Nghiên cứu quy trình biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên tái tổ hợp ESA T6CFP10 phục vụ việc chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao - Pdf 28


ii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH LAO 3
1.4. VI KHUẨN LAO 6
1.4.1. Đặc điểm phân loại 6
1.4.2. Đặc điểm hình thái 7
1.4.3. Cấu trúc thành tế bào 8
1.4.4. Đặc điểm nuôi cấy 10
1.4.4.1. Môi trường và dạng khuẩn lạc 10
1.4.4.2. Chu kì tế bào 11
1.4.5. Khả năng gây bệnh 11
1.4.6. Đặc điểm hệ gen vi khuẩn lao 12
1.4.6.1. Đặc điểm hệ gen Mycobacteria tuberculosis 12
1.4.6.2. Đặc điểm di truyền của vùng gene biệt hóa RD1. 12
1.5. PROTEIN ESAT6/CFP10 14
1.5.1. Cấu trúc phân tử của phức hệ protein ESAT6/CFP10. 14
1.5.2. Kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6-CFP10 và tiềm năng ứng dụng. 15
Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17
2.3. SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 21
2.4. PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU 22
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu 22
2.4.2. Các kỹ thuật sinh học phân tử 22
2.4.2.1. Tách chiết ADN 22
2.4.2.2. PCR khuếch đại gen mã hóa protein ESAT6-CFP10 22

iii

BL21(DE3) 41
3.2.2. Kiểm tra sự biểu hiện gen CFP10/ESAT6 43
3.2.3. Tối ưu điều kiện biểu hiện protein tái tổ hợp CFP10-ESAT6 44
3.2.3.1. Kết quả tối ưu nhiệt độ cảm ứng 44
3.2.3.2. Kết quả tối ưu nồng độ chất cảm ứng IPTG và thời gian cảm ứng trên
gen CFP10/ESAT6 46
3.2.4. Tinh sạch protein ESAT6/CFP10 47
3.2.5. Kiểm tra độ tinh sạch của sản phẩm 48
3.2.6. Kết quả kiểm tra protein tái tổ hợp bằng kháng thể đặc hiệu 49
3.2.7. Xác định hoạt tính kháng nguyên 49
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Các sinh phẩm hóa chất chính 18
Bảng 2.2. Các máy và thiết bị chính 19
Bảng 2.3. Các cặp mồi dùng trong nghiên cứu 20
Bảng 3.1. Mức độ tương đồng của gen mã hóa protein ESAT6/CFP10 từ các
chủng vi khuẩn lao Việt Nam so sánh với chủng chuẩn H37Rv 34
Bảng 3.2. Mức độ biểu hiện CFP10/ESAT6 tại các điều kiện khác nhau. 47
Bảng 3.3. Nồng độ độc tố trong sản phẩm. 48
Bảng 3.4. Đáp ứng với các nồng độ kháng nguyên khác nhau 50 vi
DANH MỤC CÁC HÌNH



Hình 3.10. Kết quả tinh sạch protein tái tổ hợp. 48

Hình 3.11: Westerm blot trên 49

Hình 3.12: Westerm blot 49

vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BCG Bacillus Calmette-Guérin
Bp ` Base pair
(Cặp bazo)
CFP10 Culture Filtetrate Protein 10
CTCLQG Chương trình chống lao Quốc gia
DNA Deoxyribonucleotide acid
ESAT6 Early Secretory Antigenic Target 6
INF γ Interferon gamma
IS Insert sequence
(Trình tự chèn)
MDR Multi drug resistant
(Chủng lao đa kháng thuốc)
ORF Open reading frame
(Khung đọc mở)
PCR Polymerase chain reaction
(Phản ứng chuỗi polymerase)
RD1 Region deletion 1

