CHẾ ĐỘ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG - Pdf 28

CHẾ ĐỘ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
Chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong tư pháp quốc tế là một vấn đề hết sức phức
tạp. Cho đến nay, quan điểm của các tác giả luật học về vấn đề này vẫn chưa thống
nhất. Công ước ngày 14 tháng 3 năm 1978 của Hội nghị La Hay (sau đây gọi tắt là
Công ước 78) là biểu hiện của một sự thỏa hiệp sau những cuộc tranh luận hết sức sôi
nổi về chủ đề này. Trong tham luận này, Công ước 78 sẽ được sử dụng như một nguồn
tham khảo.
I. QUY PHẠM XUNG DỘT VỀ CHẾ DỘ TAI SẢN GIỮA VỢ VA CHỒNG
Trong phần này sẽ đề cập đến 2 vấn đề : Vấn đề định danh quan hệ tài sản giữa vợ và
chồng(A) và vấn đề xác định luật áp dụng (B).
A. KHÁI NIỆM "CHẾ ĐỘ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG" VÀ VẤN ĐỀ ĐỊNH
DANH QUAN
HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
Chế độ tài sản giữa vợ và chồng là những mối quan hệ đặc biệt về tài sản phát sinh từ
quan hệ hôn nhân: Hành vi kết hôn có hậu quả là khiến cho tài sản riêng của vợ và
chồng trở thành tài sản chung (tùy theo từng trường hợp cụ thể), khiến cho mỗi người
phải có trách nhiệm về những khoản nợ của người kia hoặc ít ra tài sản riêng của mỗi
người trở thành vật bảo lãnh cho các khoản nợ của người kia. Thông thường, những
khoản nợ của người vợ hoặc người chồng chỉ phát lộ ra khi người đó rơi vào tình trạng
phá sản hoặc mất khả năng trả nợ.
Kết hôn: trong thời gian gần đây, một số nước chấp nhận những hình thức chung sống
gần giống kết hôn dựa trên cơ sở "thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung". Đây là một
hình thức cho phép hai người khác giới hoặc cùng giới đăng ký sống chung với nhau.
Một số nước phương Tây còn tiến xa hơn trong việc mở rộng áp dụng “hôn nhân” cho
các hình thức chung sống này. Thoe đó, họ đưa vào khái niệm “hôn nhân” cả các
trường hợp kết hôn giữa những người đồng giới. Chúng ta sẽ không phân tích hệ quả
pháp lý của hiện tượng này bởi nó không nằm trong chủ đề của bài viết.
Pháp luật của các nước đều ít nhiều chứa các quy định tối thiểu về quan hệ tài sản
giữa vợ và chồng. Tập hợp các quy định tối thiểu này tạothành chế định "chế độ tài
sản cơ bản giữa vợ và chồng". Trong Tư pháp quốc tế, có một xu hướng rất rõ nét coi
chế định này là một chế định riêng, bao gồm các nghĩa vụ tài sản cơ bản của người

không ảnh hưởng gì đến tài sản của hai người (luật của Anh, luật của các nước hồi
giáo).
Chúng ta không thể bỏ qua việc xác định luật áp dụng đối với chế độ tài sản giữa vợ
và chồng. Cả người vợ, người chồng và người thứ ba đều quan tâm đến việc quan hệ
pháp lý của họ do luật nào điều chỉnh. Do đó, nên xây dựng những quy định cụ thể và
rõ ràng và tránh tình trạng phụ thuộc vào các giải pháp tình thế mỗi khi nảy sinh vấn
đề.
Trước đây, ở nhiều nước, vấn đề này tương đối phức tạp vì người phụ nữ đã kết hôn bị
coi là người không có năng lực pháp luật. Nhìn chung, phong trào giải phóng phụ nữ
đã mang lại kết quả tốt đẹp vì quan niệm coi người phụ nữ đã kết hôn không có năng
lực pháp luật đã bị bãi bỏ. Ngày nay, chúng ta đã có ý thức về các quyền cơ bản của
con người trong đó có quyền bình đẳng giới.
