Đề cương Ôn thi Tư tưởng Hồ Chí Minh Trung cấp lý luận chính trị - Pdf 28

MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CHỦ ĐỀ 1: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1. KN: Tư tưởng HCM
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, là tài sản tinh thần
vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”
KN về tư tưởng Hồ Chí Minh như trên thể hiện bốn nội dung chủ yếu sau:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách
mạng xã hội chủ nghĩa
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ
nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Nội dung tư tưởng HCM bao
gồm mội hệ thống các quan điểm cơ bản về chính trị, các quan điểm vè kinh tế, văn hó
xây dựng con người XHCN vv và phương pháp cách mạng HCM.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt
hơn 70 năm qua và tiếp tục soi sáng con đường chúng ta tiến lên xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Bối cảnh ra đời TT.HCM
TT HCM được hình thành dưới tác động của những điều kiện lịch sử - xã hội cụ
thể của dân tộc và nhân loại trong thời đại người sống và hoạt động.
* Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
_ Cuối thế kỷ XIX
1858: Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, sự xâm lược của thực dân Pháp đã gây
ra nhiều hậu quả cho xã hội Việt Nam.

- Quốc tế cộng sản 3 ra đời ( tháng 3 – 1919) đề cập tới vấn đề thuộc địa, bênh
vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giúp đỡ đào
tạo cách mạng, vạch ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Bối cảnh trong nước đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra con đường cứu nước mới, bối
cảnh thời đại đã tạo ra con đường mà Việt Nam đang cần, tất nhiên nó không phải hoàn
toàn có sẵn.
Trước những đòi hỏi của dân tộc và nhân loại, HCM và TT HCM xuất hiện. Đó là
đòi hỏi khách quan của dân tộc và nhân loại. Sự ra đời của TT HCM là sự giải đáp, là sản
phẩm tất yếu của CMVN và thế giới trong điều kiện lịch sử mới, không phải là ya muốn
chủ quan hay một sự áp đặt nào.
3. Nguồn gốc hình thành tư tưởng HCM( Trọng tâm)
Tư tưởng HCM là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn
hóa, nhân nghĩa và thực tiễn CM Việt Nam với tinh hoa văn hóa nhân loại được nâng lên
tầm cao mới dưới ánh sáng CN Mác LêNin.
Một là: Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
- Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất tự lực tự cường trong đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc. Tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường trong đấu tranh đã
được hình thành rất sớm trong lịch sử dân tộc, nó được kế thừa và phát huy qua nhiều thế
hệ trở thành truyền thống tốt đẹp, thiêng liêng nhất của dân tộc ta.
Truyền thống trên chính là cơ sở cho ý chí, hành động cứu nước và xây dựng đát
nước của người VN nói chung và của HCM nói riêng. Bởi chính từ lòng yêu nước đã thôi
thúc Bác ra đi tìm đường cứu nước và ý chí kiên cường đã giúp Người vượt qua mọi khó
khăn gian khổ để đạt được mục đích của mình.
HCM đã phát triển CN yêu nước trong thời đại mới. CN yêu nước VN đã có quá
trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc. Thời phong kiến yêu
nước cô đọng trong tư tưởng trung quân ái quốc, bảo vệ tổ quốc chống giặc ngoại xâm.
Kế thừa truyên thống của dân tộc, Bác đã thể hiện lòng yêu quê hương đất nước nồng
nàn băng con đường hành động đi tìm đường cứu nước. Với Bác yêu nước gắn liền với
thương dân. Bác nói : “ lòng yêu thương nhân dân và nhân loại của tôi ko bao giờ thay
đổi “. Người có một ham muốn là làm sao cho nước ta được độc lập dân ta được tự do, ai