phát hiện và điều trị sớm càng trở nên cần thiết. Việc kiểm soát bệnh lao phụ thuộc
vào việc chẩn đoán nhanh và chính xác. Tuy nhiên việc chẩn đoán còn gặp rất nhiều
khó khăn.
Trong nhiều thập kỉ nay, phản ứng tuberculin skin test (TST) vẫn được sử
dụng để chẩn đoán nhiễm lao. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra TST
có độ đặc hiệu thấp đặc biệt trên các đối tượng có chủng ngừa BCG. Một phương
pháp mới dựa trên đáp ứng miễn dịch tế bào thông qua việc xác định interferon
gamma được tiết ra bởi tế bào T khi được kích thích bằng kháng nguyên đặc hiệu
của vi khuẩn lao đã được chứng minh có độ đặc hiệu cao hơn TST. Hai kháng
nguyên 10 Kdal Culture Filtetrate Proteinn (CFP10) và 6 Kdal Early Secretory
Antigenic Target (ESAT6) được mã hóa bởi gen Ihp nằm trên vùng đặc hiệu RD1
của vi khuẩn lao. Vùng RD1 có chiều dài 9,5 kb và có chứa 9 khung đọc mở

2
(ORFs) [36, 55]. Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng
minh RD1 chỉ quan sát được trên các chủng Mycobacterium tuberculosis, không có
mặt trên các chủng BCG và các chủng Mycobacteria trong môi trường [42,49]. Do
vậy việc nghiên cứu, ứng dụng gen mã hóa protein ESAT6 và CFP10 trong chẩn
đoán lao và có thể phát triển 1 vacxin có hiệu quả bảo vệ cao được coi là một hướng
đi mới và đã được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới [29, 59, 65].
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu quy trình
biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên tái tổ hợp ESAT6/CFP10 phục vụ cho việc
chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhiễm lao”. Đề tài này thuộc một phần nghiên
cứu của nhiệm vụ Nghị định thư Hoa Kỳ:״ Hợp tác nghiên cứu xây dựng quy trình
chế tạo bộ sinh phẩm ELISPOT chẩn đoán nhiễm lao ở quy mô phòng thí
nghiệm״.
Mục tiêu đề tài:
1. Thiết kế vector biểu hiện gen mã hóa cho kháng nguyên tái tổ hợp
ESAT6/CFP10.
2. Biểu hiện và tinh sạch protein ESAT6/CFP10 trong tế bào vi khuẩn E. coli tạo

1910) [3, 72]. Để ghi nhận công lao của ông, ngày nay người ta còn gọi trực khuẩn
lao gây bệnh trên người là trực khuẩn Koch (Bacille de Koch) [57].
Việc áp dụng các thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh đã cứu chữa cho hàng triệu
bệnh nhân lao khỏi căn bệnh nguy hiểm này. Tuy nhiên điều đó cũng đã tạo ra một
áp lực chọn lọc cho sự hình thành và phát triển các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc.
Hy vọng rằng bệnh này có thể được loại bỏ đã hoàn toàn bị dập tắt kể từ khi xuất
hiện các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc vào những năm 1980 [69].
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của đại dịch HIV/AIDS, dịch tễ lao toàn cầu đã
bước sang một hướng phát triển mới gây ra những thách thức vô cùng to lớn cho
cuộc chiến chống lao của loài người, đó là sự tương tác giữa lao và đại dịch
HIV/AIDS và sự phát triển của các chủng lao kháng thuốc [57, 61].
1.2. TÌNH HÌNH BỆNH LAO TRÊN THẾ GIỚI
Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người từ hàng ngàn năm nay.
Trên thế giới chưa bao giờ và không có một quốc gia, một khu vực, một dân tộc nào