Về luật áp dụng: Cần phải xác định khuôn khổ pháp lý phù hợp áp dụng đối với quan
hệ giữa vợ và chồng. Cụ thể, cần phải lựa chọn giữa luật của nước mà hai người cùng
mang quốc tịch hay luật của nước nơi thường trú chung của hai vợ chồng.
Nếu hai vợ chồng không cùng quốc tịch thì cần phải tìm ra một giải pháp thay thế, đó
là luật của nước nơi thường trú chung của hai vợ chồng.
Do các nước tham gia đàm phán không chấp nhận giải pháp về một quy phạm xung
đột duy nhất nên Công ước 78 là kết quả của một sự thỏa hiệp. Tính chất phức tạp
của vấn đề đã giải thích tại sao các bên tham gia không đạt được thành công.
Trước khi Công ước 78 có hiệu lực, trong tư pháp quốc tế của Cộng hòa Pháp, ý chí
của vợ và chồng đối với việc lựa chọn luật áp dụng đóng vai trò khá quan trọng. Ý chí
này thường được suy đoán. Trên cơ sở suy đoán, vợ và chồng đều mong muốn lựa
chọn áp dụng luật của nước nơi cư trú chung đầu tiên của hai vợ chồng.
Chính điều này đã giúp chúng ta làm rõ một quan niệm tương đối mới, đó là quyền tự
do ý chí của hai vợ chồng. Công ước 78 cho phép hai vợ chồng tự do lựa chọn luật
điều chỉnh chế độ tài sản giữa hai người, tuy nhiên quyền tự do lựa chọn này vẫn bị
hạn chế trong một phạm vi nhất định (Điều 3, Công ước 78).
Do việc suy đoán không đủ căn cứ để khẳng định việc lựa chọn luật áp dụng của hai
vợ chồng nên cần phải thể hiện sự lựa chọn trong một cách rõ ràng. Ít nhất, giữa hai

chọn đơn thuần) thì sẽ phải áp dụng chế độ tài sản giữa vợ và chồng quy định trong
hệ thống luật đó. Việc lựa chọn luật áp dụng đối với chế độ tài sản giữa vợ và chồng
theo quy phạm của luật tư pháp quốc tế không thể không được thể hiện trong nội luật
của hệ thống pháp luật được lựa chọn.
Tôi không hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Theo tôi, cần phải nhớ rằng giữa hai
vợ chồng đã có quan hệ pháp luật về tài sản trước khi hai vợ chồng lựa chọn một hệ
thống pháp luật khác để áp dụng đối với quan hệ này trong thời kỳ hôn nhân. Quan hệ
pháp luật này không thể bị thay thế bằng một quan hệ pháp luật khác. Hệ quả pháp lý
thông thường nhất của việc lựa chọn một hệ thống pháp luật khác có lẽ chỉ là mối
quan hệ pháp luật ban đầu tiếp tục tồn tại. Thông thường, hai vợ chồng không gặp
phải vấn đề khó khăn gì bởi vì các quy định có hiệu lực bắt buộc của luật được lựa
chọn khá tự do, cho phép hai vợ chồng có thể thỏa thuận trong hợp đồng hôn nhân
những điều khoản phù hợp với mình. Do đó, người ta thường cho rằng quan hệ pháp
luật đã xác lập không phải áp dụng các quy phạm có hiệu lực bắt buộc của pháp luật
đã lựa chọn.
Trường hợp này cũng tương tự như trường hợp các bên trong hợp đồng thương mại
thỏa thuận về việc để quan hệ hợp đồng chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật
khác với hệ thống pháp luật đã áp dụng trước đó. Tức là vẫn cùng một loại quan hệ
hợp đồng đó nhưng lại chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật khác. Ở đây
không phải một hợp đồng khác thay thế cho hợp đồng trước đó.