Hai là: Tinh hoa văn hóa phương Đông và Phương Tây
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiếu học lại thêm tư chất thông
minh tuyệt vời HCM đã được truyền thụ một trình độ Hán học vững vàng và tiếp đó tiếp
thu văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế. Sau này khi bôn ba trên con đường
cứu nước HCM vừa hoạt động cách mạng vừa học học hỏi ko ngừng. Người đã làm giàu
cho mình bằng tinh hoa văn hóa nhân loại.
-Tư tưởng văn hóa phương Đông :
Nho giáo Trung hoa được du nhập vào VN rất sớm trong thời Bắc thuộc. Trong
Nho giáo có nhiều yếu tố duy tâm tiêu cực phản động như :tư tưởng phân biệt đẳng cấp
xã hội, tư tưởng coi thường người phụ nữ trong xã hội, tư tưởng coi thường lao động
chân tay. Tuy nhiên Nho giáo có nhiều yếu tố tích cực đó là : triết lí nhân sinh thể hiện ở
tư tưởng từ bậc thiên tử tới thứ dân phải lấy việc tu thân làm gốc, lí tưởng về một một xã
hội đại đồng có vua sáng tôi hiền, cha từ, con thảo, tư tưởng đề cao văn hóa, lễ nghĩa
truyền thống, coi trọng việc học hành. HCM đã lựa chọn những yếu tố tích cực của Nho
giáo đưa vào đó nội dung và ý nghĩa cho phù hợp với cách mạng VN trong giai đoạn
mới. HCM đã làm rất nhiều bài thơ bằng chữ hán, chuẩn mực đạo đức mới, lấy dân làm
gốc, quan tâm xây dựng nền giáo dục.
Phật giáo là tôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ có ảnh hưởng lớn tới đời sống, tư
tưởng, suy nghĩ của người Việt. Phật giáo có một số hạn chế như: tư tưởng mê tín dị
đoan, tư tưởng an bài cho số phận cam chịu cuộc sống khổ hạnh để chờ 1 cuộc sống mới
tốt đẹp ở kiếp sau.Tuy vậy Phật giáo có nhiều yếu tố tích cực như : tư tưởng vị tha, từ bi,
cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân, sống hòa đồng với thiên nhiên.,nếp
sống có đạo đức trong sạch, giản dị, chăm làm điều thiện. tư tưởng đề cao lao động, hống
lại sự lười biếng trong xã hội.
Những tư tưởng của Phật giáo phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng người
Việt cho nên được tiếp thu một cách tự nhiên và có ảnh hưởng khá rõ đến tư tưởng HCM.
Về tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn. HCM tiếp thu học thuyết về “ Dân tộc,độc lập
dân tôc, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc”.
-Tư tưởng và văn hóa phương Tây :
3

Nin, HCM từ một nhà yêu nước trở thành người cộng sản, trở thành người tham gia sáng
lập đảng cộng sản pháp.
Khi lần đầu tiếp xúc với CN Mác- Lênin, Bác đã khẳng định đây chính là con
đường cứu nước. Nhưng với khả năng độc lập tự chủ sáng tạo của mình, HCM đã biết
tiếp thu và vận dụng 1 cách khoa học những nguyên lí của CN Mác-lê phù hợp với hoàn
cảnh và đặc điểm cụ thể với hoàn cảnh của VN lúc đấy, chứ ko rơi vào sao chép, giáo
điều, dập khuôn.
HCM đến với CN M-L là tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng
dân tộc tức là nhu cầu thực tiễn của CMVN.
NAQ tiếp thu lí luận M-L theo phương pháp nhận thức mácxit đồng thời nắm lấy
cái cốt, cái tinh thần, cái bản chất chứ ko tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ.
Vai trò của CN MLN đối với TT HCM:
- CN MLN trang bị thế giới quan , phương pháp luận khoa học
- Tạo 1 phương pháp đúng đắn để tiếp cận truyền thống văn hóa dân tộc cũng như tinh
hoa văn hóa nhân loại.
- Giúp người phân tích tổng kết các học thuyết tư tưởng đương thời và kinh nghiệm của
CMTG.
- Tạo lập tâm lý quan điểm vững vàng
HCM tiếp thu CN mác LN với những đặc trưng riêng:
- Từ tư duy cụ thể hóa thành hành động
- Tính độc lập, tự chủ, sáng tạo
4
- Vận dụng linh hoạt vào CM VN
=> Có thể nói, CN M-L là một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng, là cơ sở lý
luận chủ yếu nhất quyết định HCM từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản, góp
phần to lớn trong việc hình thành và hoàn thiện tư tưởng HCM. Như vậy, các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN đã được nâng lên tầm v thế giới với việc thâu nhận
tinh hoa văn hóa của nhân loại và chủ nghĩa Mác lê Nin, hình thành và tạo ra bước phát
triển phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại trong thời đại tư tưởng HCM.
Bốn là: Trí tuệ và hoạt động thực tiễn của HCM.

- Tấm gương học tập theo TTHCM như các đc:………………….
- Tấm gương lao động theo TTHCM như các đc:………………
Bản thân tôi luôn nêu cao tinh thần học tập và làm theo Tấm gương chiến đấu và học
tập theo TTHCM
-Ưu điểm:
+Bản thân tôi luôn nêu cao tinh thần học tập theo TTHCM đó là học suốt đời ,học không
ngừng nghỉ.Học ở trường,học bạn bè đồng nghiệp,học trong thực tiễn…. và tự học là
chính.Tôi ko ngừng trau dồi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Ngoài ra tôi còn
theo học các lớp bồi dưỡng chính trị …….Thời gian rảnh dỗi tôi còn học ngoại ngữ qua
mạng………
+Bản thân tôi luôn nêu cao tinh thần lao động theo TTHCM . Tôi xác định rõ lao động là
5
vinh quang. Lao động llà nghĩa vụ để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp phần
xây dựng và phát triển đất nước.Lao động còn là trách nhiệm đối với bản thân,gia đình
và xã hội .Tôi đã lao động và cống hiến cho cơ quan,đơn vị như……………………
+Bản thân tôi luôn nêu cao tinh thần sản xuất theo TTHCM : tôi và gia đình tôi tăng gia
sản xuất,phát triển kinh tế hộ gia đình như nuôi gà đồi,trồng vải thiều…………….
+Bản thân tôi luôn nêu cao tinh thần chiến đấu theo TTHCM : chúng ta đang sống trong
thời bình nhưng tinh thần chiến đấu đc thể hiện ở lòng yêu nước,tình yêu biển đảo quê
hương……………………………………………………
-Nhược điểm:tự làm
-Khắc phục:tự làm
CHỦ ĐỀ 2: TT HCM ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI.
1. KN: Tư tưởng HCM
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, là tài sản tinh thần
vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách

bình chân chính mới có độc lập hoàn toàn. Không thể có ĐLDT thật sự khi đất nước còn
có sự lệ thuộc hoặc có sự hiện diện của quân đội nước ngoài.
d, ĐLDT phải đi tới tự do hạnh phúc của nhân dân
Theo HCM. nếu đất nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì
độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Theo người, dân chỉ biết giá trị của tự do, độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ. Bởi vậy khi nước VN giành được độc lập từ tay đế quốc,
HCM đòi hỏi chính phủ cách mạng phải đi đến làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở,
được học hành. Người cho rằng phải thực hiện được bốn điều đó, để dân nước ta xứng
đáng với tự do, độc lập và giúp sức cho tự do độc lập.
3. Quan niệm của HCM về CNXH (phân tích)
CNXH là 1 chế độ do nhân dân lao động làm chủ; 1 xã hội dân giàu nước mạnh,
văn minh, hạnh phúc; nhà máy xe lửa ngân hàng thuộc về của công; 1 XH dân chủ công
bằng; các dân tộc trong nước đều bình đẳng, đoàn kết tương trợ lẫn nhau; đoàn kết hữu
nghị và bình đẳng với các dân tộc trên thế giới.
a, Đặc trưng, bản chất của CNXH
Một là: CNXH là chế độ xh có lực lượng sản xuất phát triển cao, dựa trên LLSX
hiện đại và chế độ công hữu về TLSX chủ yếu nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.
Hai là CNXH có chế độ do nd lao động làm chủ, nhà nước phải phát huy quyền làm chủ
của nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Ba là Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức, trong đó người
với người là bạn bè, là đồng chí, là anh em, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo điều kiện để phát triển hết
mọi khả năng sẵn có của mình.
Bốn là:Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng và hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm
ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng; các dân tộc đều bình đẳng, miền núi được
giúp đỡ để tiến kịp miền xuôi. Hòa bình hữu nghi với các dân tộc trên thế giới.
=> Chủ nghĩa xã hội theo TTHCM thể hiện 1 hệ thống chính trị về độc lập, tự do, hạnh
phúc, dân chủ hòa bình. Phản ánh khát vọng tha thiết của loài người

khắc phục phong tục tập quán lạc hậu
Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người khẳng định: "phải
xã hội chủ nghĩa về nội dung"; để có một nền văn hóa như thế ta phải phát huy vốn văn
hóa truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời học tập và tiếp thu có chọn lọc văn hóa
tiên tiến của thế giới. Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại
chúng. Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm cho phong trào văn hóa có bề rộng, đồng thời
phải có bề sâu. Trong khi đáp ứng mặt giải trí thì không được xem nhẹ việc nâng cao tri
thức của quần chúng, đồng thời Người luôn luôn nhắc nhở phải làm cho văn hóa gắn liền
với lao động sản xuất
- Về quan hề xã hội: Theo HCM phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với
người. HCM căn dặn: “muốn xây dựng CNXH , trước hết cần có những con người
XHCN”. Thực hiện công bằng XH tạo ra động lực cho chủ nghĩa Xh. Và để tạo động lực
cho CNXH còn cần phải sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố về chính trị, văn hóa,
đạo đức, pháp luật.
Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào
tạo con người. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa,
Hồ Chí Minh quan tâm trước hết đến mặt tư tưởng. Người cho rằng: Muốn có con người
xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi
con người là kết quả của việc học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng
cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng;
đồng thời Người cũng rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo điều kiện để mỗi người rèn
luyện tài năng, đem tài năng cống hiến cho xã hội. Tuy vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tài
năng với đạo đức. Theo Người, "có tài mà không có đức là hỏng"; dĩ nhiên đức phải đi
đôi với tài, nếu không có tài thì không thể làm việc được. Cũng như vậy, Người luôn gắn
phẩm chất chính trị với trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ trong đó "chính trị là
tinh thần, chuyên môn là thể xác". Hai mặt đó gắn bó thống nhất trong một con người.
Do vậy, tất cả mọi người đều phải luôn luôn trau dồi đạo đức và tài năng.
c, CNXH tạo cơ sở củng cố, giữ vững độc lập dân tộc.

