ĐỀ CƯƠNG THI TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MÔN NHÀ NƯỚC PHÁP LUẬT - Pdf 44

ĐỀ CƯƠNG THI TỐT NGHIỆP MÔN HTCT-NNPL
Ghi
chú

Nội dung
Câu 1: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Bài làm:
1. Khái niệm”
a. KHÁI NIỆM : Giáo trình trang 8
HTCT là một tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị( các cơ quan quyền lực nhà
nước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội , các tỏ chức chính trị- xã hội…) được
xây dựng theo một kết cấu chức năng nhất định , vận hành trên những nguyên tắc , cơ
chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.
Khái niệm theo Đề cương: HTCT là tổng hợp các lực lượng chính trị bao gồm Đảng cộng
sản, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo một cơ chế nhaats định ,
nhằm mục đích bảo đảm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và thực hiện mục tiêu
dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh
b. Cơ cấu HTCT nước ta hiện nay:
Tổ chức bộ máy ủa HTCT nước ta xét về cơ cấu gồm có:
Đảng CSVN
Nhà nước
Các tổ chức chính trị -xã hội
Hoạt động theo một cơ chế nhất định dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản, quản ý của
nước nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội tham
gia quyền lực chính trị nhằm xây dựng mục tiêu dân giàu nước mạnh dân chủ công
bằng văn minh
2. Vị trí, chứ năng của từng bộ phận cấu thành HTCT”
a. Đảng:
Vị trí : Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, là hạt nhân của HTCT
Chức năng: Đảng đề ra đường lối chủ trương chính sách , định hướng hoạt động của
HTCT

3.
a.
-

Ghi
chú

Nội dung
Câu 2: Nhà nước pháp quyển Việt Nam
Bài làm:
1. Khái niệm: NNPQXHCN là NN XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền
lực NN thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của hiến pháp, quản lý xã hội theo
pháp luật nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, do Đảng tiền phong của giai cấp công
nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân
2. Bản chất của NNPQVN
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền mang
bản chất của giai cấp công nhân. Đó là nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành xã hội
trên cơ sở hiến pháp và pháp luật với mục đích đảm bảo quyền lực cho nhân dân.
Giá trị xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là việc tạo ra một hệ thống
các quan hệ bảo đảm sự thống trị của pháp luật trong tất cả các lĩnh vực xã hội.
-

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân
lao động, điều này được quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ
chính trị của chủ nghĩa xã hội. Khi nhân dân được làm chủ những tư liệu sản xuất
chủ yếu của xã hội thì đương nhiên mọi công dân đều có quyền lực. Toàn bộ hoạt
động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách đến những nguyên tắc tổ chức
đều thể hiện quan điểm của giai cấp công nhân, nhằm từng bước thực hiện ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của toàn dân tộc.

như lập pháp; đối nội và đối ngoại; giám sát.
+Phát huy vai trò, trách nhiệm, năng lực, bản lĩnh và nghiệp vụ h/động đại biểu của
đại bểu QH.
+ Tăng cường mqh giữa QH với nhân dân: QH là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân, có cơ chế phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng và ý chí của nhân dân với QH.
+ Tăng cường các đk về đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc, bảo đảm kinh phí, cơ
sở vật chất, trụ sở làm việc của QH, thong tin hiện đại,
Bốn là, đẩy mạnh cải cách nền hành chính NN. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của
việc XD và hoàn thiện NN trong những năm trước mắt, trong đó có yêu cầu là XD nếp
sống và làm việc theo PL trong XH. Cải cách hành chính phải được tiến hành trên cơ sở
PL và tiến hành đồng bộ nhưng có bước đi thích hợp trên cả ba mặt: cải cách thể chế hành
chính; tổ chức bộ máy và XD, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức hành chính; cải cách tài
chính công.
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp. Các cơ quan tư
pháp là các cơ quan giữ gìn và bảo vệ PL mà trọng tâm là đối với tòa án ND các cấp. Vì
thế toàn bộ hoạt động của nó là biểu hiệnđiển hình của việc tuân thủ và thực hiện PL. Tiếp


tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống PL; đổi mới tổ chức h/động của các cơ quan tư
pháp; Chấn chỉnh các tổ chức và các h/động bổ trợ tư pháp; đẩy mạnh công tác xây dựng
đội ngũ Cb tư pháp đáp ứng về số lượng và chất lượng theo yêu cầu mới…
Sáu là,Xây dựng đội ngũ CB, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu
cầu xây dựng NNPQ XHCN của dân , do dân, vì dân:
+Xây dựng và thực hiện tốt chiến lượt cán bộ
+Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC nhằm nâng cao chất lượng về chuyên
môn, nâng cao nhận thức về trình độ lý luận chính trị Mác- Lê Nin.
+Đổi mới cơ chế đánh giá , tuyển dụng Cb, CC đảm bảo tính công khai, dân chủ
+Dổi mới chế độ chính sách tiền lương cho phù hợp với CB,CC.
+Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra , giám sát CB, CC
Bảy là, Đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chống quan lieu và những biểu hiện tiêu cực



là đòi hỏi khách quan và phù hợp với xu hướng chung của thời đại. Vì vậy, trong đ/lối
l/đạo của mình, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc đề ra đ/lối XD và hoàn thiện BMNN- yếu
tố trung tâm của HTCT. Để thực hiện mục tiêu đó, phải tăng cường hiệu lực của BMNN,
mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của ndân trong XD và quản lý NN,
đồng thời tăng cường sự l/đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực….
4. Liên hệ thực tế (3 ý) (Phần a, b anh chị tự viết)
a. Bộ máy NN có cồng kềnh? Tinh gọn?
b. Cải cách thủ tục hành chính?
• Giảm bớt giấy tờ?
• Giảm bớt thời gian?
• Đội ngũ CBCC?
c. Bộ máy NN ta hiện nay?

Trong những năm đổi mới, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã đạt được những
kết quả chủ yếu sau: (1) Các quy định của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy nhà
nước đã có những điều chỉnh để làm rõ hơn, minh bạch hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của từng cơ quan. Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực
hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát
tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chính phủ không chỉ là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất, cơ quan chấp hành của Quốc hội mà còn là cơ quan thực hiện quyền hành
pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp.
Bên cạnh đó, những hạn chế chủ yếu là: (1) Một số nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa được nhận thức đầy đủ, sâu sắc, chưa làm rõ nội
hàm của nguyên tắc dẫn đến vẫn còn sự lúng túng trong tổ chức và thực hiện. (2) Tổ chức
bộ máy của các cơ quan nhà nước vẫn còn một số điểm bất cập, hạn chế. Ví dụ, số lượng

phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc - tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi của nhân dân, đã
được ban hành và đang triển khai thực hiện. (3) Các hình thức dân chủ trực tiếp, quyền làm
chủ thông qua các cơ quan đại diện cũng được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả hơn.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân thực quyền hơn, ngày càng thể hiện là cơ quan đại diện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước,
địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. (4) Cùng với việc mở rộng
dân chủ, Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh chống lại tình trạng dân chủ cực đoan, vô
chính phủ, lợi dụng dân chủ để kích động, gây rối, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn
xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những
hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh, trật tự, an
toàn xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân
dân cũng còn những hạn chế không nhỏ: (1) Việc thực hiện các hình thức dân chủ còn nhiều
hạn chế, nhất là trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. (2) Trên một số
lĩnh vực của đời sống xã hội, còn có tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ cương. Quyền
làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ; còn hiện tượng mất dân chủ,
dân chủ mang tính hình thức.
Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nội dung cơ bản của xây dựng nhà nước
pháp quyền và trong lĩnh vực này, Việt Nam đã triển khai tích cực, đạt được kết quả khả quan.
Cụ thể: (1) Hệ thống pháp luật được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, cả về số lượng và
chất lượng văn bản quy phạm pháp luật. (2) Việc ban hành và thực hiện các văn bản quy
phạm pháp luật đã góp phần tác động tích cực đến sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội của đất nước, phục vụ kịp thời yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, xây dựng và hoàn thiện


thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi
mới của đất nước.
Tuy vậy, những hạn chế vẫn đang nổi lên là: (1) Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu
đồng bộ, chất lượng chưa cao, chưa ổn định; tính toàn diện, thống nhất, khả thi còn nhiều