4
không có người mắc bệnh lao và chết do lao. Năm 1993, WHO đã tuyên bố tình
trạng khẩn cấp toàn cầu của bệnh lao và mối hiểm hoạ của nó trong tương lai là
bệnh lao kháng thuốc [6].
Các kết quả thống kê lặp lại nhiều lần đã ước tính có khoảng 1/3 dânk.bb. số
thế giới (khoảng 2,2 tỷ người) bị lây nhiễm tiên phát với M.tuberculosis và 10%
trong số đó sẽ ph át triển thành bệnh tại một thời điểm nào đó trong đời. Khoảng
95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao thuộc về các nước có thu nhập
vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động, do đó bệnh lao
là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở ngại đối với sự phát triển
kinh tế xã hội [70].
Năm 2007, WHO ước tính rằng khu vực Đông Nam Á có số người nhiễm lao
chiếm tới 34% trên toàn thế giới. Số lượng các ca mới nhiễm trên toàn cầu vẫn tăng
lên và tập trung ở châu Phi, Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á. Trong năm 2010,
có khoảng 10 triệu trẻ em mồ côi do cha mẹ tử vong vì lao, có khoảng 80% số bệnh

1.3. TÌNH HÌNH BỆNH LAO TẠI VIỆT NAM
Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22
nước có tình hình dịch tễ lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 14 trong số
27 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới [68].
Năm 1995, trước những biến động xấu đi của tình hình dịch tễ bệnh lao toàn cầu,
công tác chống lao thực sự bắt đầu phải đối mặt với những thách thức mới là bệnh
lao kháng thuốc và Lao/HIV, Nhà nước và Bộ Y tế Việt Nam đã quyết định đưa
Chương trình chống lao thành một trong những Chương trình Y tế Quốc gia trọng
điểm [6].
Năm 1996, Việt Nam đã đạt mục tiêu toàn cầu về tìm và điều trị bệnh lao,
nhưng số ca bệnh báo cáo không thuyên giảm.
Trong giai đoạn 1997-2002, CTCLQG đã phát hiện được 532.703 bệnh nhân
lao các thể, tỷ lệ phát hiện đạt 82% số bệnh nhân ước tính (so với mục tiêu của
TCYTTG là 70%), CTCLQG đã điều trị 260.698 bệnh nhân lao phổi AFB (+) với tỷ
lệ khỏi là 92% [6, 15].

6
Năm 2002, khu vực Tây-Thái Bình Dương phát hiện 806.460 bệnh nhân lao
các thể, 372.220 bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới. Trong đó, số bệnh nhân do
CTCLQG Việt Nam phát hiện chiếm 12% bệnh nhân các thể và 15% số bệnh nhân
lao phổi AFB(+) mới [6].
Năm 2010, Việt Nam có 88.000 ca mắc lao mới được phát hiện, trên 8.000
bệnh nhân lao cũ cần tái điều trị và gần 30.000 người chết vì bệnh lao. Tổng số
bệnh nhân lao hiện mắc là 300.000 người [5]. Năm 2012, tổng số người mắc lao là
161.000, trong đó số người mắc lao mới khoảng 149.000, số người mắc lao thứ phát
là 12.000 người. Mỗi năm, Chương trình chống lao quốc gia phát hiện 100.000
bệnh nhân lao và chữa khỏi cho 92% [4].
Bên cạnh sự gia tăng đáng lo ngại thì tình trạng lao kháng thuốc là một vấn đề
cấp bách. Theo nghiên cứu của CTCLQG có 32,5% các trường hợp bệnh lao mới có
mang vi trùng lao kháng thuốc, trong đó có kháng SM 25,1%, tiếp theo là INH

không di động, không sinh bào tử, khó bắt màu các thuốc nhuộm thông thường do
có lớp sáp ở thành tế bào. Mycobacterium tuberculosis được xếp vào nhóm vi
khuẩn Gram dương, tuy nhiên khi nhuộm Gram vi khuẩn bắt màu rất yếu hoặc
không giữ được màu thuốc nhuộm [3, 7, 8]. Nhuộm theo phương pháp Ziehl-
Neelsen, trực khuẩn lao không bị cồn và axit làm mất màu của cacbonfuchsin, bắt
màu đỏ [8, 20], (hình 1.2).

Hình 1.1. Vi khuẩn lao M. tuberculosis trên kính hiển vi điện tử [57].