tộc.
* Thường xuyên gắn bó cách mạng VN với CMTG
CMVN là một bộ phận của CMTG, CMVN phải biết tranh thủ sức mạnh của
CMTG, biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt của các lực lượng CM
trên TG, làm tăng sức mạnh của mình để vượt qua khó khăn, chiến thắng kẻ thù, đưa
cách mạng đến thành công.
=> HCM khẳng định. Ba điều kiện đảm bảo cho ĐLDT gắn liền với CNXH trên. Đó là 3
bài học lớn của CMVN mà mỗi Cán bộ đảng viên phải nắm vững và luôn thực hiện tốt.
e, MQH giữa ĐLDT với CNXH
*ĐLDT là mục tiêu trực tiếp, trước hết.
ĐLDT là mục tiêu cao cả là giá trị tinh thần quý nhất của người VN, là sự thể hiện
tập trung của chủ nghĩa yêu nước và ý chí tự lực tự cường của người VN.
ĐLDT là nguồn sức mạnh vô tận của CMVN.
HCM đã chỉ ra rằng, CMVN phải trải qua 2 giai đoạn, CM dân tộc dân chủ va
CM XHCN. Giai đoạn CM dân tộc dân chủ là tất yếu, phải được thực hiện trước hết, giải
quyết mâu thuẫn giữa toàn thể quốc dân việt nam với bon đế quốc và tay sai. Để giải
quyết mâu thuẫn trên, HCM chủ trương đoàn kết toàn dân tộc nhằm “Đánh đổ đế quốc
chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”; “làm cho nước nam hoàn toàn độc lập”; Như vậy,
ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930) HCM đã chỉ rõ ĐLDT là mục tiêu trực
tiếp, trước hết.
*ĐLDT là tiền đề đi lên CNXH
ĐLDT là mục tiêu trực tiếp, trước hết trong cách mạng dân tộc dân chủ, nó cũng
là khởi điểm của con đường CMVN. Bởi vậy ĐLDT không phải là mục tiêu cuối cùng
của CMVN mà thực hiện ĐLDT còn là quá trình tạo tiền đề đi lên CNXH, cụ thể:
Trước hết về chính trị: Xác lập và phát triển các thành tố của hệ thống chính trị do
ĐCS VN lãnh đạo; thành lập mặt trận dân tộc thống nhất và thực hiện đại đoàn kết toàn
dân trong mặt trận; giành chính quyền và xây dựng 1 nhà nước cách mạng thực sự của
dân, do dân và vì dân.
Hai là về kinh tế: Bước đầu hình thành đường lối kinh tế, từng bước xây dựng các
cơ sở kinh tế có tính chất XHCN. Mục đích là từng bước cải thiện đời sống nhân dân, bồi

tự cô lập mình, mà phải tích cực hội nhập quốc tế, làm tăng sức mạnh của đất nước và
làm giàu bản sắc dân tộc.
Ba là: ĐL DT gắn bó chặt chẽ với CNXH, phải được thể hiện xuyên suốt quá
trình đổi mới, trên mọi lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Bốn là: Giữ vững định hướng CNXH trong suốt quá trình đổi mới. Đây là con
đường đúng đắn trên cả lý luận và thực tiễn, phù hợp với thời đại.
=> ĐL DT gắn liền với CNXH là tư tưởng xuyên suốt đối với cách mạng VN. Là con
đường duy nhất đúng đắn của CMVN, là tư tưởng chỉ đạo cho sự nghiệp xây dựng
XHCN bảo vệ tổ quốc và đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”.
************************************************************************
VẤN ĐỀ 3: TT HCM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
1. Quan niệm của HCM về đại đoàn kết.
Theo quan niệm của HCM, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
đông đảo, mà không phải là công việc của một số người, của riêng Đảng Cộng sản. Đảng
lãnh đạo để nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới. Sự
nghiệp ấy chỉ có thể thực hiện được bằng sức mạnh của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân
tộc. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của HCM
là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng.
Tư tưởng Đại đoàn kết của HCM là một hệ thống các luận điểm về vị trí, vai trò, nội
dung, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, nhằm phát huy
10
đến mức cao nhât sức mạnh của dân tộc, của quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh cho độc
lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
2. Quan niệm của HCM về vị trí, vai trò của DĐK trong cách mạng Việt Nam.
a- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của
cách mạng VN
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta.
Người cho rằng: Muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự
mình cứu lấy mình bằng cách mạng vô sản.

