HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN TẠI TỈNH LONG AN
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Tp. HCM, tháng 4 năm 2015
2
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN TẠI TỈNH LONG AN
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
Tp. HCM, tháng 4 năm 2015
MỤC LỤC
1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1. Thực tiễn về hệ thống chính trị nước ta hiện nay
1.3.2. Thực trạng chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của
tỉnh Thừa Thiên Huế
1.3.2.1. Tổng quan về tỉnh Thừa Thiên Huế
1.3.2.2. Tình hình và kết quả thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang
1
1
2
2
2
2
2
2
3
3
3
4
4
4
4
4
5
5
6
6
1. KẾT LUẬN
2. KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
27
29
29
30
30
30
31
32
36
37
37
38
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH TW
:
Ban Chấp hành Trung ương
MTTQVN :
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
TCCSĐ
:
Tổ chức cơ sở đảng
TW
:
Trung ương
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
không kịp thời bàn định các chủ trương, chính sách để củng cố, tăng cường
7
các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở. Vì vậy, việc nghiên cứu đề án “Đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn tại
tỉnh Long An” là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản
lâu dài, vừa cấp bách hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm đề án tốt
nghiệp.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu, hạn chế của hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đề án đưa ra phương
hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị
ở cơ sở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn; đồng thời, làm rõ vai trò hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn trong hệ thống chính trị.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn của Long An;
- Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của Long An.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức cơ sở đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn; Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn và các tổ chức chính trị - xã hội
khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn và các cơ quan liên quan; Cán
Phần thứ nhất: Cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn về đổi
mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay
Phần thứ hai: Một số giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn tại tỉnh Long An trong thời gian
tới
Phần thứ ba: Tổ chức thực hiện.
9
Phần thứ nhất:
CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ
SỞ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ NƯỚC TA
HIỆN NAY
1.1.1. Hệ thống chính trị
1.1.1.1. Khái niệm
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được
thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ
thống chính trị.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao
gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp
được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá
trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời
phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân
chính của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công
cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của
Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ
thống chính trị ở nước ta thực hiện.
Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ
bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành
động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi
tổ chức trong hệ thống chính trị.
Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp
công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi.
Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với
hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế
độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân
lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.1.3. Các nguyên tắc vận hành
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
11
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
và xã hội.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất có phân công, phối hợp và
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp; thực hiện sự phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính
quyền địa phương, cơ sở...
- Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
1.1.1.4. Những yêu cầu, nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị nước ta:
* Yêu cầu đặt ra cho việc đổi mới hệ thống chính trị:
quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của cả
hệ thống.
- Các tổ chức cấu thành hệ thống chính trị có cùng chung mục tiêu cao
nhất là bảo đảm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.
- Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất thực hiện chức năng lãnh đạo đối
với toàn bộ hệ thống.
Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hệ thống chính trị cơ sở còn có
những đặc điểm riêng xét trên hai khía cạnh: khía cạnh địa vị pháp lý và thực
tế. Đó là những đặc điểm sau:
- Là cấp gần với cộng đồng dân cư - là nơi tuyệt bộ phận nhân dân cư trú,
sinh sống - do vậy tổ chức và hoạt động mang tính tự quản cao.
- Thẩm quyền pháp lý xét trong toàn bộ hệ thống là cấp tổ chức thực hiện
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với dân: Có vai
trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết
toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển
kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của công đồng dân cư.
- Cấp có bộ máy đơn giản nhất, có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít tính
chuyên nghiệp, trực tiếp chịu sự chi phối của nhân dân.
- Là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã có thể tác động mạnh
nhất.
- Là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng,
những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống.
1.1.2.3. Vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị cơ sở với các thành tố tạo nên chính mình là tổ chức
cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là nền tảng chính trị
vững chắc ở cơ sở. Điều này được lý giải bởi chính tác dụng và chức năng
13
Qua phân tích cho thấy lúc nào và chừng nào hệ thống chính trị cơ sở
vững mạnh thì không những nó là nền tảng chính trị vững chắc ở cơ sở mà
còn là nền móng căn bản của cả hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ
14
1.2.1. Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng liên quan
đến hệ thống chính trị cơ sở
- Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18 tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị về
xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;
- Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18 tháng 3 năm 2002, của BCHTW
(khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn;
- Nghị quyết số 15-NQ/TW (khóa X) ngày 30 tháng 7 năm 2007 của
BCHTW (khóa X) tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của hệ thống chính trị;
- Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28 tháng 05 năm 2013, của Ban Chấp
hành Trung ương Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống
chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
1.2.2. Các nghị quyết, luật, pháp lệnh của Quốc hội và nghị định, chỉ
thị, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Luật số 11/2003/QH11, ngày 26 tháng 11 năm 2003, của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Quốc hội) về tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân;
- Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20 tháng 04 năm 2007 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội (khóa XI) về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị
trấn
- Nghị quyết số 26/2008/NQ-QH12, ngày 15 tháng 11 tháng 2008 của
(khoá IX) về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn".
1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1. Thực tiễn hệ thống chính trị nước ta hiện nay
Trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở phần lớn cơ sở đã tích cực thực
hiện nhiệm vụ, thực hiện quy chế dân chủ, cùng với nhân dân tạo nên những
thành tựu đổi mới và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộ
mặt nông thôn và thành thị [2]. Tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được sắp xếp, kiện toàn; chức
năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị
được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn; góp phần bảo đảm vai trò lãnh đạo
của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất
nước [3].
16
Tuy nhiên, hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém,
bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần
chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm
quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở
nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ;
nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ
chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi
dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá.
Những yếu kém đó có phần trách nhiệm của bản thân hệ thống chính trị
ở cơ sở, có phần thuộc trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Một
thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở" cũng đã chỉ rõ: “Sớm hoàn
thành quy hoạch để bảo đảm cơ bản giữ ổn định số lượng đơn vị hành chính
cấp tỉnh, huyện, xã. Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấp
huyện theo hướng quy định khung các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy
định khung của Chính phủ, địa phương có thể lập (hoặc không lập) cơ quan,
tổ chức đặc thù sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Rà soát, điều
chỉnh, khắc phục những chồng chéo, không rõ về chức năng, nhiệm vụ giữa
các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, giữa Ủy
ban nhân dân cấp huyện với các sở, ngành cấp tỉnh. Nghiên cứu về tổ chức
chínhquyền địa phương (có phân biệt tổ chức chính quyền đô thị và chính
quyền nông thôn), giao Bộ Chính trị chỉ đạo thực hiện thí điểm mô hình chính
quyền đô thị. Hướng dẫn tổ chức đảng và chính quyền phù hợp với các địa
phương có tính đặc thù, như đặc khu kinh tế, hải đảo...Sớm tổng kết việc thực
hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường để có
chủ trương thực hiện trong thời gian tới. Thực hiện mô hình bí thư cấp ủy
đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp; bí thư cấp ủy đồng thời
là Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở cấp xã, cấp huyện đối với những nơi có đủ
điều kiện. Thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt
không phải là người địa phương. Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phù hợp với tình hình thực
tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ mới. Quy định dưới xã, phường, thị trấn là thôn, tổ
dân phố và tương đương (có quy mô phù hợp với địa bàn đô thị, nông thôn,
miền núi), chủ yếu hoạt động theo hình thức tự quản của cộng đồng dân cư,
hạn chế tối đa việc sử dụng kinh phí từ ngân sách. Thực hiện khoán kinh phí
hoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, thôn, tổ dân phố và
tương đương bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương” [3].
1.3.2. Thực trạng chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường,
thị trấn của tỉnh Long An
An sinh xã hội, đời sống của nhân dân ổn định. An ninh, trật tự, an toàn xã hội
được giữ vững.
1.3.2.2. Tình hình và kết quả thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Long An
Thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần
thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về việc đổi mới và nâng
19
cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Tỉnh ủy Long
An đã ban hành chương trình hành động số 18-NQ/TU, ngày 23/5/2003. Các
cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đã xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể
ở cấp mình nhằm triển khai, hướng dẫn cơ sở tổ chức thực hiện Chương trình
hành động có hiệu quả. Sau hơn 10 năm thực hiện Chương trình hành động số
18-NQ/TU thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về “Đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, chất
lượng hoạt động hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã có nhiều
chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội,
giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội trên địa bàn.
a. Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở
Các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) xã, phường, thị trấn đã thực hiện đúng
chức năng, nhiệm vụ theo Quy định 94 và 95-QĐ/TW, ngày 03/3/2004 của
Ban Bí thư; giữ vững vai trò hạt nhân chính trị và sự lãnh đạo toàn diện ở cơ
sở; nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then
chốt, chăm lo xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Các
cấp ủy đảng đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu giống
cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn, phát triển nhanh giao thông nông thôn và chương trình kiên cố hoá
và phân công nhiệm vụ và kiểm tra thực hiện nhiệm vụ của người đảng viên
khá chặt chẽ. Đặc biệt, các TCCSĐ đã nghiêm túc tổ chức kiểm điểm tự phê
bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Qua kiểm điểm, đa số các cấp
ủy, cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu đã thực sự thấm nhuần tinh thần
tự phê bình và phê bình, tự giác, chân thành và tự khép mình vào kỷ luật, kỷ
cương của Đảng; không những củng cố, tăng cường nhận thức, mà còn tạo ra
nhận thức mới cho công tác lãnh đạo, quản lý, nâng cao trình độ lãnh đạo
công tác xây dựng Đảng; nâng cao được tinh thần đoàn kết và giúp nhau cùng
tiến bộ; đồng thời, đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những tồn tại, yếu
kém, nhất là xác định rõ những vấn đề bức xúc nổi lên để chỉ đạo giải quyết
trước và có kế hoạch, lộ trình, thời gian khắc phục những vấn đề vướng mắc
còn tồn tại.
Nhìn chung, đa số đảng viên tiên phong gương mẫu, hoàn thành và hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối
sống trong sáng, lành mạnh, phát huy được tinh thần trách nhiệm, hoàn thành
chức trách nhiệm vụ được giao. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của
Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước được củng cố, tạo được sự đoàn kết
thống nhất trong nội bộ Đảng và sự đồng thuận trong toàn xã hội. Qua đánh
giá chất lượng đảng viên năm 2014, số đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ là 5.140, đạt tỷ lệ 12,29% (giảm 0.07% so với năm 2013); số đảng viên
21
hoàn thành tốt nhiệm vụ là 32.103, đạt tỷ lệ 76,75% (giảm 0,21% so với năm
2013); số đảng viên hoàn thành nhiệm vụ là 4.415, đạt tỷ lệ 10,55% (tăng
0,45% so với năm 2013); số đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ là 172,
chiếm tỷ lệ 0,41% (giảm 0,17% so với năm 2013).
Công tác kết nạp đảng viên mới có những chuyển biến tích cực, cùng với
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở được quan tâm, chú ý hơn. Đội
ngũ cấp ủy và cán bộ ở cơ sở được tăng thêm về số lượng và chất lượng; trình
độ kiến thức các mặt được nâng lên. Thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi
dưỡng dài hạn, ngắn hạn về chính trị, quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, công
tác đảng, công tác đoàn thể, ngoại ngữ, tin học cho hàng nghìn lượt cán bộ cơ
sở xã phường, thị trấn tham gia. Từ năm 2003 đến cuối năm 2014, tỉnh Long
An đã mở các lớp để đào tạo cán bộ cho cơ sở: trung cấp chính trị - hành
chính: 2.645 đ/c; các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Đảng, đoàn thể: 2.938 đ/c; bồi
dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở: 539 đ/c; bồi dưỡng chức danh bí thư chi,
đảng bộ xã, phường, thị trấn: 301 và bồi dưỡng khác: 957 đ/c; phối hợp với
Học viện Chính trị, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã mở các lớp
Đại học chính trị với hơn 312 người để tạo nguồn cán bộ cho xã, phường, thị
trấn; phối hợp các trường thành viên thuộc Đại học Huế đào tạo cử nhân Kinh
tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, cử nhân Luật tại 6 huyện và 2 thị xã
của tỉnh cho hơn 1.135 cán bộ cơ sở tham gia...
Công tác quy hoạch cán bộ ở cơ sở đã đi vào ổn định, đảm đúng quy
trình và chất lượng theo hướng “vừa động, vừa mở”. Cấp ủy các cấp đã rà
soát, điều chỉnh bổ sung, quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý trong hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ.
Đã luân chuyển hơn 50 đồng chí cán bộ, quản lý cấp phòng, ban của thành
phố, thị xã và huyện được cử về giữ các chức vụ chủ chốt của các xã, phường,
thị trấn, được rèn luyện và có bước trưởng thành vượt bậc; làm tăng thêm
năng lực lãnh đạo quản lý của cấp ủy và chính quyền cơ sở. Nhờ làm tốt công
tác quy hoạch cán bộ cho nên đã tạo được sự chủ động trong công tác chuẩn
bị nhân sự phục vụ đại hội đảng, nhất là nhiệm kỳ 2010 - 2015. Cấp ủy cấp xã
có 2.110 đ/c, trong đó: cán bộ nữ 368 đ/c (17,44%), cán bộ dân tộc thiểu số
408 đ/c (19,34%); trình độ học vấn THCS: 257 đ/c (12,18%); THPT: 1.841
đ/c (87,25%); trình độ chuyên môn trung cấp 637 đ/c (30,19%); trình độ cao
đẳng, đại học, thạc sỹ 763 đ/c (34,52%); trình độ lý luận chính trị sơ cấp 645
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Tại các kỳ họp, nội dung, phương
thức được đổi mới, phát huy dân chủ, thẳng thắn thảo luận, thực hiện chất vấn
và trả lời chất vấn, trở thành hình thức giám sát quan trọng, có hiệu quả của
HĐND ở cơ sở. Do đó, các nghị quyết được ban hành có tính khả thi, định
hướng đúng xu thế phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh cũng như
nhu cầu phúc lợi xã hội của nhân dân địa phương. Chức năng giám sát theo
luật của từng đại biểu và thường trực HĐND xã, phường, thị trấn được chú
trọng; qua giám sát, đã kịp thời nhắc nhở các ngành chức năng giải quyết kịp
thời các vấn đề nảy sinh, được cử tri và đông đảo nhân dân quan tâm.
24
Ủy ban nhân dân cấp xã đã xác định được vai trò, vị trí trong hệ thống
quản lý nhà nước. Cơ cấu tổ chức của UBND xã, thị trấn đã có những chuyển
biến theo hướng thu gọn, nhiệm vụ của các thành viên trong bộ máy chính
quyền được phân công rõ ràng, quy chế làm việc chặt chẽ, có sự kết hợp, phối
hợp giữa các tổ chức trong toàn hệ thống chính trị. Việc thực hiện trách nhiệm
và thẩm quyền của cơ quan hành chính ở cơ sở đã có nhiều chuyển biến tiến
bộ trong việc thực hiện chức năng quản lý hành chính trên địa bàn, tổ chức
triển khai, thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, nghị quyết của HĐND cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh. Nhiều xã, phường, thị trấn đã xây dựng được kế hoạch, giải
pháp cụ thể để phát huy mọi tiềm năng của địa phương, huy động mọi nguồn
lực nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo, nâng cao
đời sống nhân dân, tăng thu ngân sách, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, xây
dựng nông thôn mới.
Hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở có nhiều tiến bộ, phát huy tác
dụng thực sự. Việc xây dựng các thiết chế văn hoá ở địa bàn dân cư đạt được
kết quả khá tốt. Cuộc vận động xây dựng làng, thôn, bản, tổ dân phố, khu vực
sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn, thực hiện tốt nghị quyết
của Đảng các cấp đề ra.
Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được chú
trọng. Hiện nay, hầu hết các xã, phường, thị trấn đều bố trí địa điểm tiếp dân
tại trụ sở UBND, có nội quy và lịch tiếp dân. Các đơn, thư khiếu nại, tố cáo
của công dân cơ bản được xem xét, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Do
vậy, số lượng công dân đến khiếu kiện tại các cơ quan Nhà nước và đơn, thư,
vụ việc khiếu nại, tố cáo giảm dần qua các năm. Chất lượng tiếp dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo của cấp cơ sở được nâng lên, nên đã hạn chế, góp phần
ổn định an ninh chính trị, đặc biệt là an ninh nông thôn, vùng có đạo, biên
giới.
c. Đổi mới công tác mặt trận và các đoàn thể
Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội đã từng bước đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động hướng mạnh về cơ sở, đóng vai trò nòng cốt
xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở. Tập hợp được đông đảo đoàn viên, hội viên, tổ chức vận
động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tham
gia phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội; thực hiện các phong trào nhân đạo xã hội, các chương
trình, dự án có hiệu quả, đồng thời đã phát huy vai trò đại diện cho quyền và
lợi ích hợp pháp của nhân dân; thực hiện tốt quyền giám sát và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng,
chính quyền và hệ thống chính trị. Kịp thời phát giác các hành vi tiêu cực,