1 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
3
thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí. Hợp đồng bảo
hiểm hàng hải cổ xưa nhất có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren.
Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, bảo hiểm hàng
hải đã phát triển rất nhanh.
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vò trí hàng đầu trong buôn bán và
hàng hải quốc tế với Luân Đôn là trung tâm phồn thònh nhất. Tàu của các nước đi từ
Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều cập bến hai bên bờ sông Thame. Các
tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở,
người bảo hiểm … để giao dòch, trao đổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau, cụ thể ở
Anh Quốc vào năm 1600, hoạt động kinh doanh bảo hiểm được Nữ hoàng cho phép
và năm 1720, các nhà bảo hiểm Lloys’s ra đời. Sau đó 60 năm, họ đảm bảo 90% rủi
ro hàng hải trên thế giới.
Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn. Điều này
được đánh dấu bằng sự kiện vào năm 1666 ở Anh quốc, một vụ hoả hoạn kinh hoàng
tại Luân Đôn đã thiêu rụi 13.200 ngôi nhà trong đó có hơn 100 nhà thờ. Vụ hỏa hoạn
này để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể cứu trợ được. Từ đó, các nhà kinh
doanh ở Anh đã nghó ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách thành lập
các công ty bảo hiểm hỏa hoạn và sáu công ty bảo hiểm hoả hoạn ra đời vào năm
1667. Sau đó, các nước khác ở Châu Âu cũng ra đời các công ty bảo hiểm hỏa hoạn.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bảo hiểm phi nhân thọ phát triển để đảm
bảo cho hàng loạt rủi ro mới như bệnh tật, ô tô, hàng không…
Ngày nay, bảo hiểm phi nhân thọ trở thành một hoạt động quan trọng trong
nền kinh tế xã hội và hơn nữa là động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển
mạnh mẽ. Bảo hiểm phi nhân thọ với nhiều loại hình đa dạng, phong phú đã thâm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
nhập vào mọi lónh vực của cuộc sống, trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con
người .
những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở
người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thoả thuận trước trên
hợp đồng.
Bảo hiểm thương mại được chia ra làm hai loại là bảo hiểm nhân thọ và bảo
hiểm phi nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được
bảo hiểm sống hoặc chết. Ví dụ như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm
tử kỳ.
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân
sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
- Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người;
- Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường
sắt và đường không;
- Bảo hiểm hàng không;
- Bảo hiểm xe cơ giới;
- Bảo hiểm cháy, nổ;
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu;
- Bảo hiểm trách nhiệm chung;
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
- Bảo hiểm nông nghiệp;
- Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ qui đònh.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ
- Hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ là một hoạt động thoả thuận.
nhiệm bồi thường cho mình.
1.1.5. Bản chất của bảo hiểm phi nhân thọ
Thực chất bảo hiểm phi nhân thọ là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trò nhằm hình
thành và sử dụng quỹ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ gây
ra cho bên được bảo hiểm, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên và
liên tục.
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thò trường các mối quan hệ kinh tế rất đa
dạng và phức tạp. Bảo hiểm phi nhân thọ, dưới mọi góc độ như doanh nghiệp bảo
hiểm, sản phẩm bảo hiểm, quản lý nhà nước, hiệp hội bảo hiểm…, bức thiết phải
được xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng nhằm phát huy chức năng vốn có của
mình: bảo vệ con người, bảo vệ tài sản, bảo vệ của cải vật chất của xã hội.
1.1.6. Sự cần thiết của bảo hiểm phi nhân thọ đối với đời sống kinh tế – xã
hội
Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, con người với tư cách là chủ thể
của hoạt động có ý thức, luôn phải đối đầu với các rủi ro. Tác động của rủi ro của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
các yếu tố không thể kiểm soát được đã làm cho con người, trong đời sống cũng như
trong sản xuất không thu được kết quả như đònh trước và hậu quả là tạo ra sự mất
cân đối trong quá trình sản xuất, xã hội. Đó chính là tiền đề khách quan cho sự ra
đời của bảo hiểm. Các quỹ bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng
có vai trò như một công cụ an toàn thực hiện chức năng cơ bản, bảo vệ con người,
bảo vệ tài sản của cải vật chất xã hội.