* Lực lượng Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu tiên,
không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không
phân biệt già trẻ , gái, trai, giàu, nghèo. Nói dến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải
tập hợp mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nói
rõ: “ ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để
xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân
dân thì ta đoàn kết với họ”.
Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân
nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Xác
định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, trí thức. Tin vào dân, dựa vào dân, phấn
đấu vì quyền lợi của dân. Người cho rằng: liên minh công nông- lao động trí óc làm nền
tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn
11
kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối
đại đoàn kết dân tộc.
* Hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc
Hình thức tổ chức Đại đoàn kết dân tộctheo HCM là đoàn kết trong Mặt trận dân
tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Về xây dựng mặt trận thống nhất HCM yêu cầu:
Một là: mặt trận phải lấy liên minh công nông trí thức làm nền tảng. Liên minh
công nông trí có vững thì mặt trận mới bền vững lâu dài được.Mặt trận phải đoàn kết các
tầng lớp yêu nước khác để mở rộng tổ chức, mở rộng khối đại đoàn kết,
Hai là: Mặt trận do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Đảng lãnh đạo mặt trận
bằng việc đề ra chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn
của cuộc cách mạng bằng phương pháp tuyên truyền giáo dục thuyết phục thông qua tổ
chức cơ sở đảng. HCM nêu rõ “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng.
Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”.
Đảng phải dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân
thành để đối xử, cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, tự nguyện, hết sức tránh gò ép, quan

chức khoa học. Đó là phương pháp xây dựng củng cố và phát triển hệ thống chính trị bao
gồm: Đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Là hạt nhân khối dđk, HCM yêu cầu đảng phải đề ra đường lối đại đoàn kết đúng
đắn; đảng phải đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động.
- Phương pháp xử lý và giải quyết các mối quan hệ
12
PP đại đoàn kết HCM chính là phương pháp xử lý khoa học mối tương quan ba
chiều giữa cách mạng – trung gian – phản cách mạng, nhằm mở rộng cao nhất trận tuyến
cách mạng và thu hẹp đến mức thấp nhất trận tuyến thù địch.
Thứ hai: Đại đoàn kết quốc tế
Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính
phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai câp công nhân.
HCM luôn luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới,
cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong
trào cách mạng thế giới. Tư tưởng đó tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện đầy đủ hơn trong
quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi nói về sự cần thiết phải có tổ chức Đảng
Cộng sản, HCM nêu rõ “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”; thực hiện sự
liên kết chặt chẽ với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc và các nước tư bản, với phong trào đấu
tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.
Trong quá trình cách mạng, tư tưởng cuả Người về vấn đề đoàn kết với cách mạng thế
giới càng được làm sáng tỏ hơn và đầy đủ hơn: Đó là vấn đề cách mạng trong nước phải
gắnvới phong trào và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cụ thể hơn là với nhân
dân Pháp, Mỹ, nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, với
phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.
Tưtưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành 3 tầng Mặt trận: Mặt trận đại
đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt-Miên-Lào và Mặt trận nhân dân thế giới đoàn
kết vớ iViệt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Đây là sự phát triển rực rỡ và là thắng lợi to lớn của tư tưởng Hồ Chí minh về đại đoàn

có cán bộ tốt thì hỏng việc tức là lỗ vốn. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt
thì thành công.
HCM đặt vị trí của cán bộ bên cạnh công việc và công tác kiểm tra sua khi đã có
chính sách đúng. Người viết “Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại
của chính sách là do nơi, cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra”.
Người cho rằng: “Cán bộ quyết định mọi việc”. Công việc thành hay bại một phần lớn là
do tư tưởng đạo đức, thái độ làm việc của cán bộ. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc ươm trồng con
người mới xã hội chủ nghĩa, việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là công việc
trọng đại của đất nước, của dân tộc, của Đảng. Theo Người thì đầu tư cho sự nghiệp trồng
người, đầu tư cho công tác cán bộ là sự đầu tư sáng suốt nhất, có lãi nhất.
Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, đây là
nhiệm vụ rất vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ,
phức tạp. Để hoàn thành nhiệm vụ đó đòi hỏi Đảng phải xây dựng được một đội ngũ cán
bộ có đủ đức, đủ tài, trong đó đức là quan trọng hàng đầu. Người chỉ rõ, đạo đức là
“gốc”, nền tảng của người cách mạng. Người nhấn mạnh: “Cũng như sông thì phải có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân
2. Yêu cầu của HCM về đức và tài của người cán bộ (Trọng tâm)
*Quan điểm về vai trò của đạo đức cách mạng:
Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa - cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết
tinh thần và lực lượng ra phấn đấu; phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách
mạng cho cán bộ, đảng viên.Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý
luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu
sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt
không thể thiếu của cán bộ, đảng viên.
Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền

bước, chán nản ; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, "lo
trước thiên hạ, vui sau thiên hạ", không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần,
không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v
Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì
mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải
càng cao, vì đức - tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi.
* Yêu cấu đạo đức với cán bộ
Một là: Trung với nước, hiếu với dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu.Từ chỗ trung với vua, hiếu với cha mẹ đến trung với nước, hiếu với
dân là một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức. Theo quan điểm Hồ Chí Minh,
nước là nước của dân và dân là người chủ của nước. Vì vậy, "trung với nước, hiếu với
dân" là thể hiện trách nhiệm với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên
và phát triển của đất nước.
Trung với nước là:Trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội, phải
biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết, trước hết. Là quyết
tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng. Là thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Hiếu với dân là: Khẳng định vai trò sức mạnh thực sự của nhân dân, tin dân, học
dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó mật thiết với dân, tổ chức, vận động nhân dân thực
hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Chăm lo đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân.
Hai là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cần tức là siêng năng, chăm chỉ,
cố gắng, dẻo dai. Kiệm là tiết kiệm vật tư, tiền bạc, của cải, thời gian, không xa xỉ, không
hoang phí.Liêm là trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng. Chính là
không tà, là thẳng thắn, đứng đắn. Các đức tính đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Cần mà không kiệm giống như một chiếc thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì lấy gì
mà kiệm. Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có
cành, lá, hoa, quả mới là hoàn chỉnh.
Cần, kiệm, liêm, chính càng cần thiết đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì, nếu cán

lên lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có cá tính riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của
bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của
tập thể thì không phải là xấu. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chỉ ở trong chế độ xã
hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống của riêng mình, phát
huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.
Ba là: Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa. Tình thương yêu con
người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng kiểu tôn giáo, mà luôn luôn được
nhận thức và giải quyết trên lập trường của giai cấp vô sản, dành cho các dân tộc và con
người bị áp bức, đau khổ.
Hồ Chí Minh thương yêu con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la rộng
lớn, vừa gần gũi thân thương đối với từng số phận con người. Hồ Chí Minh luôn sống
giữa cuộc đời và không có cái gì thuộc về con người đối với Hồ Chí Minh lại là xa lạ.
Người quan tâm đến tư tưởng, công tác, đời sống của từng người, việc ăn, việc mặc, ở,
học hành, giải trí của mỗi người dân, không quên, không sót một ai, từ những người bạn
thuở hàn vi, đến những người quen mới. Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh luôn
gắn liền với hành động cụ thể, phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho con
người.
Bốn là: Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, hòa quyện giữa chủ nghĩa yêu nước chân
chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của đạo đức cộng sản
chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và của xã hội xã hội
chủ nghĩa.
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn và sâu sắc. Đó
là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất
bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng tộc. Người khẳng định: bốn phương vô sản đều
là anh em; giúp bạn là giúp mình; thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế
giới. Người đã góp phần to lớn, có hiệu quả xây đắp tình đoàn kết quốc tế, tạo ra một
kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo một nền văn hóa hòa bình
trên thế giới.

Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất
thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của
đạo đức mới, đó là "chủ nghĩa cá nhân". Xây đi đôi với chống là muốn xây phải chống,
chống nhằm mục đích xây. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá
nhân.
Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình
đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể
hoá sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá các phẩm chất đạo
đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội. Trong giáo dục, vấn
đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người
nhận thức được và tự giác thực hiện.
Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá
nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn.
Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần
chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua
"ba xây, ba chống", viết sách "Người tốt, việc tốt" để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức,
lối sống.
Qua đây chúng ta có thể khẳng định rằng: tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
cán bộ và công tác cán bộ là một hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện, khoa học. Đồng
thời Người đã nêu ra và giải quyết những vấn đề cơ bản về cán bộ và công tác cán bộ một
cách khoa học, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam…/
17
*Yêu cầu của Hồ Chí Minh về tài của người cán bộ. Tài chính là năng lực của người
cán bộ
Trên nền tảng đạo đức là gốc, người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo và tổ chức
thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Chúnh phủ. Thực chất đó là
năng lựcc tổ chức và động viên quần chúng thực hiện chính sách của Đảng và Chính phủ.
Muốn động viên, tổ chức và giáo dục nhân dân, chiều sâu và gốc rễ của vấn đề là phải
nhận thức thật sự khoa học và cách mạng hai chữ “cán bộ” và “lãnh đạo” là gì? Hồ Chí
Minh giải thích: “ Làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Mấy

