HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHI MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
Đề án:
TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ
CHĂM SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN Ở TỈNH TÂY NINH
GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
2
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHI MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
Đề án:
TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ
CHĂM SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN Ở TỈNH TÂY NINH
GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
Y học cổ truyền
BHYT:
Bảo hiểm y tê
BHXH:
Bảo hiểm xã hội
SYTĐN:
Sở Y tế Tây Ninh
KCB:
Khám chữa bệnh
XHH:
Xã hội hóa
HSCC:
Hồi sức cấp cứu
TTBYT:
Trang thiết bị y tế
Cơ sở lý luận
Cơ sở thực tiễn
Cơ sở pháp lý
MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN
6
8
8
12
17
21
21
22
23
30
31
32
Mục tiêu
Nhiệm vụ
GIẢI PHÁP
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
DỰ ĐOÁN KẾT QUẢ
KẾT LUẬN
6
MỞ ĐẦU
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân luôn là một trong
Xã hội hóa y tế là chủ trương của Đảng và Nhà nước về vận động và tổ
chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển của
nghành y tế; xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với
việc nâng cao chất lượng, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị để mang tới nhiều dịch
vụ y tế chất lượng cao hơn phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân.
Xã hội hoá công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân là phát triển
rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành trong
khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mở rộng các cơ hội
cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động trên;
mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực
trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều
kiện cho sự nghiệp y tế phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn.
Trong thời gian qua, hoạt động xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc sức
khỏe nhân dân ở nước ta đã có nhiều thành công, chuyển biến rõ nét trên các
lĩnh vực hoạt động y tế. Các cấp chính quyền, các đoàn thể và người dân đã có
những chuyển biến tích cực trong việc nhận thức tầm quan trọng của quá trình
xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân. Bên cạnh
sự đầu tư của nhà nước, các tổ chức, đơn vị, cá nhân đã chủ động huy động các
nguồn đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Trong bối cảnh chung của cả nước, thời gian qua, Tây Ninh cũng đã thu
được những chuyển biến đáng kể trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội
hoá công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các cấp ủy đảng, chính
quyền, các ngành, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, huy động sự đóng góp
cộng đồng vào công tác y tế. Người dân tỉnh Đắc Nông đã có ý thức hơn trong
việc tự chăm lo, bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, gia đình và cộng đồng, đồng thời
cũng tham gia các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhất là trong lĩnh vực y tế dự
phòng. Hệ thống y tế ngoài công lập phát triển đa dạng về số lượng và tăng
cường về chất lượng. Y tế công lập đã có nhiều đổi mới phù hợp hơn với cơ chế
khái niệm xã hội hóa đã được mở rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau với nghĩa
thứ hai là xã hội hóa các vấn đề xã hội. Theo nghĩa này, xã hội hóa được hiểu
là quá trình tăng cường sự quan tâm, mở rộng sự tham gia của nhiều lực lượng
xã hội vào giải quyết những vấn đề nào đó mà vốn trước đây chỉ thuộc trách
nhiệm của một ngành hay một tổ chức xã hội cụ thể.
Khái niệm xã hội hoá mặc dù đã được dùng tương đối phổ biến trong các
văn kiện, trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và trên thế giới
song nội hàm của nó đến nay vẫn chưa được chính xác hoá như một khái niệm
khoa học. Ở góc độ nào đó, khái niệm xã hội hoá và huy động xã hội có nội hàm
tương đối giống nhau. Còn nhiều cách hiểu chưa đầy đủ về hai khái niệm này.
Xã hội hoá và huy động xã hội không chỉ đơn thuần là kêu gọi sự đóng góp của
người dân để tăng thêm nguồn lực mà còn là quá trình thu hút sự quan tâm, sự
tham gia trực tiếp, tự nguyện của các nhóm xã hội, các cá nhân gia đình và cộng
đồng vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể nào đó.
Ngoài ra, xã hội hóa còn có vai trò tạo nên sự giám sát xã hội rộng rãi
đảm bảo hiệu quả cao nhất trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực nhà
nước và xã hội cho việc phát triển các lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể như giáo
dục - đào tạo, y tế, văn hóa, chính sách đối với người có công…
Đối với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, xã
hội hóa sẽ tạo ra sự giám sát xã hội đối với các hoạt động khám chữa bệnh
nhằm góp phần thúc đẩy ngành y tế ngày càng phát triển theo hướng tích cực,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Cơ sở khoa học của quá trình xã hội hoá
y tế bao gồm: cơ sở tâm lý học, xã hội học và tiếp cận về phát triển cộng đồng.
10
Huy động xã hội cho công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân phải được
thực hiện theo đúng cách tiếp cận về phát triển cộng đồng.
Như trên đã đề cập, công tác y tế là bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân
bình đẳng vào các hoạt động trên.
Dĩ nhiên, xã hội hóa không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà
nước, giảm bớt phần ngân sách của Nhà nước, trái lại Nhà nước thường xuyên
tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng
thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó.
Thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế cũng như các hoạt động khác
thuộc các lĩnh vực như giáo dục – đào tạo, thể thao, văn hóa… cũng là giải pháp
quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của Ðảng và Nhà nước. Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện
về mặt hưởng thụ, tức là người dân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn
biểu hiện cả về mặt người dân đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng
thực tế của từng người, từng địa phương.
Thực hiện công bằng trong chính sách xã hội phải vận dụng các nguyên
tắc điều chỉnh và ưu tiên, nhất là phải ưu tiên đối với người có công, phải trợ
giúp người nghèo, vùng nghèo; người có công, có cống hiến nhiều hơn, được xã
hội, Nhà nước chăm lo nhiều hơn.
Công bằng xã hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào
các hoạt động y tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa, xã hội không phải là huy động
theo kiểu bình quân, cào bằng mà là vận dụng cách huy động và mức huy động
tùy theo các lớp người có điều kiện thực tế khác nhau, có mức thu nhập khác
nhau. Những người thuộc diện chính sách xã hội của Ðảng và Nhà nước được
miễn, giảm phần đóng góp.
Công bằng xã hội còn được thực hiện thông qua việc phát huy truyền
thống "lá lành đùm lá rách", người giàu giúp người nghèo, vùng giàu giúp vùng
nghèo, người khỏe mạnh, ít đau ốm, bệnh tật giúp người hay đau bệnh hơn... Đó
là cơ sở về khoa học của chủ trương hình thành và phát triển nhiều loại quỹ do
nhân dân đóng góp tự nguyện làm việc nghĩa như quỹ bảo trợ bệnh nhân nghèo,
quỹ khuyến học, quỹ từ thiện, quỹ đền ơn đáp nghĩa... Nhà nước ban hành quy
người nghèo. Ngoài nguyên nhân về đầu tư kinh phí cho hạ tầng và trang thiết
13
bị, có lúc, có nơi nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ bản chất và nội dung của xã
hội hoá trong công tác chỉ đạo, điều hành chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Vẫn
còn một bộ phận nhân dân và lãnh đạo hiểu xã hội hóa công tác chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe đơn giản chỉ là sự huy động đóng góp của nhân dân thông qua
các chính sách về thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế. Không ít nơi hiểu xã
hội hoá là thu tiền sử dụng máy móc, thiết bị y tế đắt tiền, máy đặc trị (được gọi
là “máy xã hội hoá”), là thu tiền giường bệnh (được gọi “giường bệnh xã hội
hoá”), là tư nhân hoá các dịch vụ y tế...Cần phải nhấn mạnh rằng xã hội hóa y tế
là sự mở rộng trách nhiệm, từ chỗ trước đây coi hoạt động công tác chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ của nhà nước và ngành Y tế thành trách
nhiệm của các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, cộng đồng, gia đình, cá
nhân, của cả hệ thống y tế công lẫn y tế tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ và tài chính y tế.
Việc nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô hình huy động xã hội cho y
tế nhằm đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe là điều cần
thiết. Nhìn chung, nhiều ngành, nhiều đoàn thể, tổ chức xã hội tham gia thực
hiện chủ trương xã hội hoá y tế theo kiểu phong trào, chưa thực sự coi đây là
một nhiệm vụ chính trị của mình, chưa xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Sự
tham gia của cộng đồng thường coi trọng việc quyên góp về vật chất hơn là việc
khuyến khích các cá nhân, các nhóm xã hội cùng tham gia vào hoạt động chăm
sóc sức khoẻ nhân dân.
Tóm lại: Do nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc về sức khoẻ của nhân
dân ngày càng cao. Đó cũng là nhu cầu chính đáng của mỗi con người. Nhưng
với tình trạng xuống cấp và quá tải tại các bệnh viện bây giờ, trong khi ngân
sách giành cho nghành y tế thì eo hẹp, giá dịch vụ y tế hiện tại chưa đúng với
và đại lý thuốc tây, 63 phòng khám bệnh tư nhân và 30 cơ sở dịch vụ y tế tư
nhân khác. Thông qua đội ngũ cán bộ y tế trong hệ thống công lập và ngoài
công lập đã tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức ăn ở hợp vệ
sinh, bảo vệ môi trường, giữ gìn, chăm lo, bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, gia
đình và xã hội. Nhờ đó nhiều dịch bệnh đã được khống chế kịp thời, các chương
trình mục tiêu quốc gia về y tế đều được triển khai thực hiện đạt và vượt mức đề
15
ra; công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được đảm bảo và từng bước
nâng lên. Việc đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa công tác y tế còn giúp nâng tỷ lệ
người tham gia BHYT toàn dân đạt 66% vào năm 2014. Đây là một kết quả
đáng khích lệ, nhờ đó, tỷ lệ người dân được chăm sóc sức khỏe đầy đủ tiếp cận
các dịch vụ y tế chất lượng cao ngày càng nhiều hơn, các bệnh tật nhờ đó được
khống chế, đẩy lùi tương đối hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhờ hệ thống y tế ngoài công lập được hình thành ngày
càng nhiều, đầu tư trang thiết bị khám chữa bệnh ngày càng tốt, chất lượng
khám, chữa bệnh ngày càng được nâng cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người
dân được lựa chọn các dịch vụ khám, chữa bệnh khi đau ốm; đồng thời góp
phần giảm bớt gánh nặng quá tải cho hệ thống y tế công lập.
Tuy nhiên, theo Bác sỹ Ngô Minh Trực, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Tây Ninh
thì bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện xã hội hoá hoạt động y
tế ở Tây Ninh thời gian qua vẫn còn gặp không ít khó khăn, hạn chế. Trong khi
ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương đầu tư cho y tế còn thấp và chưa
được phân bổ hợp lý, từ đó việc mở rộng, nâng cao chất lượng các hoạt động y
tế chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân gặp rất nhiều khó khăn thì
sự tham gia của xã hội lại vẫn rất khiêm tốn.
Điều đó trước hết thể hiện ý thức về xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc
sức khỏe nhân dân còn thấp, tư tưởng ỷ lại vào nhà nước còn lớn, việc tham gia
sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc phục vụ việc khám, chữa bệnh còn thiếu, yếu
và nhiều bất cập nên rất khó thu hút được đội ngũ y bác sĩ, dược sĩ giỏi về hành
nghề ở địa phương. Thậm chí, một số y, bác sỹ giỏi từng công tác nhiều năm
trên địa bàn cũng đã tìm đến các thành phố lớn, hoặc những nơi có điều kiện
hành nghề thuận lợi hơn để làm việc. Trong khi đó, yêu cầu chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân ngày càng cao, nếu chỉ trông chờ vào sự đầu tư, bao cấp của Nhà
nước thì ngành Y tế tỉnh khó đảm bảo hoàn thành công việc được giao là bảo vệ
và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Vì vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa
phương trong tỉnh phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình xã hội hoá hoạt động y tế.
Thực hiện thành công xã hội hoá hoạt động y tế không chỉ đảo bảo sự đầu tư
của Nhà nước về y tế mà còn huy động cao nhất mọi nguồn lực của toàn xã hội
đầu tư vào y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
17
Hệ thống y tế ngoài công lập còn manh mún, quy mô nhỏ, đầu tư cho xây
dựng cơ sở, trang cấp thiết bị còn hạn chế, trình độ tay nghề của độ ngũ thầy
thuốc cũng còn những bất cập nhất định nên chất lượng và kỹ thuật khám chữa
bệnh chưa cao. Hoạt động của một số cơ sở còn vi phạm về quy chế hành nghề.
Số lượng, chất lượng các cơ sở y tế tư nhân còn thấp; chất lượng khám chữa
bệnh tuyến cơ sở còn hạn chế nên trong thời gian tới cần tăng cường hơn nữa công
tác xã hội hoá y tế của tỉnh nhà. Để làm được điều đó ngoài ngành y tế ra thì cần
các cơ quan chức năng, các đoàn thể, nhân dân trên đia bàn cùng chung tay góp
sức để đẩy nhanh xã hội hoá nghành y tế cho tương xứng với thời kỳ mới.
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngành Y tế Tây Ninh cần tăng cường xã hội hoá
hoạt động y tế tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tỉnh Tây Ninh cơ bản hoàn thành
việc xây dựng, nâng cấp các cơ sở y tế, trang thiết bị và năng lực đội ngũ cán
bộ, y, bác sỹ đạt bằng mặt bằng chung trong khu vực Tây Nguyên. Mục tiêu để
phấn đấu thực hiện, đó là trên 75% bệnh viện thực hiện cơ chế cung ứng dịch
hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám chữa bệnh.
- Quyết định 122/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn
2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2015
và năm 2020:
TT
Chỉ tiêu
Năm
Năm
Năm
2015
8,0
2,0
80
>95
2020
9,0
2,2
90
>95
23,0
8 Tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế
9 Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế (%)
10 Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, kết
60
14
60
75
20
80
>80
25
hợp y học cổ truyền với y học hiện đại (%)
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN:
1. Mục tiêu:
* Mục tiêu tổng quát.
Tăng cường đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân tỉnh Tây Ninh, từng bước xây dựng hệ thống y tế tỉnh nhà
ngày càng hiện đại, hoàn chỉnh đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, đồng thời phát triển y
dược học cổ truyền. Tập trung phát triển nhân lực y tế, trong đó xây dựng đội
ngũ cán bộ chuyên khoa sâu. Tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về vệ sinh,
an toàn thực phẩm, dân số - kế hoạch hóa gia đình và các chương trình mục tiêu
quốc gia về y tế. Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ số chỉ tiêu đưa ra của
nghành y tế tỉnh nhà. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân; giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, góp
phần cải thiện chất lượng cuộc sống.
2. Tuyên truyền lợi ích của bảo hiểm y tế, xã hội hoá công tác y tế đến
các cơ quan, đơn vị để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án.
3. Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện xã hội hóa ở cấp tỉnh và cấp huyện để
tập trung chỉ đạo, điều hành và tăng cường sự phối hợp liên ngành trong tổ chức
thực hiện Đề án
4. Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích xã hội hóa công tác y tế,
chăm sóc sức khỏe nhân dân của tỉnh Tây Ninh
5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xem trọng và triển khai tốt
công tác dự phòng, làm tốt công tác phòng bệnh thì sẽ giảm thiểu được các dịch
bệnh xảy ra. Đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thường hay xảy ra dịch bệnh
truyền nhiễm: sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh về đường hô hấp...
6. Khuyến khích phát triển mạng lưới y tế tư nhân để tăng thêm các dịch
vụ y tế phục vụ cho sức khoẻ của nhân dân. Nhưng cũng phải kiểm tra, giám sát
đến quy mô và chất lượng trong dịch vụ y tế ngoài công lập.
22
7. Quan tâm để tạo điều kiện tốt nhất phát triển mạng lưới y tế tuyến cơ
sở. Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng quá tải, đội ngũ bác sỹ tuyến
dưới hiện nay còn thiêú và yếu về công tác chuyên môn nên chưa triển khai
được hết các chương trình.
8. Nâng cao công tác tuyên truyền lập băng rôn, đưa lên truyền hình, phát
thanh của tỉnh, các tổ chức, đoàn thể về ý nghĩa, vai trò của công tác xã hội hóa y tế.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Để tăng cường xã hội hoá về y tế thì qua kinh nghiệm thực tế ở các
nước, điển hình nhất và có lợi ích nhất trong xã hội hóa y tế ở Việt Nam hiện
nay là công tác huy động toàn dân tham gia bảo hiểm y tế. Đây là một hình thức
xã hội hóa tốt nhất mà chúng ta đang tiến tới. Nên để hoàn thành được mục tiêu
đề án đòi hỏi các cơ quan chức năng với cơ quan chủ đạo là bảo hiểm xã hội
5. Thực hiện đề án 1816 là đưa cán bộ tuyến trên về hỗ trợ tuyến dưới
cũng đã làm tăng khả năng về trình độ chuyên môn tuyến dưới giúp phần nâng
cao chất lượng của các bệnh viện tuyến dưới. Để từ đó người bệnh yên tâm ở lại
điều trị nhằm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên.
6. Năm qua Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định 320/QD-UBND để thu
hút đội ngũ các bác sỹ chuyên khoa sâu về phục vụ cho tỉnh nhà. Tỉnh có chế độ
ưu tiên đặc biệt cho đội ngũ cán bộ này như: nâng cao chế độ tiền lương, xét tuyển
công chức sớm, tạo điều khiện cho mua đất với mức rẻ, hơn nữa số tiền thu hút rất
lớn nhằm mục đích để có nguồn nhân lực cao để về phục vụ nhân dân.
7. Vận động người dân tích cực tham gia vào công tác y tế dự phòng.
Tham gia vào các chiến dịch như phát quang bụi cỏ, tránh để nước lắng đọng
lâu ngày để diệt bọ gậy phòng chống bệnh sốt xuất huyết, sốt rét. Tăng cường
tuyên truyền người dân về vệ sinh an toàn thực phẩm, làm ra các sản phẩm hoa
quả trên địa bàn là thực phẩm sạch.
8. Thường xuyên mở các lớp tập huấn về phòng ngừa các bệnh thông
thường trên địa bàn. Có khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân là có thành
tích trong công tác tham gia trong xã hội hoá về y tế.
9. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp Uỷ đảng, chính quyền trong
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.
24
10. Xây dựng và ban hành các chính sách mới; đồng thời tiếp tục thực
hiện các chính sách về xã hội hoá, hỗ trợ công tác dân số - kế hoạch hóa gia
đình, bổ sung quy định về công tác thi đua - khen thưởng lĩnh vực y tế.
11. Tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính đối với các cơ sở y tế
công lập, đi đôi với tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính
đầu tư cho y tế. Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính và đầu tư, tạo sự chủ động
trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đẩy mạnh thực hiện xã hội
XHH dịch vụ y tế của đơn vị, do Giám đốc bệnh viện làm trưởng bộ phận;
Đồng thời ra Quyết định điều động nhân lực, tài sản tham gia thực hiện hoạt
động XHH dịch vụ y tế, có quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi được hưởng.
Nguồn nhân lực thực hiện hoạt động XHH dịch vụ y tế theo quy định trong
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Đơn vị có thể sử dụng cán bộ nhân viên trong
biên chế của đơn vị hoặc hợp đồng ngắn hạn, dài hạn, hoặc thuê khoán.
Thứ hai: Huy động, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và lựa chọn đối tác
Các đơn vị có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật có sẵn hoặc đầu tư mới
để thực hiện hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế. Đối với dịch vụ khám bệnh tự
nguyện và dịch vụ điều trị tự nguyện, các đơn vị cần phải có khu vực riêng để
thực hiện dịch vụ. Đối với dịch vụ cận lâm sàng sử dụng các trang thiết bị XHH
từng bước bố trí khu vực riêng hoặc phòng riêng để thực hiện, nhưng phải có
biển thông báo rõ khu vực, hay phòng dịch vụ XHH để người bệnh biết. Việc
mua trang thiết bị tùy theo hình thức huy động kinh phí đầu tư thực hiện theo
quy định của nhà nước hoặc theo hình thức liên doanh liên kết với đối tác lắp
đặt trang thiết bị. Các trang thiết bị đầu tư phải đảm bảo theo quy định trong
Thông tư 15/2007/TT-BYT của Bộ Y tế.
Thứ ba: Huy động và sử dụng nguồn kinh phí
Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của việc huy động vốn, các đơn vị có thể
lựa chọn một hoặc cả hai hình thức huy động kinh phí là: Liên doanh liên kết
với đối tác lắp đặt trang thiết bị và huy động kinh phí của CBNV bệnh viên đầu
tư trang thiết bị cho phù hợp. Mức thu của các dịch vụ do Thủ trưởng đơn vị và
các bên đối tác thống nhất quyết định trên nguyên tắc bảo đảm thu bù đắp đủ
các chi phí và có tích lũy hợp lý để đầu tư phát triển khi trừ đi các chi phí cho
tuyên truyền, hướng dẫn, in pano... Cơ sở để quyết định mức thu của từng dịch