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đề ra định hướng chính trị đúng đắn cho hoạt động của Nhà
nước; lãnh đạo hoạt động bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm thật sự phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong việc lựa chọn các đại biểu xứng đáng vào các cơ quan này./.
Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, nhất là sau khi thực hiện Nghị quyết Hội nghị


lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”, công cuộc
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta đã có những tiến bộ to lớn. Nội dung, phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã có bước đổi mới vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan nhà nước. Bản chất giai cấp
công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước được giữ vững và củng cố. Hệ thống quan
điểm, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân từng bước được hoàn chỉnh.
Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cùng nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành, tạo
khuôn khổ pháp lý để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Tổ chức, bộ máy, chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước, trước hết là các cơ quan hành chính nhà nước đã được đổi mới và
hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong
tổ chức và hoạt động của Nhà nước được phân định rõ hơn và trong tổ chức thực hiện đã có những
bước tiến tích cực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy trên nhiều lĩnh vực, tác động
mạnh mẽ đến việc giải phóng sức sản xuất, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân. Dân chủ về chính trị có bước tiến quan trọng, Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Chính phủ và các bộ tập
trung hơn vào quản lý nhà nước, điều hành vĩ mô và giải quyết những vấn đề chiến lược liên quan
đến quốc kế dân sinh. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng, tháo gỡ được nhiều khó khăn,
vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư
pháp được thể chế hóa trong Hiến pháp, pháp luật và được triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt
những kết quả bước đầu quan trọng. Tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,
tổ chức luật sư, các cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, chất lượng hoạt động được
nâng cao, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân là phương hướng cơ bản để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mở
rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, siết chặt kỷ luật; quyền đi đôi với trách nhiệm, nghĩa
vụ; dân chủ được thể chế hóa thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật. Tăng cường tổ
chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu để bảo đảm hiệu lực
quản lý nhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội. Đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nội bộ
các cơ quan, tổ chức nhà nước; đề cao trách nhiệm kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới, của các
cấp chính quyền đối với mọi cơ quan, tổ chức trên địa bàn, lãnh thổ. Huy động sức mạnh của cả hệ
thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự, khắc phục
tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối an ninh, trật tự; làm thất bại mọi
âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”
để chống phá chế độ ta.
Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong bộ máy nhà
nước đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) để các cơ quan này thực
sự là cơ quan đại diện của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước trong việc xem xét và quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương. Hoàn thiện và phân định rõ mô hình tổ
chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính -


kinh tế đặc biệt theo luật định. Tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với kiểm
tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và sự giám sát của
nhân dân. Các cơ quan hành chính nhà nước phải nghiêm túc chấp hành các quyết định của cơ
quan dân cử trong trách nhiệm, quyền hạn được pháp luật quy định và chịu sự kiểm tra, giám sát của
các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của nhân dân. Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính
sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ



tranh chống các biểu hiện coi thường pháp luật, kỷ cương, phép nước.
Cùng với tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”, cần coi
trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, kết hợp sức mạnh của pháp luật với
sức mạnh đạo đức, văn hóa và dư luận xã hội. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các thành viên trong việc xây dựng, bảo vệ chính quyền, bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân, thu hút sự tham gia ngày càng rộng rãi của nhân dân vào công việc quản lý nhà nước, đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy
nhà nước cũng như trong đời sống xã hội.
Chú trọng phân định rành mạch thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền tư pháp trong
tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Cụ thể hóa đầy đủ các nguyên tắc hiến định về chức
năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Tiếp tục kiện toàn tổ chức cơ quan
điều tra, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của các cơ quan điều tra. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp
đối với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; thường xuyên cập nhật thông tin hợp tác quốc tế về tư pháp
và các lĩnh vực liên quan. Tích cực chuẩn bị đội ngũ luật sư, cán bộ các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư
pháp có đủ khả năng tham gia tố tụng trong các vụ, việc có yếu tố nước ngoài và giải quyết các tranh
chấp quốc tế, bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung và hoàn thiện lý luận, rút ra những bài học kinh nghiệm về
cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trên cơ sở đó, cung cấp những luận
cứ khoa học để tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã
hội; Nhà nước hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả; nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào
các công việc của Nhà nước.
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới đất nước, tận dụng mọi thời cơ, vượt lên
mọi khó khăn, thách thức, nhất định công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ giành được những thành tựu to lớn hơn
nữa, đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