8Hình 1.2. Trực khuẩn M. tuberculosis sau khi nhuộm Ziehl – Nielsen [57].
1.4.3. Cấu trúc thành tế bào
Lớp vách của trực khuẩn có vai trò rất quan trọng. Cấu trúc của lớp này ngoài
đảm bảo cho sự tồn tại của trực khuẩn, làm cho trực khuẩn bền vững đối với hiện
tượng thực bào, khi xâm nhập vào cơ thể trực khuẩn lao khó bị tiêu diệt, ảnh hưởng
rất lớn đến khả năng gây bệnh của trực khuẩn [8].
Mycobacterium tuberculosis có cấu trúc vách tế bào phức tạp, được chia thành 4 lớp
(hình 1.3). Hình 1.3. Cấu trúc thành tế bào của vi khuẩn lao [72].
1- Lipid ngoài
2- Axit mycolic
3- Polysaccharides
(arabinogalactan)
4- Peptidoglycan
5- Màng sinh chất
6- Lipoarabinomannan (LAM)

Lớp thứ ba gồm các peptidoglican liên kết với đường arabinose và các phân tử
axit mycolic tạo nên bộ khung định hình cho vi khuẩn, đảm bảo cho vi khuẩn có độ
cứng nhất định. Thành tế bào của Mycobacteria có cấu trúc phức tạp với các thành
phần hóa học và nhiều liên kết chéo bất thường, mức độ liên kết giữa peptidoglycan
ở thành tế bào của M. tuberculosis là 70 đến 80% trong khi ở E. coli là 20-30% [57].
Lớp trong cùng là màng sinh chất có thành phần chủ yếu là các photpholipit.
Các photpholipit gồm 2 nhóm, nhóm ưa nước hướng vào bên trong, nhóm kị nước

10
hướng ra phía ngoài vỏ [7, 20, 57]. Màng sinh chất giữ vai trò điều hòa áp suất thẩm
thấu giữa tế bào chất và môi trường. Ngoài ra các protein của màng giữ các chức
năng khác nhau như protein nhạy với nồng độ của các phân tử trong môi trường ,
protein truyền tín hiệu đến bộ máy trao đổi chất và bộ máy di truyền trong nguyên
sinh chất, các enzyme liên quan đến quá trình trao đổi chất và sinh năng lượng. Các
enzyme xuyên màng và tổng hợp màng, tạo vách ngăn trong quá trình phân chia tế
bào [20].
1.4.4. Đặc điểm nuôi cấy
1.4.4.1. Môi trường và dạng khuẩn lạc
Trực khuẩn lao là vi khuẩn ưa khí bắt buộc, không mọc được ở điều kiện kị khí.
Nhiệt độ thích hợp để mọc là 37
o
C , ở nhiệt độ dưới 37
o
C và trên 42
o
C vi khuẩn lao
hầu như không mọc [20, 57]. Trực khuẩn lao sinh trưởng tốt nhất khi pO
2
là 100
mmHg và pCO

của thành tế bào gây hạn chế trong việc hấp thụ các chất dinh dưỡng và liên quan
đến tốc độ tổng hợp ribosome [57].
1.4.5. Khả năng gây bệnh
Độc lực của trực khuẩn lao có liên quan trực tiếp đến yếu tố “Cord” (trehalose-
6,6’-dimycolate) là chất gây ức chế hoạt động của tế bào bạch cầu, gây nên những u
hạt mãn tính. M. tuberculosis sinh ra ngoại độc tố nhưng không có ý nghĩa gây
bệnh.
Vi khuẩn lao có thể vào cơ thể qua nhiều đường. Thường là qua đường hô hấp,
gây lao phổi (90% các bệnh lao). Khi đó các mô của phế nang bị vi khuẩn xâm nhập
tạo ra các ổ chứa vi khuẩn, sau đó đến hạch lympho trong vùng rồi đến các mô
khác. Trực khuẩn lao cũng có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa ( thường
qua sữa bò tươi) gây lao dạ dày, ruột. Ngoài ra, trực khuẩn lao còn có thể vào cơ thể
qua da, giác mạc, đường sinh dục, nhưng rất hiếm.
Sau khi gây tổn thương tiên phát, vi khuẩn lao có thể theo đường bạch huyết
hoặc đường máu tới cơ quan khác gây tổn thương thứ phát [19]. Miễn dịch trong lao
là đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Đáp ứng miễn dịch làm chậm sự nhân
lên của trực khuẩn lao, gây hạn chế sự lan tràn của vi khuẩn và cuối cùng làm phá
hủy trực khuẩn. Đáp ứng miễn dịch trong bệnh lao phát sinh một phản ứng quá mẫn
muộn. Một số trường hợp vi khuẩn lao có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt trở lại
bạch cầu người và tồn tại dưới dạng ngủ ở trong các u hạt nên cơ thể không thanh
toán được. Đặc biệt là trong các trường hợp lao kháng thuốc cơ thể không thanh