Nếu chúng ta chấp nhận rằng quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng không thay đổi dù
luật áp dụng đối với quan hệ đó thay đổi thì điều đó dẫn đến hệ quả pháp lý là nếu hai
vợ chồng muốn thay đổi quan hệ pháp luật của mình và lựa chọn chế độ tài sản giữa
vợ và chồng là một chế độ tài sản khác trong khuôn khổ hệ thống pháp luật mới được
lựa chọn thì họ phải tiến hành thêm một thủ tục phụ nữa.
Ví dụ: một cặp vợ chồng người Anh khi kết hôn đã lựa chọn chế độ tài sản giữa vợ và
chồng là chế độ tài sản riêng theo pháp luật Anh. Sau đó, họ muốn chọn luật áp dụng
là luật Hà Lan để thay đổi chế độ tài sản riêng thành chế độ tài sản chung toàn bộ.
Cặp vợ chồng này phải tiến hành hai thủ tục sau: trước hết, họ phải chọn luật áp dụng
đối với chế độ tài sản giữa vợ và chồng là luật Hà Lan. Thứ hai, họ phải làm những thủ

chồng không muốn thay đổi luật áp dụng đối với chế độ tài sản của mình, nhất là
trong trường hợp thứ 2. Nhược điểm này càng lớn hơn nếu chúng ta cho rằng việc
thay đổi luật áp dụng nhất thiết dẫn đến việc thay đổi chế độ tài sản của hai vợ chồng
để nó phù hợp với luật mới.
Ví dụ: trong thời kỳ hôn nhân, một cặp vợ chồng người Anh cư trú ở Hà Lan. Chế độ
tài sản giữa vợ và chồng là chế độ tài sản riêng hai người không hề có gì chung. Sau
10 năm cư trú tại Hà Lan, chế độ tài sản riêng theo pháp luật Anh của hai vợ chồng bị
thay thế bằng chế độ tài sản chung toàn bộ theo pháp luật Hà Lan. Điều này khiến
cho họ hoàn toàn bị bất ngờ và không thoải mái.
Ngược lại, nếu chúng ta cho rằng, trong trường hợp cụ thể, một quan hệ pháp luật
được xác lập sau khi nghi thức kết hôn được tiến hành thì chúng ta có thể cho rằng
quan hệ pháp luật này sẽ tồn tại mãi mãi và chỉ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp
luật của nước mới được lựa chọn. Nếu theo cách quan niệm này thì nhược điểm nói
trên không còn nặng nề nữa. Nếu hai vợ chồng thực sự muốn chuyển chế độ tài sản
thành chế độ tài sản chung toàn bộ thì họ phải tiến hành thêm một thủ tục phụ nữa
như trường hợp quy định trong pháp luật Hà Lan. Trong trường hợp này, hai vợ chồng
đã tính đến hậu quả pháp lý của việc thay đổi chế độ tài sản đối với tài sản và các
khoản nợ của mình.
II. CÁC VẤN ĐỀ CỤ THỂ
Yếu tố hệ thuộc trong trường hợp hai vợ chồng không cùng quốc tịch và không thường
trú trong cùng một nước ngay sau khi kết hôn
Sau khi kết hôn 15 tháng, người phụ nữ Trung Quốc mới đến sống cùng người chồng
là người Hà Lan: khoảng thời gian này tương đối dài cho nên không thể áp dụng hệ
thuộc nơi thường trú đầu tiên của hai vợ chồng. Theo khoản 3 điều 4 Công ước 78,
yếu tố hệ thuộc là nơi có quan hệ mật thiết gắn bó nhất.
Hệ quả pháp lý của chế độ tài sản giữa vợ và chồng với người thứ 3, đặc biệt là với
những người có quyền
Điều 9 Công ước 78 đã khẳng định nguyên tắc về hệ quả pháp lý của chế độ tài sản
giữa vợ và chồng đối với người thứ 3 tuy nhiên điều luật này cũng quy định thuận lợi
cho người thứ ba ngay tình. Một nước ký kết Công ước mà vợ hoặc chồng hoặc người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status