biểu quốc hội, thông qua hình thức chất vấn của đại biểu quốc hội với những đối tượng
xác định trong bộ máy nhà nước.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm:
Ủy ban thường vụ quốc hội: cơ quan thường trực của quốc hội, gồm có Chủ tịch quốc hội,
các phó chủ tịch quốc hội, các ủy viên thường vụ quốc hội được bầu tại kì họp thứ nhất
mỗi khóa quốc hội. Ủy ban thường vụ quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản như sau:
Ban hành pháp lệnh về các vấn đề được quốc hội trao trong chương trình làm luật của
Quốc hội, giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh; thực hiện giám sát thi hành hiến pháp, luật,
nghị quyết, hoạt động của chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, việt kiểm sát nhân dân tối
cao, đình chỉ thi hành các văn bản của Chính phủ, thủ tướng chính phủ, tòa án nhân dân và
viện kiểm sát nhân dân trái với hiến pháp. luật, nghị quyết của quốc hội và trình quốc hội
quyết định việc hủy bỏ; giám sát, hướng dẫn hoạt động của hội đồng nhân dân, bãi bỏ các
nghị quyết sai trái của hội đồng nhân dân cấp tỉnh, giải tán hội đồng nhân dân cấp tỉnh
trong trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân; quyết định tổng
động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp trong phạm vi cả nước hoặc
từng địa phương; thực hiện quan hệ đối ngoại của quốc hội; tổ chức trưng cầu ý kiến nhân
dân theo quyết định của quốc hội; ngoài ra còn một số quyền hạn khác như quyết định vấn
đề nhân sự của chính phủ theo đề nghị của thủ tướng chính phủ, tuyên bố tình trạng chiến
tranh khi đất nước bị xâm lược…
Hội đồng dân tộc: được lập ra để đảm bảo sự phát triển bình đẳng, đồng đều của các dân
tộc Việt Nam, để giải quyết có hiệu quả các vấn đề dân tộc. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, kiến
nghị với quốc hội các vấn đề dân tộc; giám sát thi hành các chính sách dân tộc, các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc
thiểu số; thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác liên quan đến vấn đề dân
tộc; kiến nghị về luật, pháp lệnh, chương trình làm luật của quốc hội…
Ủy ban của quốc hội: được lập ra để theo dõi các lĩnh vực hoạt động của quốc hội nhằm
giúp quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Các ủy ban của quốc hội là hình thức thu hút các đại biểu vào việc thực hiện công tác
chung của quốc hội. Các ủy ban của quốc hội có nhiệm vụ nghiên cứu thẩm định các dự
án luật, kiến nghị về luật, pháp lệnh và các dự án khác, các báo cáo được quốc hội hoặc ủy

nhân dân tối cao, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức phó chánh án, thảm phán tòa nhân dân tối cao, phó viện trưởng, kiểm sát viên viện
kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của quốc hội để bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức các phó thủ tướng và các thành viên khác của chính phủ.
+ Trong lĩnh vực an ninh quốc gia: thống lĩnh các lực lượng vũ trang và giữ chức chủ