12
toán được vi khuẩn và các thuốc cũng không tác động được, đây là một vấn đề nan
giải trong điều trị lao [19].
1.4.6. Đặc điểm hệ gen vi khuẩn lao
1.4.6.1. Đặc điểm hệ gen Mycobacteria tuberculosis
Hệ gen của chủng H37Rv được công bố năm 1998 có chiều dài 4.411.529
cặp base. Trong đó có 3.918 gen và các gen này đều được dự đoán là có mã hóa cho
protein, tỷ lệ G+C chiếm 65,61% không thay đổi ở các vị trí khác nhau trong toàn

protein quan trọng được mã hóa bởi vùng gen này bao gồm ESAT6 (Early
Secretory Antigenic Target 6); CFP10 ( Culture Filtetrate Protein 10) và CFP21 (
Culture Filtetrate protein 21) là những kháng nguyên được nhận biết bởi tế bào T
[31]. Sự vắng mặt của chúng trên chủng vắc xin BCG có thể là nguyên nhân ảnh
hưởng đến hiệu quả bảo vệ của BCG. Xóa vùng gen biệt hóa RD1 trên các chủng vi
khuẩn lao gây bệnh làm giảm khả năng sinh trưởng của vi khuẩn cũng như làm
giảm độc lực của vi khuẩn. Hệ thống tiết RD1 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế
sinh bệnh của vi khuẩn lao liên quan đến độc lực của vi khuẩn và cơ chế miễn dịch
bảo vệ của vật chủ [38, 42, 55] bao gồm sự hình thành các u hạt (granulomas); giảm
chức năng của các tế bào gai, đại thực bào, tế bào T bằng cách ức chế quá trình tiết
các cytokine kích hoạt hệ thống miễn dịch của vật chủ [56].

Hình 1.5. Vùng gen RD [31].
Trong khi các kháng nguyên được mã hóa bởi vùng RD1 được biết đến như là
một trong những yếu tố quyết định độc tố vi khuẩn lao thì bức tranh toàn cảnh về
mối quan hệ giữa các kháng nguyên này và cơ chế sinh bệnh của vi khuẩn lao vẫn
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Vai trò của kháng nguyên ESAT6 liên quan

14
đến quá trình xâm nhập của vi khuẩn lao vào hệ thống miễn dịch của vật chủ vẫn
chưa rõ ràng. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu hiện tại đã chứng minh vai trò của vùng
gen biệt hóa RD1 trong quá trình sản xuất kháng nguyên ESAT6 và CFP10 của vi
khuẩn lao.
1.5. PROTEIN ESAT6/CFP10
1.5.1. Cấu trúc phân tử của phức hệ protein ESAT6/CFP10.
ESAT6 có trọng lượng phân tử 6kDa, được tinh sạch lần đầu tiên bởi
L.Sorensen và cộng sự vào năm 1995 bao gồm 95 amino axit. ESAT6 được tiết
ngay trong giai đoạn đầu của quá trình nhiễm, liên quan đến cơ chế xâm nhập của vi
khuẩn vào tế bào vật chủ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các vùng nhận biết trên
protein ESAT6 có vai trò kích hoạt đáp ứng miễn dịch đặc hiệu kháng nguyên [46].

