1
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.....................................................................................1
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN..................................................................................2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU...........................................................................2
Phần 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC TIỂN...............3
Phần 2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ ÁN......................19
Phần 3. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN...........................................................31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................36
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương ngày 5/8/2008,
"Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã chỉ rõ: Nông nghiệp, nông dân, nông
thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội
bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Các vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển nông nghiệp,
nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng
vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội,
trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi
trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp,
nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã
hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp,
nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân. Giải quyết vấn đề
địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” đăng ký làm đề án tốt nghiệp lớp
cao cấp lý luận chính trị.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận xây dựng nông thôn mới
- Phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất phương pháp tổ chức thực hiện đề án nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề án là những vấn đề lý
luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
+ Về nội dung: Đề án chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề nhằm xây dựng
nông thôn mới.
+ Về không gian: Nội dung nghiên cứu trên được tiến hành tại thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
+ Về thời gian: Các giải pháp, quá trình tổ chức thực hiện đề xuất trong đề án
có ý nghĩa trong khoảng thời gian 5 - 6 năm đến.
3
Phần 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC TIỂN.
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.1.1. Khái niệm
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);
có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập,
đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân,
nhìn, đánh giá về nông dân ở Hồ Chí Minh không những đồng tình với Lênin mà
còn rất tinh tế Người không dừng lại ở thái độ chính trị mà còn nghiên cứu tâm lý,
bản chất, tập quán người nông dân làm nông nghiệp trong cộng đồng nông thôn.
Để hiểu sâu sắc và làm phong phú, năng động cái bên trong về nông nghiệp, nông
dân và nông thôn Việt Nam Hồ Chí Minh đi nghiên cứu, tìm hiểu cái bên ngoài để
giải phóng nổi khổ cho nông dân, phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn.
Tuy bận trăm công nghìn việc cho kháng chiến kiến quốc Người cũng dành nhiều
thời gian nghiên cứu vấn đề ruộng đất ở Châu Á trong thời gian ở Mácxcơva.
Theo Hồ Chí Minh, mặt chính trị của nông dân là cơ sơ chính của Mặt trận
dân tộc thống nhất trong kháng chiến; sau độc lập liên minh công nông trí thức là
nền tảng của chính quyền, là công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
chế độ mới. Mặt kinh tế-xã hội của nông dân quyện chặt với chính trị, giai cấp
công nhân đồng hành với giai cấp nông dân; do đó, phải coi nông nghiệp và công
nghiệp như hai chân của nền kinh tế, và xác định vai trò của nông nghiệp, Người
nhấn mạnh: “ Nước ta là một nước nông nghiệp. Muốn phát triển công nghiệp,
phát triển kinh tế nói chung, phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm
chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công
nghiệp”, Người chỉ rõ phải có cơ chế quản lý thật tốt để nâng cao năng suất lao
động đảm bảo hàng hóa phục vụ quốc kế dân sinh nhanh, nhiều, rẽ, tốt. Trong giai
đoạn giành chính quyền, khẩu hiệu” Người cày có ruộng” có sức loan tỏa và động
viên toàn dân tham gia kháng chiến. Nhưng giai đoạn này, yêu cầu kinh tế” Người
cày có ruộng” và chính sách cải cách ruộng đất chủ yếu nhằm phục vụ nhiệm vụ
chính trị để giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định chính trị phải thể hiện
được yêu cầu về kinh tế, chỉ vậy chính trị mới thành công.
1.1.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, mục
tiêu về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn giữ vị trí quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước. Việt Nam là nước
đang phát triển, hơn 70% số dân sống ở nông thôn, nông nghiệp là ngành sản xuất
vật chất quan trọng, nông dân là lực lượng nòng cốt trong sản xuất nông nghiệp và
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ
Thủ tướng chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn
mới bao gồm 19 tiêu chí, chia thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch. Nhóm tiêu
chí về hạ tầng kinh tế - xã hội. Nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất. Nhóm
tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường. Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị.