tịch hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao và các
hàm, cấp khác trong lĩnh vực khác…
+ Các lĩnh vực khác: ngoại giao, thôi, nhập quốc tịch, đặc xá…
– Cơ quan thực hiện quyền hành pháp gồm: Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân.
+ Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội, chấp
hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường
vụ quốc hội; lệnh, quyết định của chủ tịch nước. Trong hoạt động, chính phủ phải chịu
trách nhiệm và báo cáo trước quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội và chủ tịch nước. Các
quy định trên là nhằm đảm bảo sự thống nhất của quyền lực nhà nước vào cơ quan quyền
lực cao nhất là quốc hội.
Chính phủ có chức năng thống nhất quản lí mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: lãnh đạo
thống nhất bộ máy hành chính từ trung ương tới cơ sở về tổ chức cán bộ, đảm bảo thi hành
hiến pháp và pháp luật; quản lí xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính
tiền tệ quốc gia, quản lí y tế, giáo dục, quản lí ngân sách nhà nước, thi hành các biện pháp
cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, quản lí công tác đối ngoại, thực
hiện chính sách xã hội… của Nhà nước. Khi thực hiện các chức năng này, Chính phủ chỉ
tuân theo Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước.
Chính phủ có toàn quyền giải quyết công việc với tính sáng tạo, chủ động, linh hoạt trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định… Chính phủ có quyền
tham gia vào hoạt động lập pháp bằng quyền trình dự án luật trước quốc hội, dự án pháp
lệnh trước ủy ban thường vụ quốc hội, trình quốc hội các dự án kế hoạch, ngân sách nhà

thuộc bộ (các cơ quan nghiên cứu tham mưu về những vấn đề cơ bản, chiến lược, chính
sách; các tổ chức sự nghiệp nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, giáo dục, các tổ chức kinh
doanh là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc bộ không nằm trong cơ cấu hành chính của bộ.
+ Ủy ban nhân dân: do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của hội đồng
nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Ủy ban nhân dân chịu trách
nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị
quyết của hội đồng nhân dân. Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ quản lí nhà nước đối với các
lĩnh vực khác nhau của đời sống địa phương, thực hiện tuyên truyền, giáo dục pháp luật,
kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và
nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp tại các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ
chức kinh tế, đơn vị vũ trang, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện
xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng quốc phòng toàn dân, quản lí hộ khẩu, hộ tịch,
quản lí công tác tổ chức biên chế, lao động tiền lương, tổ chức thu chi ngân sách của địa


phương theo quy định của pháp luật.
Thành phần ủy ban nhân dân có Chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên.
Các cơ quan hành chính nhà nước được quản lí theo các nguyên tắc:
+ Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Nguyên tắc kết hợp quản lí theo ngành với quản lí theo lãnh thổ
+ Nguyên tắc phân định và kết hợp tốt chức năng quản lí nhà nước về kinh tế với chức
năng quản lí kinh doanh của các tổ chức kinh tế
+ Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
+ Nguyên tắc công khai
– Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là những khâu trọng yếu, cơ bản thuộc hệ
thống các cơ quan tư pháp, thực hiện quyền tư pháp. Trong phạm vi chức năng của mình,
các cơ quan này có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính
mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Tòa án nhân dân và Viện kiểm

– Công dân thuộc các dân tộc ít người được quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc
mình trước phiên tòa.
– Các bản án, quyết định của tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng
và chấp hành nghiêm chỉnh.
+ Viện kiểm sát nhân dân: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
theo quy định của hiến pháp và pháp luật, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các công tác của Viện kiểm sát nhân dân gồm:
– Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ
án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt


động điều tra.
– Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc
các cơ quan tư pháp
– Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ
án hình sự
– Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia
đình, hành chính, kinh tế. lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
– Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành bản án, quyết định của tòa án nhân dân.
– Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, quản lí, giáo dục người chấp
hành án phạt tù.
Các Viện kiểm sát được phân thành Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân
dân tỉnh, thành trực thuộc trung ương, viện kiểm sát nhân dân thuộc huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, các viện kiểm sát quân sự. Các viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh
đạo.
Tóm lại, các cơ quan nhà nước hoạt động trong một thể thống nhất, đồng bộ, có liên kết
hữu cơ với nhau và có các đặc điểm:
– Các cơ quan nhà nước được thành lập theo trình tự nhất định được quy định trong pháp
luật

+ Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, quản lí xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội
chủ nghĩa.
+ Tăng cường vai trò lãnh đạo của đảng đối với nhà nước.
– Phương hướng thực hiện cải cách bộ máy nhà nước:
+ Tiếp tục đổi mới và tổ chức hoạt động của Quốc hội nhằm đẩy mạnh hoạt động lập
pháp, tăng cường công tác giám sát của quốc hội tại kì họp quốc hội và hoạt động giám sát
của các cơ quan thuộc quốc hội, đại biểu quốc hội, tăng tỉ lệ đại biểu quốc hội chuyên
trách, sắp xếp bộ máy giúp việc của quốc hội theo hướng tinh giản về đầu mối, tăng cường


cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ có trình độ cao.
+ Cải cách nền hành chính nhà nước: thể chế hành chính, thủ tục hành chính, tổ chức bộ
máy, quy chế và hoạt động của hệ thống hành chính, hoàn thiện chế độ công vụ, công
chức, thực hiện cải cách hành chính công.
+ Đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp: xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
làm cơ sở cho hoạt động, tổ chức của hệ thống các cơ quan tư pháp, xác định thẩm quyền
của các tòa án, thành lập các tòa án chuyên trách khác, hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của các viện kiểm sát, các cơ quan hỗ trợ tư pháp.

Ghi
chú

+ Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lí nhà nước và thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở, cơ quan, tổ chức nhà nước.
Nội dung
Câu 4: Pháp luật và pháp chế
Gợi ý của cô:
- Ý 1Khái niệm pháp luật
-Ý 2 Vị trí của pháp luật đối với kinh tế đặc biệt là vai trò của pháp luật nước ta đối với

thống trị. Với ý nghĩa này, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị của giai
cấp
Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội. Trong 1 đất nước, không chỉ có
giai cấp thống trị mà còn nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau, vì vậy NN không chỉ ban
hành PL để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, mà còn phải đảm bảo điều hòa được
lợi ích của các giai cấp tầng lớp trong xã hội, nhằm đảm bảo cho xã hội có sự phát triển
hài hòa, thống nhất và ổn định. Vì vậy, ở 1 chừng mực nào đó, pháp luật còn thể hiện ý
chí của các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội
Như vậy bản chất của pháp luật vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội. Hai thuộc
tính này có mối quan hệ gắn bó và mật thiết với nhau trong một thể thống nhất. Nói cách
khác, không có kiểu pháp luật chỉ thể hiện duy nhât tính giai cấp và ngược lại cũng không
có kiểu pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội.
Bản chất pháp luật XHCN Việt Nam
Bản chất pháp luật XHCN nước ta cũng được thể hiện ở tính giai cấp và tính xã hội như
các kiểu pháp luật tồn tại trong lịch sử, nhưng sự biểu hiện bản chất đó có những điểm
khác với bản chất pháp luật nói chung, đó là
- Dưới XHCN, pháp luật là sản phẩm của hoạt động Nhà Nước XHCN - NN kiểu mớiNN của dân, do dân,vì dân, mang bản chất của giai cấp công nhân. Vì vậy, pháp luật
XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân
-Cũng như Nhà nước XHCN, pháp luật XHCN không chỉ có tính giai cấp công nhân mà
còn có tính nhân dân, tính dân tộc. Ở VN, bản chất này của pháp luật do bản chất củaNN
và mục tiêu xây dựng một nước VN “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh” quy đinh. Mục tiêu đó không chỉ là nguyện vọng riêng của giai cấp công nhân mà
còn là nguyện vọng của toàn thể nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đó là hiện thực, bởi
vì hơn ở đâu hết, trong giai đoạn quá độ lên CNXH hiện nay ở nước ta, lợi ích dân tộc cơ
bản là thống nhất. Vì vậy việc lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta không chỉ là sự
lựa chọn của giai cấp công nhân mà còn là sự lựa chọn của toàn thể nhân dân lao động
VN. Cũng chính bởi thế pháp luật XNCN là sự thể chế hóa đường lối của ĐCSVN thành
pháp luật NN
PL XHCN mang tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Bất kì pháp luật nào cũng có tính
cưỡng chế, tức là tính bắt buộc đối với người thực hiện. Tuy nhiên pháp luật XHCN có