Hiện nay, ở nước ta, việc chuyển hướng nền kinh tế sang cơ chế thò trường
đã tạo ra động lực thúc đẩy việc khai thác và phát triển mọi tiềm năng sáng tạo, tạo
ra được một nguồn hàng hoá, dòch vụ phong phú, trong đó có một khối lượng lớn giá
trò mới. Đây chính là tiền đề làm nảy sinh và phát triển mạnh mẽ nhu cầu đảm bảo
bảo hiểm và là cơ sở vững chắc cho sự hình thành và tồn tại của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với tư cách là một đơn vò cung
cấp một loại sản phẩm dòch vụ cho xã hội, tham gia vào quá trình phân phối như là
một đơn vò ở khâu cơ sở trong hệ thống tài chính.
Ngoài ra, hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ đáp ứng nhu cầu vốn không
ngừng tăng lên của quá trình tái sản xuất mở rộng. Việc thu phí theo nguyên tắc
“ứng trước”, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chiếm giữ một quỹ tiền tệ rất
lớn tạm thời nhàn rỗi. Điều này giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm trở thành
những nhà đầu tư lớn, quan trọng cho các hoạt động khác của nền kinh tế quốc dân.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ huy động nguồn vốn trong dân cư
và sử dụng một phần nguồn vốn này đầu tư trở lại nền kinh tế, thông qua các hình
thức như gửi tiết kiệm, mua trái phiếu Chính phủ, mua công trái giáo dục. Vừa qua,
ngoài việc mua trái phiếu Chính phủ, năm 2005 các DNBH PNT đã thực hiện việc
mua lại công trái giáo dục và trái phiếu Chính phủ thông qua việc thu phí của các
nghiệp vụ BH giáo viên, BH học sinh với số tiền hàng tỷ đồng.
Hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ không chỉ đóng vai trò cung cấp công cụ
an toàn mà còn có vai trò như một trung gian tài chính – tập trung, tích tụ vốn đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên và liên tục, là một trong những
đònh chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia nhằm bảo vệ sự ổn
đònh và duy trì sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, tạo lập thêm nguồn vốn trong
nước đáp ứng nhu cầu huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Tóm lại:
Khi hoạt động có hiệu quả, các DNBH PNT đóng góp một vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế như giảm tỷ lệ thất nghiệp nhằm đảm bảo an sinh quốc gia;
tích tụ vốn để đầu tư trở lại nền kinh tế. Đối với khách hàng tham gia bảo hiểm, khi
hoạt động có hiệu quả DNBH PNT đảm bảo tính thanh khoản, giúp khách hàng an
tâm với lá chắn vững vàng trong hoạt động kinh doanh sản xuất.
Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần được sở hữu bởi các cá nhân và/ hoặc các
tổ chức cùng chia nhau nắm giữ những phần khác nhau trong vốn sở hữu của doanh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
nghiệp, họ được gọi là cổ đông. Khi doanh nghiệp hoạt động có lãi, một phần lợi
nhuận của doanh nghiệp sẽ được chia cho mỗi cổ đông gọi là cổ tức.
Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ là doanh nghiệp bảo hiểm do chính các
chủ hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp nắm quyền sở hữu. Nếu hoạt động có lãi,
một phần lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được chia cho mỗi chủ hợp đồng dưới dạng
bảo tức. Một đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ là không
chia vốn chủ sở hữu thành cổ phần nên không thể bò thôn tính vì cổ phần không được
phép mua bán.
Ngoài ra còn có các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khác như
doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước
ngoài.
1.2.1.3. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ muốn hoạt động kinh doanh một
cách hiệu quả thì cần có sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong doanh nghiệp
với nhau. Tùy theo qui mô hoạt động, một doanh nghiệp bảo hiểm có các bộ phận
chức năng như bộ phận nghiệp vụ, bộ phận Marketing, bộ phận dòch vụ khách hàng,
bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D), bộ phận tài chính-kế toán, bộ phận pháp
lý, bộ phận nhân sự, hệ thống thông tin.
Phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có kết cấu tổ chức theo
mô hình kim tự tháp. Trong đó quyền lực bắt đầu từ đỉnh kim tự tháp với một số
người hoặc nhóm người. Quyền hạn sau đó được phân bố đến những nhóm người có
thứ bậc thấp hơn.
1.2.2. Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
người tham gia ) chòu tác động của cùng một rủi ro X (biến cố X). Số lần xuất hiện
biến cố X là n. Tổng giá trò tổn thất là S.
Số lượng biến cố n
Tần suất xuất hiện biến cố F =----------------------- = -------
Kích thước mẫu N
Tổng giá trò tổn thất S
Tổn thất trung bình C =------------------------------- = --------
Số lần xuất hiện n
Như vậy, trong kỳ đó nếu cùng tham gia chia sẻ tổn thất thì mỗi người phải đóng góp
một khoản là:
S S n
P = -------- = --------- x ------- = C x F
N n N
Nếu N đối tượng tiếp tục hoạt động đó trong tương lai và giả đònh rằng các
điều kiện tác động đến rủi ro X không thay đổi thì mỗi người có thể đóng góp một
khoản P tương tự ngay từ đầu kỳ.
Tương tự dựa trên kết quả thống kê kinh nghiệm về rủi ro trong quá khứ,
đồng thời phân tích những biến động có thể có trong tương lai, người bảo hiểm có
thể dự báo xác suất và mức trầm trọng của rủi ro. Từ đó tính toán được mức đóng
góp (phí bảo hiểm) của từng người tham gia bảo hiểm. Phí bảo hiểm được xác đònh
chính xác hay không tuỳ thuộc vào dự báo có chính xác hay không. Mức độ chính
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
15
xác của dự báo phụ thuộc vào kích thước của mẫu thống kê, thời gian quan sát và
việc nhận dạng chính xác các yếu tố tác động.
Trong quá trình hoạt động lâu dài, người bảo hiểm phải theo dõi thường
nghiệp bảo hiểm và các điều kiện có liên quan đến việc đàm phán và thực hiện hợp
đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
Môi giới bảo hiểm phi nhân thọ là người được người được bảo hiểm ủy
quyền, có nhiệm vụ tìm kiếm trong số các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang
hoạt động trên thò trường một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đảm bảo cung
cấp bảo hiểm với sự tương thích tốt nhất giữa phí bảo hiểm và chất lượng dòch của
doanh nghiệp bảo hiểm đó.
Thu nhập chính của môi giới là từ hoạt động bảo hiểm, do bên mua bảo
hiểm và/hoặc doanh nghiệp bảo hiểm chi trả. Nhà bảo hiểm môi giới phải có bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp như một điều kiện đăng ký hành nghề.
- Giải quyết các khiếu nại chi trả bồi thường
Khi có khiếu nại yêu cầu giải quyết từ phía khách hàng, doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ sẽ tiến hành thực hiện các công việc xác minh, xác đònh tổn thất
và giải quyết quyền lợi trong phạm vi trách nhiệm đã cam kết trong hợp đồng.
Việc giải quyết khiếu nại trong những trường hợp phức tạp có thể cần đến
sự tham gia của các tổ chức giám đònh độc lập hoặc sự can thiệp của cơ quan pháp
luật.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
17
- Các hoạt động khác
Cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác, doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ cũng có các hoạt động như Marketing, nhân sự, tài chính-kế toán, pháp lý,
dòch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, giám sát. Tuy nhiên, do đặc thù riêng của
ngành nên hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải có những qui
đònh riêng cho hoạt động kinh doanh như việc trích lập dự phòng, chi trả hoa hồng,
giám đònh tổn thất, đề phòng hạn chế tổn thất.
Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm
Tái bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một tổ chức bảo hiểm chuyển cho
một tổ chức bảo hiểm khác một phần rủi ro mà tổ chức đó đã chấp nhận bảo hiểm.
phạt hành chính trong lónh vực kinh doanh bảo hiểm;
- Nghò đònh số 45/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/03/2007 qui đònh chi
tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;
- Nghò đònh số 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/03/2007 qui đònh chế
độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;
- Thông tư số 155/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 20/12/2007 hướng
dẫn thi hành Nghò đònh số 45/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 03 năm
2007 qui đònh chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;
- Thông tư 156/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghò đònh
số 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/03/2007 qui đònh chế độ tài chính đối với
doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
19
- Quyết đònh số 153/2003/QĐ-BTC ngày 22/09/2003 về việc ban hành Hệ
thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm;
Ngoài ra còn có các văn bản qui đònh về bảo hiểm bắt buộc như Quyết đònh
số 23/2007/QĐ-BTC ngày 09/04/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ
bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới; Nghò đònh số 130/2006/NĐ-CP ngày
08/11/2006 qui đònh chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và Quyết đònh số
28/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 về việc ban hành qui tắc và biểu phí bảo hiểm
cháy nổ bắt buộc,...
1.3. CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
Theo hệ thống các chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm của Bộ Tài
chính, một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNBH PNT
hạch toán phụ thuộc được thể hiện qua các chỉ tiêu:
1.3.1. Chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc
Những thay đổi về doanh thu phí bảo hiểm gốc qua các năm giúp đánh giá
năng lực khai thác của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: thúc đẩy doanh thu
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tổng chi phí hoạt động
kinh doanh bảo hiểm
Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm = -------------------------------------Doanh thu phí bảo hiểm thuần
1.3.4. Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
21
Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp là chỉ tiêu tổng quát nhất cho biết khả năng hoạt động
kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Về lâu dài, kết quả
hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là yếu tố
chủ yếu quyết đònh sự ổn đònh về mặt tài chính. Chỉ tiêu này là sự kết hợp giữa chỉ
tiêu tỷ lệ bồi thường và tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Tỷ lệ kết hợp = Tỷ lệ bồi thường + Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh
1.3.5. Tỷ lệ nợï phí bảo hiểm
Tỷ lệ nợ phí là một trong các chỉ tiêu thể hiện năng lực quản lý nợ phí bảo
hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chỉ tiêu này cao ảnh hưởng tiêu cực
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNBH PNT và ngược lại.
Nợ phí bảo hiểm
Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm = ------------------------------------ x 100%
Doanh thu phí bảo hiểm gốc
1.3.6. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chỉ số này càng cao chứng tỏ các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động càng hiệu quả và ngược lại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
23 CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO
HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở TỈNH LONG AN
kim ngạch xuất khẩu năm 2008 trên 660 triệu USD.
Với những lợi thế trên, tỉnh Long An có điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư
trong và ngoài nước cũng như trao đổi, mua bán với các nước trong khu vực thông
qua cửûa khẩu Mộc Hoá và hệ thống cảng biển tại thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Long An
Long An là một tỉnh có cơ cấu kinh tế Nông-Công nghiệp. Công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp tương đối phát triển. Giá trò tổng sản phẩm GDP của Long An
năm 2008 là 10.570 tỷ đồng. GDP bình quân đầu người đạt 17,38 triệu đồng/năm.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
25
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2005-2007 là 11,9%/năm. Năm 2008,
tốc độ tăng GDP đạt trên 14,3% và dân số của tỉnh Long An là 1.434.506 người. Từ
những năm 2005, cơ cấu kinh tế tỉnh Long An có những chuyển biến tích cực.
Bảng 2.1. Cơ cấu tỷ trọng(%) các khu vực kinh tế của tỉnh Long An (2005-2008)
Đơn vò:%
31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008
KV1(Nông nghiệp)
5.1 1.5 4.6 3.5
KV2(Công nghiệp-xây dựng)
21.9 26.3 25.8 26.4
KV3(Dòch vụ-thương mại)
9.8 10.5 11.2 12.3
chuyển từ kinh tế nông nghiệp thuần túy sang hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
phát triển thương mại dòch vụ theo hướng hội nhập kinh tế thế giới.
2.1.3. Tình hình tham gia bảo hiểm phi nhân thọ tại tỉnh Long An
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Long An)
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tỷ trọng các khu vực trong GDP của tỉnh Long An
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN