Tiểu luận môn tài chính công Đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng trong chương trình cho sinh viên nghèo vay vốn - Pdf 28

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2
I. NGUYÊN LÝ “CON NGƯỜI PHẢI ĐỐI MẶT VỚI SỰ ĐÁNH
ĐỔI” 2
II. HÀNG HÓA GIÁO DỤC 2
III.HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG TRONG CHI TIÊU CÔNG CHO
GIÁO DỤC 3
1. Hiệu quả Pareto 3
2. Công bằng 3
3. Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng trong chi tiêu giáo dục 4
IV. CẦN THIẾT PHẢI CHI TIÊU CÔNG CHO GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC 9
V. CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
CHƯƠNG 2: CHƯƠNG TRÌNH CHO SINH NGHÈO VAY VỐN Ở
VIỆT NAM 11
I. KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH 11
1. Quá trình hình thành và phát triển 11
2. Đối tượng được vay vốn 13

3. Phương thức cho vay 14
4. Điều kiện vay vốn 14
5. Mức cho vốn vay 14

6. Thời hạn cho vay 15

7. Lãi suất cho vay 16

8. Thủ tục vay vốn 16
9. Mục tiêu cho sinh viên nghèo vay vốn học đại học 16
II. THỰC TRẠNG 17

vẫn còn rất nhiều hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp bước trên con đường
ấy. Nắm bắt được hiện trạng này, Nhà nước đã có rất nhiều chính sách
khuyến khích học tập và “tín dụng học sinh, sinh viên” là một trong các chính
sách ngày càng có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn
cảnh khó khăn theo đuổi nghiệp tri thức của mình. Điều này làm cho sinh
viên cũng như gia đình đỡ phần nào gánh nặng. Chính sách này ngày một lớn
mạnh, có những thay đổi hợp lý tác động rất lớn tới xã hội và đã gặt hái được
những kết quả đáng ghi nhận, nhưng cũng khó tránh khỏi những hạn chế phát
sinh. Để nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm 2B đã lựa chọn đề tài về “Đánh đổi
giữa hiệu quả và công bằng trong chương trình cho sinh viên nghèo vay
vốn”.
Do thời gian có hạn cùng với những điều kiện khách quan nên không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Mong nhận được sự đánh giá, góp ý
chân thành của Thầy và các nhóm bạn.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

I. NGUYÊN LÝ “CON NGƯỜI PHẢI ĐỐI MẶT VỚI SỰ ĐÁNH ĐỔI”
Để có được một thứ ưa thích, chúng ta thường phải từ bỏ một thứ khác
mà mình thích. Quá trình ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để
đạt được một mục tiêu khác. Nói cách khác “mọi thứ đều có giá của nó”. Một
sự đánh đổi mà xã hội phải đối mặt là sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu
quả. Hiệu quả có nghĩa là xã hội thu nhận kết quả cao nhất từ các nguồn lực
khan hiếm của mình. Công bằng hàm ý ích lợi thu được từ các nguồn lực đó
được phân phối công bằng giữa các thành viên của xã hội. Khái niệm hiệu
quả ám chỉ quy mô của chiếc bánh kinh tế, còn khái niệm công bằng nói lên
phương thức phân chia chiếc bánh đó. Thường thì khi thiết kế các chính sách
của chính phủ, người ta nhận thấy hai mục tiêu này xung đột với nhau.
II. HÀNG HÓA GIÁO DỤC
 Theo P.Samuelson thì hàng hóa công là loại hàng hóa mà chi phí
để nhận dịch vụ từ nó đối với mỗi người sử dụng là bằng 0 và không thể ngăn