được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm
phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa
đói giảm nghèo, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Đây là bản chất của nền KTTT định hướng XHCN ở VN, vừa có những đặc trưng
của nền KTTT hỗn hợp vừa có đặc thù của tính định hướng XHCN.
Do là nền KTTT, nền KT VN cũng có những ưu thế và khuyết tật thể hiện ở sự vận
hành của cơ chế thị trường. Mặt ưu điểm của cơ chế thị trường là làm cho con người
năng động, sáng tạo vì động cơ lợi nhuận thúc đẩy. Thông qua mục tiêu lợi nhuận, các
nhà sản xuất phải năng động, sáng tạo để ko ngừng cải tiến công nghệ, phương thức sản
xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng. Ưu
điểm thứ 2 là trong nền KTTT, nhà sản xuất được tự do huy động vốn, lựa chọn ngành
nghề, phương thức sản xuất kinh doanh, quy mô kinh doanh... trong phạm vi mà pháp luật
không cấm như vậy tạo nên sự chủ động của các chủ thể trong nền kinh tế.Ưu điểm thứ 3
là nhờ cơ chế thị trường đã tạo ra sự sàng lọc tự nhiên đối với doanh nghiệp, sản phẩm và
người lao động. Doanh nghiệp nào chậm cải tiến, chậm đổi mới, ko đáp ứng được nhu
cầu của người tiêu dùng thì không có lợi nhuận cao sẽ bị đào thải, dẫn đến phá sản.
Doanh nghiệp nào có đủ năng lực cạnh tranh thì tồn tại và lớn mạnh Tóm lại, ưu điểm
của KTTT là thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ.
KTTT cũng có những mặt khuyết tật và hạn chế của nó. Một là, trong nền KTTT,


dưới tác động của quy luật cung cầu, người sản xuất và người tiêu dùng đều bị tác động
và ảnh hưởng lớn. Khi nhu cầu trên thị trường về 1 mặt hàng cao, thì nhà sản xuất sẽ đầu
tư vào ngành, lĩnh vực đó nhiều để thu lợi nhuận. Nhưng khi có nhiều hàng hóa được
cung cấp vượt quá nhu cầu của người mua, thì quan hệ cung cầu bị phá vỡ, làm cho giá
cả giảm xuống. Vì vậy, các vụ giải cứu chuối cho nông dân Đồng Nai, giải cứu thịt heo...
là minh chứng rõ rệt cho khuyết tật này của KTTT Hai là vì mục tiêu lợi nhuận, các nhà
sản xuất thường chỉ chăm lo đến hiệu quả kinh tế, không quan tâm đên hiệu quả xã hội
nên họ có thế gây ra các thiệt hại cho môi trường, cho cộng đồng như sử dụng công nghệ
sản xuất lạc hậu, gây ô nhiễm moi trường, ví dụ các công ty như formosa,,, sản xuất hàng

nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề xã hội, ở


việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn có giá trị cao
về văn hóa, xã hội.
Về mục tiêu chính trị: Làm cho xã hội dân chủ, biểu hiện ở chỗ dân chủ hóa nền kinh tế,
mọi người, mọi thành phần kinh tế có quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, vào sản xuất
kinh doanh, có quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của mình; quyền của người sản xuất và
người tiêu dùng được bảo vệ trên cơ sở pháp luật của nhà nước.
- Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế: Nền kinh tế có nhiều thành phần, với nhiều
hình thức sở hữu. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh với nhau trên cơ sở pháp luật của nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo và kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân; chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, từng
bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội về cơ bản được xây
dựng xong.
- Về chế độ phân phối: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời có
các hình thức phân phối khác nữa (phân phối theo vốn, theo tài năng cùng các nguồn lực
khác đóng góp vào sản xuất kinh doanh), vừa khuyến khích lao động, vừa bảo đảm phúc
lợi xã hội cơ bản, bảo đảm sự phân phối công bằng, hợp lý và hạn chế sự bất bình đẳng
trong xã hội.
Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nền KTTT định hướng XHCN đã đề cập ở trên đòi
hỏi NN phải ban hành và xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ đồng bộ và phù hợp. Nếu
việc ban hành pháp luật ko đầy đủ thì sẽ tạo kẽ hở để các doanh nghiệp, cá nhân vi phạm
pháp luật trục lợi cá nhân. (liên hệ các vụ án của tập đoàn NN Vinashin...) Nếu luật không
đồng bộ thì gây khó khăn phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân.( ví dụ về Luật DN,
Luật Đầu tư nên tự tìm trên báo chí) Nếu luật không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển
của một ngành một lĩnh vực sản xuất nào đó ( liên hệ ví dụ về ngân hàng, giải cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status