chúng , hóa nó thành cái đường lối để lãnh đọa quần chúng.
* Liên hệ: Tình hình học tập theo tấm gương đạo đức HCM( trọng tâm
các đc làm thêm)
a.Thực trạng hiện nay cơ quan,xã tôi là xã………………….đã phát động các phong
trào học tập theo tấm gương đạo đức HCM như: Phong trào học tập và làm theo
lời Bác.Phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM….và cuộc thi: Nhật ký
vàng làm theo lời bác.Thi viết về Bác.Thi vẽ về Bác…….Thi tìm hiểu về thơ của Bác…
-Ưu điểm……….
+ Cơ quan ( đia phuong) tôi đã thực hiện tốt chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Ban Chấp hành Trung ương ban
hành và đc đông đảo CBCC và quần chúng hưởng ứng……….
+/ Khuyết điểm: Còn tình trạng một số phong trào chạy theo thành tích,số lượng,sao
chép,làm cho xong nên chất lượng và hiệu quả chua cao. Chưa phát huy đc tác dụng
tuyên truyền,giáo dục……
+/ Đề xuất một số giải pháp: Khi phát động phong trào nên tập trung cao vào nội dung
và chất lượng tránh phô trương,hình thức.Sau khi kết thúc phong trào cần có công tác
kiểm tra,đánh giá ,rút kinh nghiệm về nhũng việc đã làm đc,việc chưa làm đc của phong
trào. Khen thưởng những tập thể và cá nhân xuất sắc,phê bình những tập thể và cá nhân
làm qua loa,đại khái,hình thức…….
b.Liên hệ ưu nhược điểm của bản thân (theo 4 tiêu chuẩn)
- Ưu điểm:Bản thân tôi luôn học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM như:
+Trung với nước: bản thân tôi luôn có lập trường tư tưởng vững vàng ,kiên định mục
tiêu XHCN. Thực hiện tốt đường lối,chủ trương,chính sách của đảng và pháp luật của
nhà nước. Có tình yêu nước sâu nặng và đặc biệt là tình yêu với biển đảo quê huơng. Sẵn
sàng tham gia các hoạt động như: “ Tất cả vì Trường Sa thân yêu”, “ Góp đá xây dựng
Trường Sa” “Trường Sa trong trái tim tôi”…
+Hiếu với dân:Chủ tịch HCM đã từng nói:”Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó
vạn lần dân liệu cũng xong”. Bản thân tôi là một CBCC NN nên tôi đã nhận thức rõ tầm
quan trọng của nhân dân và luôn liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân
lên trên hết,lắng nghe ý kiến của nhân dân,giải thích cho nhân dân …….

thể qua phong cách khác nhau của từng người.
Phong cách của người cán bộ là một chỉnh thể bắt đầu từ suy nghĩ (tư duy) đến hoạt động
thực tiễn. và cuối cùng là phong cách sinh hoạt đời thường.
* Người cán bộ tu dưỡng rèn luyện theo phong cách HCM (Yêu cầu về phong cách
của người cán bộ).
Một là: Rèn luyện phong cách tư duy
Tu dưỡng theo phong cách tư duy HCM là mỗi cán bộ đảng viên phải có tinh thần
độc lập tự chủ sáng tạo. Độc lập là không lệ thuộc, không bắt trước, không theo đuôi. Tự
chủ là làm chủ suy nghĩ của mình, làm chủ bản thân và công việc của mình. Sáng tạo là
sẵn sàng từ bỏ những cái cũ xấu xa, lạc hậu, lỗi thời. Tìm tòi những cái mới phù hợp với
quy luật khách quan và thực tiễn.
Tư duy phải xuất phát từ thực tế VN, địa phương mình, phù hợp với những điều
kiện lịch sử cụ thể. Phải mở rộng tư duy, nghiên cứu tư tưởng, học thuyết. Hiện nay cán
bộ đảng viên phải chú trọng hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng học tập nâng cao
trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ của mình bằng những kiến thức phong phú và sâu rộng.
Tư duy độc lập tự chủ sáng tạo đồng nghĩa với 1 bản lĩnh vững vàng, một tinh thần dũng
cảm dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” trên cơ sở nhân cách và tài năng, tự quyết
định một cách độc lập thái độ, hành động, quan điểm của mình không vì áp lực bên ngoài
mà thay đổi chính kiến, với tinh thần giám nghĩ giám chịu trách nhiệm trước nhân dân, tổ
quốc và đảng. Tư duy đó tạo cho mỗi cán bộ có bản sắc riêng, chính kiến riêng.
Hai là: Rèn luyện phong cách làm việc.
- Rèn luyện tác phong quần chúng
Phong cách quần chúng của HCM xuất phát từ những giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc VN. HCM là người sớm đánh giá cao vị trí vai trò của quần chúng
nhân dân. Theo người trên bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không
gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Dễ mười lần dân cũng chịu, khó trăm lần
dân liệu cũng xong. Dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng
hộ việc gì làm cũng không nên.
Cán bộ đảng viên tu dưỡng rèn luyện theo phong cách quần chúng của HCM là
phải theo đúng đường lối nhân dân với các nôi dung cụ thể sau:

Thứ ba: Nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và tuyệt
đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách.
Về phát huy quyền làm chủ nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên phải làm cho nhân dân có
năng lực làm chủ, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, giám
nói, giám làm. Dân là chủ là nói đến địa vị , vị thế của người dân trong một nước dân
chue. Dân làm chủ là nói đến năng lực bổn phận của người dân. Phải coi trọng nâng cao
dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực của công
dân, khắc phục dân chủ hình thức.
- Tác phong khoa học
Mỗi cán bộ đảng viên phải khắc phục thói quen tự do, tùy tiện, thiếu kế hoạch,
thiếu điều tra nghiên cứu. Đồng thời phải xây dựng tác phong khoa học trong công tác
trong lãnh đạo.
Làm việc phải đi sâu đi sát, điều tra nghiên cứu nắm người nắm việc, nắm tình
hình cụ thể. Làm việc phải có mục đích rõ ràng, có chương trình kế hoạch. Cán bộ lãnh
đạo phải thường xuyên kiểm tra giám sat việc thực hiện của cấp dưới.
Phải thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm lãnh đạo, tổ chức, kinh
nghiệm cá nhân, từng địa phương, ngành. Kinh nghiệm thành công và thất bại.
Ba là: Rèn luyện phong cách diễn đạt
Diễn đạt phải xác định rõ chủ đề đối tượng, mục đích của việc nói và viết, từ đó
tìm ra cách nói cách viết phù hợp với đối tượng, rõ chủ đề và mục đích đề ra.
Viết nói phải chân thực, không nên nói ẩu, nói bịa.
Viết ngắn gọn, phải có đầu có đuôi, thiết thực thấm thía chắc chắn. Phải cô đọng,
hàm súc, mỗi câu, mỗi chữ có mục đích ý nghĩa. Không nên máy móc, Chống nói rỗng
tuếch. Điều quan trọng là phải làm rõ được vấn đề, những điều mà quần chúng quan tâm.
21
Diễn đạt phải trong sáng, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm. Tuyên truyền quần
chúng phải dùng cách nói của quần chúng, tránh lạm dụng chữ nước ngoài hay bệnh nói
chữ, ham dùng chữ.
Bốn là: Rèn luyện phong cách ứng xử.
Rèn luyện phong cách ứng xử của HCM. Mỗi cán bộ đảng viên phải chú ý đối xử

+Cơ quan(địa phương) xã tôi đã thực hiện tác phong làm việc dân chủ,công khai… Mở
rộng dân chủ trong sinh hoạt đảng…….
+ Cơ quan(địa phương) xã tôi đã có biện pháp tiết kiệm thời gian ,tiền của của nhân dân
và nhà nước…
+Cơ quan(địa phương) xã tôi đã lập kế hoạch làm việc khoa học,cụ thể ,rõ ràng.Sắp xếp
thời gian tiến hành mọi việc thật hợp lý và có hiệu quả nhất……
+CBCC trong cơ quan (địa phương) tôi có cách ứng xử rất tự nhiên, bình dị, cởi mở,
chân tình vừa chủ động, linh hoạt vừa ân cần tế nhị đối với nhân dân, bạn bè đồng chí
,đồng nghiệp…
+Cơ quan (địa phương) tôi Đã từng bước coi trọng nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức
làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực của công dân, khắc phục dân chủ
hình thức.
+Cơ quan (địa phương) tôi Đã liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân
lên trên hết… Không dùng sức mạnh của quyền lực trong ứng xử với quần chúng nhân
dân…
22
- Khuyết điểm
+Đôi khi còn có 1 số đc có thói quen làm việc tự do, tùy tiện, thiếu kế hoạch, …
+ Đôi khi còn có hiện tượng không đi sâu đi sát, không điều tra nghiên cứu nắm người
nắm việc, nắm tình hình cụ thể.
+Tinh thần phê và tự phê chưa cao,nể nang trong nhận xét ,đánh giá CBCC…
+ Đôi khi còn lãng phí tài sản công và lãng phí thời gian và tiền của của nhân dân….
+ Đôi khi còn quan liêu,thành tích…….
- Nguyên nhân
-Phương hướng khắc phục
Phải xây dựng tác phong khoa học trong công tác trong lãnh đạo.
Làm việc phải đi sâu đi sát, điều tra nghiên cứu nắm người nắm việc, nắm tình
hình cụ thể. Làm việc phải có mục đích rõ ràng, có chương trình kế hoạch. Cán bộ lãnh
đạo phải thường xuyên kiểm tra giám sat việc thực hiện của cấp dưới.
Phải thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm lãnh đạo, tổ chức, kinh

ham dùng chữ……
- Khuyết điểm:(mỗi người tự rút ra khuyết điểm của bản thân)
+ Đôi khi tinh thần phê và tự phê chưa cao,còn nể nang khi nhận xét ,đánh giá…
+ Đôi khi còn làm việc và sinh hoạt tự do, tùy tiện, thiếu kế hoạch…
+ Đôi khi còn chú ý quá nhiều đến lợi ích cá nhân …
23
+ Đôi khi còn lãng phí thời gian và tiền bạc của bản thân và gia đình….
- Nguyên nhân và phương hướng khắc phục:(mỗi người tự đề ra phương hướng
khắc phục khuyết điểm của bản thân)
+ Phải mạnh bạo, cả gan nói, cả gan đề xuất ý kiến, phê bình và tự phê bình….
+Lập kế hoạch làm việc khoa học,cụ thể ,rõ ràng.Sắp xếp thời gian tiến hành mọi việc
thật hợp lý và có hiệu quả nhất……
+ Phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể,đặt lợi ích tập thể lên
trên lợi ích cá nhân …
+ Chú ý tiết kiệm cả thời gian và tiền bạc của bản thân và gia đình….
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status