quyền của Liên hợp quốc ghi rõ: “Mọi người đều có quyền được học hành.
Phải áp dụng chế độ giáo dục miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và giáo dục
cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc”.
• Công bằng dọc: là đối xử khác nhau với những người có khác biệt
bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục
những khác biệt sẵn có.
Nếu như công bằng ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì cân
bằng dọc cần có sự điều tiết của nhà nước. “Giáo dục kỹ thuật và ngành nghề
phải mang tính phổ thông, và giáo dục cao học phải theo nguyên tắc công
bằng cho bất cứ ai có đủ khả năng. Cha, mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn loại
hình giáo dục cho con cái”. (Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của
Liên hợp quốc).
Trong giáo dục đại học, ngay từ giai đoạn tuyển sinh thì chỉ ai tích lũy
đủ tri thức mới có thể vào được đại học, và tùy vào khả năng tài chính của
mỗi gia đình mà họ có thể học tại những trường đại học khác nhau, nếu có
điều kiện con em họ có thể học tại các trường quốc tế, dân lập, nếu không sẽ
học tại các trường công lập.
3. Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng trong chi tiêu giáo dục:
Mọi hoạt động chi tiêu cho giáo dục của chính phủ đều nhằm giải quyết bài
toán “cân bằng dọc”, cả người giàu người nghèo ai cũng có cơ hội học tập
như nhau. Tuy nhiên trong thực tế có hai trường phái về việc có hay không sự
đánh đổi giữa hiệu quả về công bằng:
• Trường phái 1: Cho rằng hiệu quả và công bằng là có sự đánh đổi.
Theo quan điểm này, nếu ưu tiên hiệu quả thì phải chấp nhận bất công
và ngược lại. Bởi vì: việc đầu tư cho giáo dục chính là vấn đềchi tiêu ngân
sách nhà nước cho giáo dục, hỗ trợcho sinh viên nghèo chính là việc phân
phối lại thu nhập từngười giàu sang người nghèo, theo quan điểm của trường
phái này nếu không làm công việc này thì sẽ không phải mất chi phí để vận
hành một bộ phận nguồn nhân lực thực hiện, khỏi phải tốn ngân sách, thu
thuế sẽ ít đi. Nhưng nếu đầu tư cho giáo dục thì phải tốn chi phí, có khả năng

đình) mà còn phải có khả năng kiểm tra tính chính xác của thông tin do đối
tượng xin vay vốn cung cấp. Trong trường hợp khó xác định tính chính xác
của thông tin này thì chương trình sẽ dễ bị lợi dụng và sinh viên không thuộc
đối tượng nghèo lại được vay vốn có trợ cấp. Như vậy mục tiêu của chương
trình không được thực hiện đúng theo ý muốn. Nó vừa lãng phí và không
công bằng trong việc cung cấp những lợi ích kinh tế không cần thiết cho sinh
viên không thuộc đối tượng nghèo. Và nếu không chọn đối tượng mục tiêu
một cách thận trọng thì rất có thể sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhất lại bị
loại ra.
Vòng tròn ngoài cùng (lớn nhất) là dân số độ tuổi học đại học và bao
gồm học sinh mới tốt nghiệp phổ thông và sinh viên đang học trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học (vòng tròn ở giữa). Trong số
những sinh viên đang học trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và
đại học, có một số được vay vốn (vòng tròn nhỏ nhất). Dựa vào đánh giá mức
độ đói nghèo (đường cong chấm chấm), chỉ có một bộ phận những thanh niên
này được xác định là đối tượng nghèo (nằm ở phía trên của đường cong).
Tổng số đối tượng vay vốn được thấy trong phần A và D của sơ đồ. Những
sinh viên trong phần A là sinh viên nghèo và vì vậy được quyền vay vốn.
Trong khi đó sinh viên trong phần D không phải là đối tượng nghèo nhưng
vẫn được vay vốn. Vấn đề này xảy ra do việc phân bổ vốn vay không tuân
theo những tiêu chí quy định hoặc do chương trình vốn vay đang bị lợi dụng.
Đối tượng mục tiêu bao gồm tất cả sinh viên nghèo theo học ở các
trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học (Phần A và
B); trong số này chỉ sinh viên ở Phần A được vay vốn còn sinh viên ở phần B
không được vay. Tổng số các đối tượng mục tiêu bao gồm phần A và B cộng
với phần C (những thanh niên nghèo đã tốt nghiệp trung học, đủ trình độ vào
đại học (nhưng không có điều kiện) và có thể được đi học trở lại nhờ có các
khoản vốn vay.
Như vậy nếu tất cả các sinh viên đều được vay vốn thì chi phí để xác
định đúng đối tượng của chương trình là những sinh viên nghèo sẽ giảm đi,