khuẩn lao sống [46]. Một nghiên cứu khác cũng chứng minh CFP10/ESAT6 có khả
năng kích thích tế bào T của bò đã bị nhiễm M.bovis sản sinh INF-γ ở nồng độ cao
[66]. Những phát hiện này đã khiến nhiều nhà khoa học nghĩ đến khả năng ứng
dụng hai kháng nguyên CFP10 và ESAT6 trong việc phát triển vacxin thay thế
vacxin BCG [48].
Kháng nguyên được sử dụng trong phản ứng tuberculin skin test có phản ứng
chéo với non-tuberculosis mycobacteria, nên TST không phân biệt được giữa
nhiễm Mycobacterium tuberculosis và nhiễm non-tuberculosis mycobacteria.
Cho đến nay, chủng M. bovis BCG vẫn được coi là ứng cử viên duy nhất cho
việc phát triển vacxin chống vi khuẩn lao. Tuy nhiên, hiệu quả bảo vệ của BCG đã
được chứng minh chỉ đạt từ 0-80%.
Do vậy, phát triển một vacxin mới, có hiệu quả bảo vệ cao, thay thế BCG là
rất cần thiết, góp phần khống chế được sự lây lan của bệnh lao trên toàn cầu.

16
CFP10 và ESAT6 đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu nhằm phát triển
phương pháp chẩn đoán nhiễm lao thay thế phản ứng mantoux. Một phương pháp
mới dựa trên đáp ứng miễn dịch tế bào của hai kháng nguyên đặc hiệu vi khuẩn lao
ESAT6/CFP10 là Quantiferon TB gold test (Celletist Limitted, Carnegie Victoria
Australia) và T SPOT-TB assay (Oxford Immunotec, Oxford UK) đã được đánh giá
là có độ đặc hiệu cao hơn TST trong chẩn đoán nhiễm lao. Cả hai bộ sinh phẩm
thương phẩm này đều được xây dựng dựa trên đáp ứng miễn dịch tế bào của vi
khuẩn lao thông qua việc xác định interferon gamma được tiết ra bởi T cells khi
được kích thích với kháng nguyên đặc hiệu vi khuẩn lao ESAT6/CFP10. Độ nhạy
và độ đặc hiệu của hai bộ kít trên cao nhưng ESAT6/CFP10 được sử dụng trong hai
bộ KIT có mặt trên thị trường (Quantiferon TB gold test, T Spot TB) là các
overlapping peptides dẫn đến giá thành đắt, khó có thể đưa vào sử dụng đại trà đặc
biệt là ở những nước đang phát triển như Việt nam. Hill và các cộng sự [39] đã
chứng minh rằng protein tái tổ hợp ESAT6/CFP10 có tính đặc hiệu và đáp ứng
miễn dịch tương tự như overlapping peptides trong chẩn đoán nhiễm lao.


18
Bảng 2.1. Các sinh phẩm hóa chất chính
Tên hóa chất Hãng sản xuất
1. Hóa chất dùng trong tách chiết ADN
Tris – Base

Applied BioSiciences (Mỹ)
PBS Rectopur(CE- EMB)
Proteinase K Sigma
Ethanol Wako (Japan)
Natri acetate Wako (Japan)

Lysozyme QIAGEN
Các dung môi hữu cơ Gibco BRL Life technology
2. Hóa chất dùng trong PCR và PCR gắn BigDye
Mồi Promega
MgCl
2
Promega
Deoxyribonucleoside triphosphate mixture Promega

Tag polymerase Promega

Đệm BigDye QIAGEN
HiDi Formanid Invitrogen
3. Hóa chất trong điện di và soi gel
Thang ADN chuẩn Fermentas
Agarose Fermentas
Red safe Sigma (Mỹ)

Tủ ấm Shelab
Máy PCR Eppendorf

Trích đoạn Xác định hoạt tính kháng nguyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status