựng và phát triển TMĐT. Họ đã thu được nhiều thành công và
vì thế việc xây dựng TMĐT cho hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam là hoàn
toàn hợp lý.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
4.2. Sự bùng nổ Internet trong thời gian gần đây
Trước đây khoảng sáu, bảy năm, khái niệm về Internet đối với người dân
Hà Nôi – thủ đô của đất nước – trung tâm văn hoá của Việt Nam vẫn còn rất
mơ hồ. Rất nhiều người không biết đến và rất ít người có điều kiện tiếp xúc
với Internet. Nhưng từ năm 2003 trở lại đây, nền công nghệ thông tin có sự
chuyển mình dữ dội, với bước phát triển chóng mặt của Internet và điện thoại
di động. Trào lưu bùng nổ Internet ở Việt Nam chỉ mới xuất hiện thời gian
gần đây khi mà các nhà cung cấp Internet ở Việt Nam hạ giá cước truy cập và
Dân số Việt Nam thuộc loại dân số trẻ, lao động của Việt Nam cũng thuộc
loại lao động trẻ. Các công ty Việt Nam cũng đa phần chỉ mới thành lập trong
khoảng mười năm năm trở lại đây. Tất cả mọi thứ đều trẻ, mà tuổi trẻ thì năng
động, dễ dàng tiếp thu và nắm bắt những cái mới, thích thú những cáI mới.
Lên Internet càng có điều kiện phát triển hơn. Ngày nay 100% các công ty
hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ đã nối mạng Internet và sử
dụng Internet như một công cụ cho kinh doanh. Và con số đó đối với doanh
nghiệp sản xuất là khoảng trên 90%. Khoảng 50% số trường PTTH, 100% số
bệnh viện trung ương và trên 50% số bệnh viện tỉnh được kết nối Internet; tất
cả các bộ nghành, cơ quan hành chính Nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và cấp
huyện được kết nối Internet và mạng diện rộng của Chính phủ, hầu hết cán
bộ, công chức được sử dụng Internet phục vụ công tác chuyên môn và hành
chính công điện tử. Internet có một vị trí vô cùng quan trọng đối với doanh
nghiệp, người tiêu dùng và mọi tầng lớp dân cư. Tạp chí CIO và Darwin của
Mỹ đã thực hiện một cuộc điều tra đối với khách hàng của mình về hiệu quả
của Internet và kết quả cho thấy, hầu hết người dùng đều cho rằng Internet là
một công cụ quan trọng của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn những
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
người được hỏi cho rằng, các site trên Internet của họ không phải là một nơi
chỉ để bán hàng. Đa số những người được hỏi đều cho rằng, chức năng chính
của các địa chỉ Website trên Internet là để cung cấp các sản phẩm đặc thù,
hoặc cung cấp, truyền đạt thông tin (39%) và cho phép những người truy nhập
Website hiểu thêm về công ty sở hữu Website đó (34%). Chỉ có 16% những
người được hỏi cho rằng chức năng chính của các Website trên Internet là để
mua bán hàng hoá và giao dịch.
Ơ Việt Nam, thành phần sử dụng Internet cho công việc mua hàng là tương
đối ít nằm rải rác ở các tầng lớp dân cư như công nhân viên, sinh viên tri thức,
cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp. Song số người truy cập vào các
Website trên Internet để cập nhật tin tức về các sản phẩm mới, cập nhập giá
tương tác TNS toàn cầu (TNS Interactive Solutions, Worldwide) cho biết,
nghiên cứu của họ nêu bật các vấn đè bảo mật như là một lý do chủ yếu khiến
người ta không lựa chọn hình thức mua hàng trực tuyến, vậy mà nền công
nghiệp dường như làm được rất ít để giảI quyết các mối lo ngại này. “Mặc dù
một số trong những mối lo ngại đó có thể do tâm lý miễn cưỡng khi thực hiện
mua hàng qua biên giới và sự hồ nghi đối với những nhãn hiệu dot-com mới,
trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay đều đặc biệt quan trọng đối với nền
công nghiệp TMĐT là phải làm cho người sử dụng được yên tâm, tin tưởng”.
Ai mua hàng?
28% tổng số người sử dụng Internet đã từng mua hàng trên mạng hay có
dự định làm việc này trong sáu tháng tới, và 18% tổng số người sử dụng
Internet trên toàn thế giới cho biết, họ dự định mua hàng trong sáu tháng tới.
Khoảng 16% số lượng nam giới sử dụng Internet có mua hàng trực tuyến,
so với tỷ lệ 13% ở phụ nữ.