tăng cương khả năng độc lập, làm chủ về khoa học công nghệ… phát triển
bền vững với nền kinh tế tri thức. Như vậy chính sách cho sinh viên nghèo
vay vốn là một chính sách cần thiết trong tổng thể các chính sách phát triển
đất nước ta.
IV. CẦN THIẾT PHẢI CHI TIÊU CÔNG CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị
quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi
chính phủ. Ngoài trừ các khoản chi của các quỹ ngoài ngân sách, về cơ bản
chi tiêu công thể hiện các khoản chi của ngân sách nhà nước hàng năm được
Quốc hội thông qua.
Sinh viên là đối tượng cần được quan tâm vì trong tương lai sinh viên
là lực lượng lao động có chất lượng, có khả năng tích lũy được tri thức, có
điều kiện đóng góp tăng năng suất lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, có khả
năng đóng thuế cao hơn, làm tăng ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó doanh
nghiệp có lợi nhuận biên tăng , tăng khả năng cạnh tranh nhờ có một đội ngũ
lao đông có tay nghề cao… Như vậy chi tiêu hỗ trợ cho giáo dục đại học
không chỉ sinh viên là người được thụ hưởng trực tiếp mà toàn xã hội đều
được hưởng những lợi ích tích cực từ nền giáo dục nói chung, giáo dục đại
học nói riêng. Vì vậy cần phải đầu tư cho giáo dục.
Nếu chính phủ để tư nhân đầu tư cho giáo dục thì cũng sẽ không hiệu
quả bằng chính phủ cung cấp: Tư nhân cung cấp hàng hóa giáo dục thì sẽ
phải thu phí sao cho họ có thể thu được lợi nhuận tối đa, như vậy người học
sẽ phải trả tiền học phí cao hơn, người nghèo sẽ không thể đi học đại học.
Khi tư nhân tham gia vào thị trường hì cạnh tranh xảy ra, từ đó mà các trường
học có thể che giấu thông tin về trường hoặc chỉ cung cấp thông tin tốt nhằm
thu hút được nhiều học viên, trong khi đó người học không thể biết được chất
lượng thực sự trừ khi đã vào học tại trường, đồng thời vẫn phải chịu học phí
cao. Như vậy giáo dục đại học trở thành một hoạt động sinh lời, người học
chịu thiệt thòi nhiều nhất, làm giàu trên đôi vai của người nghèo, là hiện
tượng phân phối ngược.

Các chương trình thuộc nhóm thứ hai có đầy đủ các ưu điểm là:
- Không gây áp lực nợ lên sinh viên, họ chỉ phải trả khi họ đã có “khả
năng chi trả”.
- Nhà nước như đã gánh cho sinh viên gần hết những rủi ro.
- Sinh viên được Nhà nước tài trợ trực tiếp qua mức lãi suất thấp,
không chịu chi phí vận hành quỹ cho vay và chi phí bù đắp rủi ro.
Ở các nước đang phát triển việc kiểm soát thu nhập cá nhân còn hạn
chế, nếu áp dụng các chương trình cho vay nhóm thứ hai, thường có tỷ lệ thu
hồi vốn thấp.
Bên cạnh đó có các chương trình trợ cấp cho giáo dục như:
Trợ cấp học phí: nhà nước trợ cấp một phần chi phí cho sinh viên các
trường nhưng lại dẫn đến sự phân phối thu nhập bình quân. Vì thu nhập trung
bình của những người đi học cao hơn người không đi học, vì vậy giúp đỡ họ
là giúp cho những người khá giả hơn. Tác động thuần túy của trợ giúp đối với
phân phối thu nhập không rõ ràng: người giàu có phải đóng nhiều thuế hơn,
phải chịu phần chi phí lớn hơn nhưng lại nhận được phần lợi ích lớn hơn. Mà
đặc biệt là các trường công lập được trợ cấp nhiều hơn trong khi các trường
tư không được trợ cấp nhiều mà trong đó lại có nhiều trường hợp con em
vùng sâu vùng xa không có điều kiện học tập tốt nên chỉ vào được trường tư.
Từ đó dẫn đến mất công bằng trong xã hội. Mất công bằng giữa trường công
và trường tư.
Các quỹ học bổng, quỹ tài trợ của các tổ chức phi chính phủ: Theo
GS Phạm Phụ thì các chương trình cho sinh viên vay vốn, hiện đã phổ biến
trên 50 nước khắp thế giới. Cho sinh viên vay vốn về bản chất là để có thể
tăng thêm mức gánh chịu chi phí của sinh viên, giảm bớt mức gánh chịu của
ngân sách nhà nước theo cách chuyển sự gánh chịu của họ từ hiện tại (trả học
phí trước) sang tương lai, khi mà họ đã “có khả năng chi trả”. Có như vậy,
một mặt sinh viên nghèo mới không phải bỏ học, mặt khác, việc tài trợ của
nhà nước mới có công bằng hơn so với khi thực hiện chính sách học phí thấp.
Chương 2: CHƯƠNG TRÌNH CHO SINH NGHÈO VAY VỐN