Trên cơ sở Bộ tiêu chí chung, Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí cụ thể theo 7 vùng: Trung du miền núi
phía Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam trung bộ, Tây
Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long.
Công văn số 852/UBND ngày 9/5/2011 của UBND tỉnh Quảng Bình về
6
hướng dẫn lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Uỷ ban nhân dân thành phố Đồng Hới đã ban hành Quyết định số 1159/QĐUBND ngày 13 tháng 5 năm 2011 về việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010-2020 thành phố Đồng Hới; Quyết định số 07/QĐ-UBND
ngày 5/8/2011 về việc ban hành Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố
Đồng Hới giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020. Triển khai thực hiện
Chương trình xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội với mục tiêu
nhằm đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới đảm bảo chất lượng và phát triển bền vững, xây dựng nông thôn mới trù phú xanh sạch đẹp gắn liền với bản sắc truyền thống của nông thôn Thành phố Đồng
Hới nói riêng và tỉnh Quảng Bình nói chung. Phấn đấu giai đoạn 2015-2017 có 5/6
xã, chiếm 83,3% so với tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới ( xã Đức Ninh, Bảo Ninh,
Thuận Đức, Lộc Ninh, Quang Phú); Đến năm 2017-2020 phấn đấu 100% số xã đạt
chuẩn nông thôn mới; Hoàn thành việc lập quy hoạch và phê duyệt quy hoạch cho
6 xã nêu trên.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động toàn diện trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế - chính trị - xã hội, là động lực thúc đấy để đưa thành phố Đồng Hới trở
thành đô thị loại II vào năm 2015. Xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch
phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm của thành phố.
+ Đất ở khu vực nông thôn: 185,42 ha, khu vực thành thị: 295,66 ha.
+ Đất chuyên dùng: 2.517,52 ha.
+ Đất chưa sử dụng: 1.444,32 ha
Sông ngòi: Sông chính là sông Nhật Lệ; các sông khác: Lệ Kỳ, Phú Vinh, cầu
Rào đều đổ vào sông Nhật Lệ. Đặc điểm các sông nhỏ, ngắn và nghiêng dốc từ Tây
sang Đông nên thường xảy ra lũ lụt vào mùa mưa.
Bờ biển dài 19,5 km, từ xã Ọuang Phú đến xã Bảo Ninh, thích hợp cho phát
triển du lịch . Có cửa sông Nhật Lệ thuận tiện cho tàu thuyền vào ra khai thác, chế
biến hải sản.
Thành phố Đồng Hới gồm có 16 xã phường ( trong đó có 10 phường bao
gồm: Phường Hải Đình, phường Đồng Phú, phường Hải Thành, phường Nam Lý,
phường Bắc Lý, phường Bắc Nghĩa, phường Đồng Sơn, phường Đức Ninh Đông,
phường Phú Hải, phường Đồng Mỹ) 6 xã triển khai xây dựng nông thôn mới của
thành phố gồm: Xã Lộc Ninh, xã Quang Phú, xã Thuận Đức, xã Bảo Ninh, xã Đức
Ninh và xã Nghĩa Ninh.
Dân số, lao động: Dân số Đồng Hới năm 2014 có 112.517 người; khu vực
nông thôn có 36.104 người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 11%0. Có 30.417 hộ, trong
đó khu vực nông thôn 8.738 hộ (Niên giám thống kê năm 2014)
Lực lượng lao động trong độ tuổi: 65.755 lao động, trong đó khu vực nông
thôn có 21.099 lao động, chiếm 32% tổng số lao động thành phố.
Đánh giá tiềm năng: Thành phố Đồng Hới là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
8
hoá - xã hội và khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Bình. Nằm trên các tuyến giao
thông chính là quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, có sân bay Đồng Hới, đường sắt
Bắc Nam thuận tiện cho việc giao lưu với các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhất
là các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung ; Đây là điều kiện thuận lợi áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất hàng hoá, các ngành nghề nông, lâm,
ngư nghiệp, công nghiệp, TTCN, dịch vụ, du lịch sinh thái biển, rừng để phát triển
lượng 4,4 tân.
- Cây lâu năm: Tiêu 10 ha, trong đó diện tích kiến thiết cơ bản: 2 ha; Diện tích
kinh doanh: 8 ha; năng suất (hạt khô): 1,6 tấn/ha; sản lượng: 12,8 tấn.
+ Cây cao su: Diện tích 57 ha (đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản)
- Cây rau quả, thực phẩm: 277 ha. Sản lượng 1.915,8 tấn,
- Cây trồng khác: 50 ha. Sản lượng 387,6 tấn
* Chăn nuôi, thú y
- Giá tri sản xuất ngành chăn nuôi 25,43 tỷ đồng. Tỉ trọng chăn nuôi chiếm
52% giá trị sản xuất nông nghiệp.
- Tổng đàn trâu: 513 con; tổng đàn bò: 2.123 con
- Tổng đàn lợn: 21.969 con; Đàn dê: 160 con; Đàn thỏ: 283 con; Gia cầm:
89.074 con
* Thủy sản
Năm 2014 tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản là 8.325,3 tấn.
Trong đó sản lượng khai thác đạt 7.131,3 tấn, sản lượng nuôi trồng đạt 1.194 tấn.
Thành phố có 140 cơ sở thu mua, chế biến và sơ chế nguyên liệu phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, với các nhóm sản phẩm chủ yếu là: mắm
các loại, nước mắm, ruốc, thuỷ sản khô và đông lạnh.
Chế biến thuỷ sản tiêu dùng nội địa đã được chú ý phát triển, toàn thành phố
có 20 cơ sở có công suất chế biến đạt 30 - 40 tấn nguyên liệu/năm. Chế biến mắm
các loại đạt 130 tấn; hải sản khô đạt 360 tấn; nước mắm đạt 590.000 lít.
* Lâm nghiệp
Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 19.200 triệu đổng.
- Bảo vệ rừng: 2.700 ha
- Chăm sóc, trồng rừng: 70 ha
- Khoanh nuôi: 200 ha
- Trồng cây phân tán: 270.000 cây
1.3.2.2.Trình độ văn hoá và kỹ năng sản xuất lao động nông thôn
Lao động làm việc trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp: 8.233 lao động,
chiếm 39,9% lao động khu vực nông thôn.
động có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và của tỉnh.
- Hệ thống điện
Mạng lưới cấp điện: Tất cả 6 xã đều sử dụng nguồn điện lưới quốc gia. Mạng
lưới điện hạ thế đã vươn đến tất cả các thôn xóm. Tỷ lệ hộ sử dụng điện có 8.713
hộ, chiếm 99,96%.
- Hệ thống cấp, thoát nước
Hệ thống cấp nước cho 2 nhà máy của thành phố là từ hồ Bàu Tró và hồ Phú
Vinh. Người dân của 6 xã đã có điều kiện để sử dụng nước máy. Một số xã như
Đức Ninh, Quang Phú có tỷ lệ hộ dùng nước máy khá. Các xã còn lại tỷ lệ hộ dùng
nước máy chưa cao.
11
Hệ thống thoát nước của các xã chưa được quan tâm đầu tư, chủ yếu là thoát
nước tự nhiên.
* Tổ chức kinh tế - xã hội
- Xã Thuận Đức: Đang phát triển sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng, chế
biến gỗ, chăn nuôi bò, lợn, kinh tế trang trại, nông lâm kết hợp, du lịch sinh thái...
Làng nghề TTCN Thuận Đức có 7 cơ sở đang hoạt động.
- Xã Lộc Ninh, Đức Ninh, Nghĩa Ninh: đang có thế mạnh sản xuất cây lúa,
chăn nuôi lợn, gia cầm, nuôi thuỷ sản.
- Xã Quang Phú, Bảo Ninh: có điều kiện thuận lợi để trở thành khu nghỉ mát,
phát triển dịch vụ và du lịch, đánh bắt và chế biến thuỷ sản...
1.3.2.4. Trình độ quản lý, năng lực lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở
Trình độ quản lý, năng lực lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở ở khu vực
nông thôn ngày càng được nâng cao. Các Đảng bộ đã được củng cố cả về chính trị,
tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng; Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể chính trị - xã hội từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động,
đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế,
xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy.
+ Đường trục thôn, xóm: Tổng số 85,36 km, trong đó:
50,23 km (58,8%) đã được cứng hoá và đạt chuẩn;
3 5,13 km (41,2%) chưa được cứng hoá.
+ Đường ngõ xóm: Tổng số 67,9 km, trong đó:
37,7 km (55,5%) đã được bê tông hoá đạt chuẩn.
30,2 km (44,5%) còn là đường đất và cấp phối.
+ Đường trục chính nội đồng: Tổng số 39,5 km, trong đó:
17 km (43%) đã được rải sỏi và cấp phối, xe cơ giới đi lại thuận tiện.
22,5 km (57%) chưa được rải sỏi.
- Thuỷ lợi
Tổng số kênh mương trên địa bàn 6 xã: 70 km, trong đó đã kiên cố hoá 24,2
km, cần kiên cố hoá 45,8 km.
- Hệ thống điện
+ Hệ thống trạm biến áp có 50 trạm biến áp, tất cả các trạm đều hoạt động
tốt. Số trạm cần đầu tư xây dựng mới: 10 trạm.
+ Đường dây hạ thế tổng số có 148,07 km, trong đó đảm bảo yêu cầu 100%.
+ Về quản lý điện: Ngành điện đã trực tiếp quản lý bán điện đến các hộ của 6
xã.
Nhìn chung hệ thống điện đảm bảo ổn định cho sinh hoạt và sản xuất.
- Cơ sở vật chất trường học
Kết quả khảo sát đánh giá toàn bộ cơ sở vật chất hệ thống các trường trên địa
bàn thành phố bao gồm phòng học, phòng Ban giám hiệu, phòng chức năng, khu
vệ sinh, trang thiết bị dạy học.... và quy chuẩn theo tiêu chí quôc gia cho thấy:
+ Nhà trẻ, mầm non có 6 trường, trong đó:
13
3 trường (50%) đạt chuẩn quốc gia (Bảo Ninh, Quang Phú, Thuận Đức)
3 trường (50%) chưa đạt chuẩn quốc gia ( Lộc Ninh, Đức Ninh, Nghĩa
Ninh).
14
(16,07 triệu đồng/người/năm).
- Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn theo chuẩn nghèo của tỉnh là 3,6%.
- Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đang làm việc trong lĩnh vực nông - lâm - ngư
nghiệp hiện nay là 39,9%.
- Hộ gia đình vẫn là đơn vị sản xuất phổ biến, toàn thành phố có 3.523 hộ
nông nghiệp. Có 54 trang trại. Có 12 HTX NN&DVNN hoạt động có lãi (chiếm
100%).
1.3.2.7. Văn hoá - xã hội - môi trường
* Giáo dục
- Phổ cập giáo dục trung học: 99,5%.
- 94% học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học bậc trung học (phổ thông,
bổ túc, dạy nghề).
- Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo: 40%
* Y tế
- Có 6 trạm y tế thuộc 6 xã (100%); 6 trạm (100%) đã được xây dựng kiên cố
đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2008 - 2012. Ngoài ra có 21 cơ sở ý tế tư nhân.
- Đội ngũ cán bộ y tế có 5 bác sỹ. Hệ thống y tế tư nhân có 36 người hành
nghề cả Đông y và Tây y.
- Mạng lưới y tế dự phòng, công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu: Có 5 xã
(83,3%) có bác sỹ. 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh trung học hoặc y sĩ sản nhi.
100% số thôn có nhân viên y tế thôn. 100% số trạm y tế đã tổ chức khám chữa
bệnh bảo hiểm y tế. 100% trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại
văcxin. Tỵ lệ người dân khu vực nông thôn tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
đạt 67%. Đến nay, đã có 6 xã (100%) được công nhận chuẩn Quốc gia về y tế xã
giai đoạn 2010 -2014.
* Văn hoá
- Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng nếp sống văn
minh được phổ biển sâu rộng dưới nhiều hình thức. Các di tích lịch sử, văn hoá
100% số xã có các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
- Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nông thôn: 100% số xã
có lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên hoạt động tốt.
- Tình trạng tội phạm và các tệ nạn xã hội cơ bản được hạn chế, an ninh chính
trị trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực. Tình hình dân tộc, tôn giáo, văn hoá
tư tưởng được giữ vững ổn định. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo được
quan tâm, các vụ việc phức tạp tồn động kéo dài được giải quyết cơ bản.
1.3.2.8. Kết quả đánh giá theo 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại
thành phố Đồng Hới đến từ 2011-2015.
- Số xã đạt 19 tiêu chí đến cuối năm 2014: 4 xã (Quang Phú, Bảo Ninh, Thuận
Đức, Đức Ninh) tăng 3 xã đạt chuẩn năm 2014 so với 01 xã năm 2013.
- Số xã đạt 17 tiêu chí: 1 xã (Lộc Ninh).
- Số xã đạt 16 tiêu chí: 1 xã (Nghĩa Ninh).
16
Kết quả tiêu chí đạt chuẩn đến nay: tổng toàn thành phố đã đạt 109 tiêu chí.
* Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch:
- Quy hoạch chung:
+ Số lượng đề án đã được phê duyệt từ đầu giai đoạn: 6/6 đồ án, đạt 100%.
+ Số lượng xã đã công bố quy hoạch: 6/6 xã, đạt 100%.
Theo yêu cầu của Ban chỉ đạo tỉnh thì quy hoạch chung và cắm mốc quy
hoạch của các xã đúng quy định và hoàn thành tiến độ đề ra.
- Quy hoạch chi tiết:
Kết quả: 6/6 xã đã triển khai quy hoạch chi tiết XDNTM và Quy hoạch Phát
triển sản xuất nông nghiệp, trình UBND thành phố phê duyệt Quy hoạch chi tiết
khu dân cư và Quy hoạch Phát triển sản xuất cho 6/6 xã.
* Tiêu chí Giao thông:
Đây là một trong những tiêu chí quan trọng về kết cấu hạ tầng thiết yếu của
địa phương, khi thực hiện cần có nguồn lực và sự chung tay của người dân. Cụ thể:
thôn..., cơ bản đạt tiêu chí này từ năm 2014.
* Tiêu chí Nhà ở dân cư:
Giai đoạn 2011-2014 có 6/6 xã đạt chuẩn.
* Tiêu chí Thu nhập:
Giai đoạn 2011-2014 có 6/6 xã đạt chuẩn.
* Tiêu chí Hộ nghèo:
Giai đoạn 2011-2014 có 6/6 xã đạt chuẩn.
* Tiêu chí Cơ cấu lao động:
Giai đoạn 2011-2014 có 6/6 xã đạt chuẩn.
* Tiêu chí Hình thức tổ chức sản xuất:
Giai đoạn 2011-2014 có 6/6 xã đạt chuẩn.
* Tiêu chí Giáo dục:
* Tiêu chí Y tế:
Số xã có trạm y tế đạt chuẩn 6/6 xã (giai đoạn 2011-2014); tỷ lệ người dân
tham gia các hình thức bảo hiểm y tế: 68%.
* Tiêu chí Văn hoá:
Số thôn được công nhận làng văn hóa: 54/55 thôn. Giai đoạn 2011-2014 có
5/6 xã đạt chuẩn. Trong năm 2015 phấn đấu 1 xã còn lại đạt chuẩn (xã Nghĩa
Ninh).
* Tiêu chí Môi trường:
Công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải, nước thải ở khu vực nông thôn
đã được quan tâm, chú trọng; đến nay đã có 6/6 xã có đề án và thành lập tổ thu
gom rác thải, chất thải.
18
* Tiêu chí Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh:
Đã có 6/6 xã đạt nội dung này ngày từ đầu giai đoạn triển khai thực hiện Kế
hoạch xây dựng nông thôn mới.
* Tiêu chí An ninh trật tự:
dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại - có sức cạnh tranh
- xây dựng nông thôn xanh. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại - xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông
dân - trí thức vững mạnh.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020:
- Tốc độ tăng tưởng nông, lâm, thủy sản đạt 3,5-4%/năm, sử dụng đất tiết
kiệm và hiệu quả - phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch
vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng thu nhập của dân cư
nông thôn gấp trên 2,5 lần so với năm 2010.
- Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ qua đào tạo
đạt trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.
- Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ
thống thủy lợi, hệ thống giao thông suốt 4 mùa và cơ bản có các đường ôtô đến
thôn, bản, có các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo cơ bản điều
kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn
tiến tới mức các đô thị trung bình.
- Nâng cao năng lực phòng chống, tránh để giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ
thống đê sông, đê biển,… ngăn chặn chống nước biển dâng, chủ động ứng phó với
biến đổi khí hậu. Ngăn chặn xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng
cao chất lượng môi trường nông thôn. Thực tiễn ghi nhận sự đột phá đầu tiên về
chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông
nghiệp, nông dân và nông thôn.
2.2. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN
- Tập trung phát triển các cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn 6 xã.
- Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn nâng cao thu nhập.
- Bảo vệ môi trường.
- Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn.
- Giữ vững an ninh trật tự xã hội.
- Thay thế, sửa chữa các cống tưới tiêu đã xuống cấp (Đức Ninh: 5 cống lớn;
Nghĩa Ninh: 120 cống lớn nhỏ).
* Thứ ba về điện
- Lắp đặt thêm 10 trạm biến áp: Nghĩa Ninh: 2 trạm; Thuận Đức: 4 trạm; Đức
21
Ninh: 2 trạm; Quang Phú: 2 trạm.
- Xây dựng 27,5 km đường dây hạ thế: Nghĩa Ninh: 5km; Đức Ninh: 10 km;
Thuận Đức 10 km; Quang Phú: 2,5 km.
- Xây dựng hệ thống điện chiếu sáng dài 12,9 km ở các trục đường chính của
các xã Thuận Đức (6 km), Đức Ninh (1,9 km), Nghĩa Ninh (7km).
* Thứ tư về trường học
- Xây mới 22 phòng học (Đức Ninh: 12; Thuận Đức: 10).
- Xây mới 85 phòng chức năng, nhà thi đấu đa chức năng cho các trường (Bảo
Ninh: 8; Đức Ninh: 14; Nghĩa Ninh: 13; Lộc Ninh: 12; Thuận Đức: 28; Quang
Phú: 10).
- Đổ sân bê tông, lát gạch sân trường cho 3 trường, diện tích 6.360 m 2 (Nghĩa
Ninh: 3.500m2; Thuận Đức: 860m2; Quang Phú: 2.000m2).
- Nâng cấp trường mầm non Bảo Ninh, xây cổng trường mầm non Quang
Phú.
- Mua sắm, trang cấp thiết bị dạy học và vui chơi cho các trường (Bảo Ninh;
Thuận Đức; Quang Phú).
* Thứ năm về cơ sở vật chất văn hoá và trụ sở làm việc của xã.
- Cải tạo và nâng cấp hệ thống truyền thanh cho 3 xã
- Xây mới 12 phòng làm việc cho UBND xã Nghĩa Ninh và UBND xã Thuận
Đức.
- Xây mới trung tâm văn hoá của 6 xã.
- Cung cấp thiết bị hoạt động cho trung tâm văn hoá xã.
- Cải tạo, nâng cấp 14 nhà văn hoá thôn (8 thôn của xã Nghĩa Ninh và 6 thôn
cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản
xuất, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung chất lượng cao.
- Bố trí lại cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất
lượng vật nuôi, cây trồng; tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, tăng hiệu
quả sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp,
giảm tỷ lệ hộ nghèo.
Thu nhập: Phấn đấu đến năm 2015, thu nhập trung bình hàng năm của người
dân 6 xã của thành phô đạt 25 triệu đồng, bằng 1,6 lần thu nhập bình quân chung
của tỉnh.
Hộ nghèo: Giảm tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn thành phố từ 3,5% năm
2010 xuống còn 2,5% vào năm 2015 xuống 1,8 % vào năm 2020.
Cơ cấu lao động: Đến năm 2015, phấn đấu giảm tỷ lệ lao động trong nônglâm-ngư nghiệp xuống dưới 40%.
* Hình thức tổ chức sản xuất:
- Củng cố và đổi mới các HTX hiện có, phát triển các hình thức kinh tế hợp
tác ở nông thôn với phương châm đa ngành, đa nghề, gắn kết các loại hình kinh tế
23
tập thể, kinh tế hộ, kinh tế trang trại và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn.
- Thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của thành phố, nhất là các dự án
đầu tư công nghệ cao, thu hút được nhiều lao động, tạo việc làm cho lao động nông
nghiệp nông thốn.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ và các kênh phân
phối. Xây dựng mối liên kết bền vững giữa người sản xuất và phân phối để ổn định
lưu thông hàng hóa.
- Đẩy mạnh và phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, có chính sách
hỗ trợ thích đáng để các hộ nghèo có thể vươn lên làm ăn bằng sức lao động của
hộ. Hình thành quỹ “vì người nghèo” hỗ trợ sản xuất.
- Làm tốt công tác tín dụng cho nhân dân vay vốn, đặc biệt là cho vay trực
tiêp đến hộ nghèo, hộ chính sách xã hội. Mở rộng chương trình đào tạo việc làm
phương pháp dạy học hiện đại, tiên tiến, đầu tư trang thiết bị cho việc dạy và học.
- Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong giáo dục
học sinh. Nâng cao phong trào khuyến học, khuyến tài trong từng địa phương, đơn
vị. Xây dựng gia đình, dòng họ hiếu học, phát triển các hội khuyến học làm cơ sở
vững chắc cho xã hội học tập.
* Y tế:
- Đảm bảo thuốc thiết yếu cho công tác phòng và khám chữa bệnh. Phấn đấu
cho mọi người dân đều được tiếp cận và được cung cấp các dịch vụ nhiều hơn,
thuận lợi hơn. Đến năm 2015, 100% ngươi dân tham gia BHYT.
- Huy động mọi nguồn lực để nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở,
đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho các trạm y tế, đạt và phấn đấu
100% trạm y tế xã đạt chuẩn giai đoạn 2015-2020.
- Chú trọng công tác dinh dưỡng, phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy
dinh dưỡng xuống dưới 12% vào năm 2015.
- Đảm bảo 100% bà mẹ mang thai và trẻ em dưới 1 tuổi được khám và tiêm
vacxin. Phòng chống và giảm đến mức tối thiểu tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm;
đại dịch HIV và các bệnh xã hội nguy hiểm khác.
- Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, triển khai công tác phòng chống dịch, không
để dịch lớn xảy ra. Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Nâng cao công tác truyền thông về DS-KHHGĐ, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3
từ 0,3 - 0,5%/năm. Giảm tỷ suất sinh hàng năm là 0,5%o.
- Nâng cao sức khoẻ toàn dân theo quan điểm tăng cường y tế dự phòng, giáo
dục dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể đi đôi với nâng cao hiệu
quả trị bệnh; kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền, kết hợp đồng bộ giữa
phòng bệnh và chữa bệnh, củng cố y tế học đường.
- Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân, tăng
cường nguồn lực cho phát triển y tế.