Họ là người nước nào
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
Mỹ, vào năm thứ ba tiến hành điều tra, là nước có tỷ lệ người mua hàng
trên mạng lớn nhất, 32% tổng số người sử dụng Internet, so với tỷ lệ không
thay đổi trên toàn cầu là 15%. Ơ’ Bungari, Ucraina và Rumani, 2% hay ít hơn
số dân cư trên mạng mua hàng trên mạng, chủ yếu do sự tăng vọt về số lượng
người mua hàng trực tuyến ở Hàn Quốc, nơI 31% số người sử dụng Internet
mua hàng trực tuyến. Ơ’ Pháp và Nauy, số lượng người mua hàng trực tuyến
trong năm 2001 tăng lên nhiều, và Ucraina, Uc’, Cộng hoà Séc và Phần lan có
mức suy giản lớn nhất trong hoạt động mua hàng trực tuyến.
- Tác động của thương mại điện tử đối với công ty
Lợi ích tiềm năng của TMĐT đối với các doanh nghiệp mua bán đã được
nói đến rất nhiều. TMĐT cũng gây ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ của doanh
nghiệp đối với các nhà cung cấp và khách hàng tiềm năng.
Thương mại điện tử có lợi ích cho khách hàng và nhà cung cấp: Khách
đang đem lại lợi ích to lớn cho các thành viên của họ. Những lợi ích này bao
gồm việc tiết kiệm chi phí giao dịch 50% và giảm lượng hàng tồn kho do
trình độ dịch vụ được nâng cao và uy tín được tăng lên. Việc tiết kiệm chi phí
được rất nhiều tập đoàn lớn ghi nhận và dẫn đến nhiều công ty đa quốc gia
khỏc đó đề nghị những người cung cấp tiềm năng một yêu cầu đầu tiên là
phải có khả năng tiếp cận mạng Internet.
Những ví dụ được đề cập nhiều nhất về sự thành công trong việc sử dụng
công nghệ mạng cho hoạt động cung ứng đó là cỏc hóng Ford, British
Telecom, General Electric và Xerox. Họ có nhiều hoạt động tương tự trong
các ngành hàng khác nhau như hoá chất, gỗ và giấy, điện tử, thiết bị y tế, vận
tảI và cung ứng.
Các công ty khi xem xét có thể sử dụng TMĐT trong hoạt động cung ứng
hay không nhận thức được rằng:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
+ Các nhà cung cấp tiềm năng cần được thông báo sớm đủ cho họ điều chỉnh
hệ thống, thông báo cho ngân hàng và đào tạo các nhân viên có liên quan đến
hoạt động mua bán mới này.
+ Việc thực thi nên được bắt đầu và chỉ hạn chế với một số các nhà cung cấp
lâu dài có uy tín cho tới khi hệ thống hoàn thiện.
+ Việc sử dụng một nhà cung cấp dịch vụ Internet để quản lý công nghệ là
một vấn đè quan trọng. Việc này sẽ giúp làm giảm yêu cầu đầu tư ban đàu.
Công nghệ Internet có thể có lợi cho hoạt động cung ứng của tôI như thế nào?
Lợi ích lớn nhất là giảm chi phí giao dịch và tăng tốc độ lưu chuyển thông
tin. Việc tăng tốc độ lưu chuyển và chất lượng thông tin cùng với quá trình
cung ứng có thể tiết kiệm thời gian thực hiện, giảm lượng hàng tồn kho và
giúp cho việc hoạt động được liên tục. Điều này cũng cho phép các doanh
nghiệp biết và phản hồi tốt hơn đối với các yêu cầu về dịch vụ khách hàng.
Một tác động chung đó là sự chuyển đổi từ trung tâm tốn nhiều chi phí sang
một trung tâm có lãI hơn. Thậm chí nhứng công ty chưa có đội tàu vận tảI lớn
fax. Việc cung cấp một số fax miễn phí sẽ khiến phương pháp đặt hàng này
còn thuận tiện hơn nữa.