- Việc cho vay đối với học sinh, sinh viên được thực hiện theo phương
thức cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp
vay vốn và có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường hợp
học sinh, sinh viên mồ côi cả ca lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng
người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn tại Ngân
hàng Chính sách xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở.
- Giao Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay đối với học
sinh, sinh viên.
4. Điều kiện vay vốn:
- Học sinh, sinh viên đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp
tại địa phương nơi cho vay có đủ các tiêu chuẩn.
- Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển
hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường.
- Đối với học sinh, sinh viên năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của
nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính
trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.
5. Mức vốn cho vay:
- Giai đoạn năm 2002 - 2007: theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày
04 tháng 10 năm 2002 mức vay tối đa là 300.000đ/ sinh viên/ tháng.
- Giai đoạn 2007 – 2009: Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27
tháng 9 năm 2007 mức vay tối đa là 800.000đ/ sinh viên/ tháng.
- Năm 2009: Chính phủ điều chỉnh mức vốn vay tối đa là 860.000đ/
sinh viên/ tháng.
- Năm 2010: Chính phủ điều chỉnh mức vốn vay tối đa là 900.000đ/
sinh viên/ tháng.
- Năm 2011: Chính phủ điều chỉnh mức vốn vay tối đa là 1.000.000đ/
sinh viên/ tháng (Quyết định số 853/QĐ-TTg ngày 03/6/2011).
- Năm 2013: Chính phủ điều chỉnh mức vốn vay tối đa là 1.100.000đ/
sinh viên/ tháng (Quyết định số 1196/QĐ-TTg ngày 19/7/2013).
6. Thời hạn cho vay:

9. Mục tiêu cho sinh viên nghèo vay vốn học đại học
 Mục tiêu ngân sách (tạo thu nhập từ học phí)
- Tạo thu nhập để duy trì số tuyển sinh vào đại học và đầu ra/chất
lượng, tương xứng với mức chi phí đơn vị tăng ở các trường đại học công lập
(không có tài trợ bổ sung của chính phủ).
- Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc cắt giảm chi tiêu chung của
chính phủ, bao gồm chi tiêu cho ngành giáo dục.
- Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc phân bổ lại ngân sách giáo
dục của nhà nước từ trường đại học sang các bậc học khác, đem lại lợi ích xã
hội cao hơn.
 Mở rộng hệ thống giáo dục đại học
- Tạo nguồn thu bổ sung từ học phí để trang trải một phần cho việc mở
rộng khối các trường đại học công lập.
- Mở rộng các trường đại học thông qua phát triển khối các trường đại
học tư thục (để giảm thiểu vai trò của nhà nước trong tài trợ cho sự mở rộng
này).
 Mục tiêu xã hội (bình đẳng/ cơ hội tiếp cận cho người nghèo)
- Các khoản vay nhằm vào đối tượng sinh viên có nhu cầu.
- Trợ cấp chéo: hỗ trợ cho sinh viên có nhu cầu bằng nguồn thu từ mức
học phí cao hơn.
 Nhu cầu về nguồn nhân lực
Đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp cụ thể hoặc nguồn nhân lực khu vực.
 Hỗ trợ sinh viên
- Giảm bớt khó khăn về tài chính cho sinh viên trong quá trình học.
- Tăng cường trách nhiệm của sinh viên.
- Mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên.
II. THỰC TRẠNG:
1. Tích cực:
- Giúp học sinh, sinh viên nghèo trang trải một phần học tập và cuộc
sống, số lượng được vay vốn ngày càng tăng.

phân tích kỹ, có thể hé lộ phần nào hai vấn đề:
Thứ nhất, vẫn tồn tại một nghịch lý là nguyên tắc chia sẻ rủi ro với học
sinh, sinh viên nghèo chỉ được đầu tư cấp tập suốt quãng thời gian đi học,
còn sau đó (khi tốt nghiệp) bị… bỏ rơi!
Thứ hai, hiệu quả sử dụng đồng vốn tín dụng sinh viên về lâu dài sẽ
quá thấp, khi tiền cho vay nhiều bao nhiêu cũng phần lớn nằm ở đối tượng
sinh viên nghèo thiếu việc làm. Nếu vậy, tín dụng đầu tư sẽ không giải quyết
được tính công bằng giáo dục, tạo cơ hội việc làm cho học trò nghèo, nếu
không muốn nói rất lãng phí thời gian và kiến thức họ có được. Vậy làm sao
để hỗ trợ hiệu quả bền vững cho học sinh nghèo, cho họ "cần câu” cách gì
thay vì chỉ cho "cá”?”
 Về quá trình thực hiện:
- Cho vay sai đối tượng: phát hiện 3.639 hộ vay sai chính sách, chiếm
tỷ lệ 0,62% số hộ được kiểm tra, dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng cũng là vấn đề
cần quan tâm. Bởi nó không chỉ làm chính sách của chúng ta mất hiệu quả tối
đa mà còn là sự bất bình đẳng đối với các hộ gia đình, cá nhân học sinh, sinh
viên đáng được hưởng.
- Việc rà soát đối tượng được vay còn nhiều bất cập ở cấp cơ sở.
Chẳng hạn, sinh viên đúng đối tượng gia đình chính sách thật nhưng trên
thực tế gia đình này rất khá giả nhưng do quen biết, nể nang nhau mà được
bình chọn hộ gia đình chính sách. Gia đình này vay vốn vốn mục đích sản
xuất kinh doanh hoặc cho vay lại… vì kinh tế của họ hoàn toàn có thể trang
trải được cho con em mình.
- Tình trạng vốn vay học sinh, sinh viên thường chậm 2-3 tháng. Nhiều
địa phương còn lúng túng trong việc xác định hộ có thu nhập bằng tối đa 150
% hộ nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn. Do đối tượng vay vốn học sinh,
sinh viên gồm cả hộ nghèo và các hộ trên cận nghèo (cận nghèo có thu nhập
tối đa 130% hộ nghèo).
- Nguồn quỹ thiếu: Khi sinh viên đã hiểu rất rõ về lợi ích của chương
trình và tìm đến chương trình thì nguồn quỹ lại cạn kiệt. Việc quỹ không có

- Giúp cho bộ phận dân cư có thu nhập thấp có được sự bình đẳng về
học tập, giúp họ có đủ kinh phí để theo học các bậc học khác nhau kể cả đào
tạo nghề để có thể có một việc làm ổn định, thoát khỏi nghèo đói. Tạo ngoại
tác tích cực cho toàn xã hội.
IV. KẾT QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH:
Kể từ ngày Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ
tướng Chính phủ về Tín dụng đối với học sinh, sinh viên được ban hành, đến
nay đã có trên 3,3 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đã được
vay vốn ngân hàng để học tập, với số tiền lên tới hơn 43.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù đã đạt được những
kết quả đáng khích lệ, nhưng việc xác nhận và lựa chọn đúng đối tượng khó
khăn thụ hưởng chương trình tín dụng này vẫn còn sai sót. Một số trường, cơ
sở dạy nghề còn chưa thực hiện tốt công tác trao đổi thông tin, thống kê số
lượng học sinh, sinh viên được vay vốn và việc thực hiện cam kết trả nợ.
Trong số những khó khăn còn tồn tại, ngoài khó khăn về vốn, về công
tác thông tin tuyên truyền thì sự phối kết hợp giữa Ngân hàng chính sách xã
hội với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội nhận ủy
thác ở một số nơi còn chưa tốt. Do vậy, nhiều địa phương còn chưa chú trọng
đến việc quản lý, sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và đặc biệt là về
trách nhiệm trả nợ tiền vay khi đến hạn.
Tình trạng ỷ lại vào tín dụng chính sách của một bộ phận người dân ở
một số địa phương có xu hướng gia tăng, đặc biệt là một số tỉnh khu vực Tây
Nam Bộ, Tây Nguyên. Điều này đặt ra việc thực hiện các giải pháp đồng bộ,
nhằm nâng cao ý thức của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ
trưởng Tổ tiết kiệm-vay vốn, phát huy hơn nữa vai trò của các hội, đoàn thể
và sự tham gia cụ thể, hiệu quả, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các ngành
liên quan.
Học sinh sinh viên ra trường không có việc làm hoặc việc làm thu nhập
thấp, việc làm không phù hợp với ngành được đào tạo chính là do chưa làm
tốt khâu kết nối giữa việc giới thiệu cho vay vốn với việc tư vấn, định hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status