Giao dịch thông qua trung tâm phục vụ
Đối với cac site tiến hành bán hàng giống như theo đơn hàng trên
catalogue qua bưu điện thì điện thoại vẫn được sử dụng như một công cụ phổ
biến để đặt hàng. Hạn chế duy nhất là trung tâm phải hoạt động suốt ngày
đêm để có thể tận dụng lợi thế của Web hiện được mở rộng trên phạm vi toàn
cầu. Trung tâm phục vụ có thể được kết hợp với dịch vụ gọi ngược lại (Call -
back service), cho phép các khách hàng định thời gian gọi lại thuận tiện nhất
để đặt hàng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
Giao dịch qua dịch vụ bưu điện
Phương pháp này rất phù hợp đối với những khách hàng khụng giỏm tiết
lộ thông tin về thẻ tín dụng của mỡnh trờn mạng hoặc những người không sử
dụng loại thẻ này. Trên thực tế, hình thức giao dịch qua dịch vụ bưu điện có
thể chấp nhận nhiều phương thức thanh toán thông thường như sử dụng thẻ
tín dụng, séc và tiền mặt. Sự phát triển nhanh chóng của các loại thẻ rút tiền
mặt được kết hợp với trình tự thanh toán bằng séc thông qua điện thoại sữ
khiến hình thức đặt hàng này ngày càng ít được sử dụng.
Một lựa chọn nữa là công ty có thể tiến hành việc nhận đơn hàng và xử lý
các giao dịch thông qua bên thứ ba, một đại lý bán lẻ. Nếu công ty quyết định
lựa chọn cách làm đú, hóy chắc chắn là họ có tất cả các phương pháp giao
dịch như trên để chấp nhận đơn hàng thông qua bất kì phương tiện gì.
4.3. Hệ thống thanh toán
* Từ quan điểm của khách hàng, thực hiện một cuộc mua hang trên mạng
không có gì đơn giản hơn. Chỉ cần điền các thông tin cá nhân (họ tên, địa chỉ)
và các thông tin giao dịch (số thẻ tín dụng, ngày hết hạn của thẻ) vào một biểu
mẫu có sẵn (đơn đặt hàng) là có thể dùng giỏ mua hàng điện tử để bắt đầu
chọn các mặt hàng cần mua. Tuy nhiên thực tế không đơn giản như vậy, có rất
thông tin này sau đó được gửi tới máy chủ của công ty bán hàng và phần mềm
trên máy chủ của công ty sẽ nhận các thông tin chi tiết như tên, lượng đặt
mua, số thẻ tín dụng, ngày hết hạn của thẻ, địa chỉ hoá đơn và tiếp tục gửi tất
cả những thông tin nhận được đến ngân hàng thu nợ qua mạng Internet. Phần
mềm tại ngân hàng thu nợ nhận được thông tin sẽ gửi tiếp đến công ty thẻ tín
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản trị K inh
doanh
dụng qua mạng truyờn thụng được bảo mật của các công ty này. Sau đó
những thông tin trên lại tiếp tục được gửi tới ngân hàng phát hành thẻ tín
dụng cho khách hàng.
Đây là nơi các công việc quan trọng nhất được hoàn thành. Phần mềm tại
ngân hàng phát hành sẽ kiểm tra để phân tích tính hợp lệ của các thông tin
nhận được. Nó sẽ kiểm tra số thẻ để đảm bảo số thẻ để đảm bảo đó thẻ tín
dụng do chính ngân hàng phát hành và vẫn có hiệu lực thanh toán. Nó cũng
xác nhận tên, địa chỉ của khách hàng, kiểm tra tài khoản của khách hàng để
xem liệu mức hạn mục còn có đủ để thanh toán. Sau khi tiến hành kiểm tra,
tuỳ thuộc vào kết quả của xác nhận hợp lệ, phần mềm của ngân hàng phát
hành sẽ phát lệnh chấp nhận hoặc không chấp nhận tới ngân hàng thu nợ và
ngân hàng của công ty thông qua mạng truyờn thụng của công ty thẻ tín dụng.
Nếu các thông tin không được ngân hàng phát hành chấp nhận, công ty bán
hàng sẽ gửi lại thông điệp báo lại, tiến trình kết thúc tại đây và không có gì để
bàn thêm. Ngược lại, tiến trình sẽ chuyển sang giai đoạn mới.
_ Yêu cầu thanh toán
Sau khi nhận được xác nhận về tính hợp lệ của thông tin giao dịch từ ngân
hàng phát hành, phần mềm của công ty bán hàng sẽ gửi một thông điệp mới
tới ngân hàng thu nợ để yêu cầu thanh toán. Một lần nữa, những thông tin này
lại được gửi tiếp tới ngân hàng phát hành thông qua mạng của công ty thẻ tín
dụng. Phần mềm của ngân hàng phát hành sẽ cộng thêm số tiền của giao dịch
vào tổng số tiền ngân hàng còn nợ ngân hàng thu nợ đối với các giao dịch
thực hiện trong ngày.
thưc hiện.
May mắn là, các khách hàng không phải quá lo lắng về các tiến trình xử
lý giao dịch trên mạng công ty thẻ tín dụng. Giao dịch trên mạng này được