luận văn Hoạt động đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN VĂN HUY
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ
CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ANH TUẤN
Hà Nội – 2014

i

MỤC LỤC
Trang
Mục lục

1.1.3. Nguồn thu và chi của BHXH
8
1.2. Qũy đầu tƣ BHXH và hoạt động đầu tƣ
12
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội
12
1.2.2. Nguyên tắc hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội
13
1.2.3. Hình thức và nội dung hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội
14
1.3. Những nhân tố ảnh hƣởng tới hoạt động đầu tƣ của quỹ BHXH
18
1.3.1. Nhân tố khách quan
18
1.3.2. Nhân tố chủ quan
19
1.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia về đầu tƣ quỹ bảo hiểm xã
hội
21
1.4.1. Philippine
21
1.4.2. Malaysia
23
1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
26

ii

3.1. Định hƣớng phát triển và cân đối quỹ BHXH ở Việt Nam
58
3.1.1. Chiến lược phát triển chung của toàn ngành bảo hiểm xã hội
58
3.1.2. Định hướng cân đối quỹ bảo hiểm xã hội trong thời gian tới
59
3.1.3. Những quan điểm và định hướng cơ bản về đầu tư quỹ BHXH
61
3.2 . Giải pháp phát triển hoạt động đầu tƣ tại BHXH Việt Nam
64
3.2.1. Nhóm giải pháp chung
64
3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể
67
3.3. Kiến nghị
80
3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước
80
3.3.2. Kiến nghị đối với các Bộ, Ngành có liên quan
81
KẾT LUẬN
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

iii


NSNN
Ngân sách Nhà nước
10
TTCK
Thị trường chứng khoán DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ


44
2.7
Hoạt động đầu tư quỹ BHXH giai đoạn 2007-2013
46
2.8
Tỷ trọng vốn đầu tư trên số dư quỹ BHXH giai đoạn 2007-2013
47
2.9
So sánh tỷ lệ lạm phát với lãi xuất bình quân của danh mục
đầu tư giai đoạn 2007-2013
50
2.10
Cơ cấu danh mục đầu tư quỹ BHXH giai đoạn 2007-2013
51
2.11
Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện nay của BHXH Việt Nam
55
3.1
Dự tính cân đối quỹ hưu trí và tử tuất giai đoạn 2010-2030
61
3.2
Sơ đồ tổ chức bộ máy mới của BHXH Việt Nam
69
3.3
Cơ cấu lại danh mục đầu tư
76 1


2

hàng trăm nghìn tỷ đồng, số tiền này đang được BHXH Việt Nam đem đi đầu
tư nhằm bảo toàn, tăng trưởng quỹ, hoạt động này đã cung cấp một nguồn tài
chính không nhỏ cho NSNN cũng như các thành phần kinh tế góp phần phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã làm được
thì vấn đề đầu tư quỹ BHXH sao cho có hiệu quả cao nhất mà vẫn bảo tồn
được quỹ BHXH là một vấn đề không dễ đối với BHXH Việt Nam. Câu hỏi để
hoạt động đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ngày càng phát triển mà vẫn
bảo tồn được quỹ BHXH thì cần phải có giải pháp như thế nào? Là câu hỏi có
ý nghĩa thực tiễn lớn trong giai đoạn hiện nay. Chính vì những lý do trên, tác
giả đã chọn đề tài “ Hoạt động đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình khoa học đề cập nghiên cứu đến vấn đề này
như: Đề tài “Quỹ BHXH và những giải pháp đảm bảo sự cân đối quỹ BHXH
giai đoạn 2010-2020” của tác giả Đỗ Văn Sinh (năm 2000). Trong đề tài này
tác giả Đỗ Văn Sinh đã đề cập đến vấn đề cân đối thu – chi và đầu tư quỹ,
nhưng thời kỳ đó chưa sáp nhập BHYT vào BHXH và đối tượng tham gia
BHXH còn rất hạn chế; đề tài: “Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH-
thực trạng và giải pháp” của tác giả Hoàng Hà (năm 2000) ở đề tài này tác giả
Hoàng Hà cũng đã đi sâu phân tích thực trạng và đưa ra các biện pháp về đầu
tư quỹ BHXH, nhưng khi đó quỹ BHXH kết dư không đáng kể và chủ yếu
cho Quỹ hỗ trợ phát triển vay với lãi suất thấp do Chính phủ quy định; đề tài:
“Phát triển hoạt động đầu tư tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam, giai đoạn 2003-
2008” của tác giả Đoàn Chiến Thắng (năm 2010). Thời kỳ này Luật BHXH
mới có hiệu lực thi hành cho nên tác giả Đoàn Chiến Thắng cũng chỉ phân tích
vấn đề đầu tư quỹ khi Luật BHXH chưa ra đời.
Nội dung của các công trình khoa học nói trên đã đề cập đến hoạt động
đầu tư quỹ của BHXH Việt Nam trong các giai đoạn nhất định. Tuy nhiên từ

chứng, duy vật lịch sử, lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan 4

điểm của Đảng, Nhà nước ta về BHXH nói chung và hoạt động đầu tư quỹ
BHXH nói riêng.
Trên cơ sở đó, luận văn còn sử dụng tổng hợp một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Phân tích; so sánh; tổng hợp; tổng kết thực tiễn;
chuyên gia.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn góp phần hoàn thiện lý
luận về hoạt động đầu tư quỹ của BHXH.
Những số liệu và các kết luận rút ra trong luận văn có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu về quỹ BHXH.
Những giải pháp và kiến nghị của luận văn giúp cho BHXH Việt Nam
tham khảo, áp dụng vào thực tiễn hoạt động đầu tư quỹ BHXH.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư của bảo hiểm xã hội.
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển hoạt động đầu tư tại Bảo
hiểm xã hội Việt Nam. 5

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG

tham gia BHXH.
Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai
tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau. Phân phối trong
BHXH vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn. Những biến cố
xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động nữ),
tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính bồi hoàn vì
người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó. Còn trợ
cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm,
những rủi ro xảy ra trái ngược với ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có
nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó.
BHXH hoạt động theo nguyên tắc “cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít”
tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù
đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của
từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất.
Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội
cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá
trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức
quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế
độ BHXH.
Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH đóng vai trò to lớn được thể hiện
trên các mặt sau:
- BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH, đảm bảo
an toàn xã hội.
- BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. Phân phối trong BHXH là
sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những 7


8

chết; nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn
xã hội và phát triển kinh tế của đất nước.
1.1.3 Nguồn thu và chi của BHXH
Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Người lao động đóng góp
- Hỗ trợ của Nhà nước
- Các nguồn khác như: Cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do
đầu tư phần quỹ nhàn rỗi, tiền phạt do đóng BHXH chậm.
Quỹ BHXH được hỗ trợ từ NSNN là trách nhiệm của Nhà nước. Bởi vì,
trước hết các luật lệ về BHXH của Nhà nước sẽ là những chuẩn mực về pháp
lý mà cả giới chủ và giới thợ đều phải tuân theo. BHXH là một công cụ quan
trọng trong tay Nhà nước nhằm thực hiện chính sách phân phối lại thu nhập
trong xã hội góp phần ổn định xã hội, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Mặt khác, Nhà nước hỗ trợ cho quỹ khi quỹ BHXH mất cân đối không đáp
ứng được khả năng chi trả và làm chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH
chắc chắn và ổn định.
Người chủ sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH vừa là trách
nhiệm, vừa là quyền lợi. Những khoản chi trả từ quỹ BHXH sẽ làm giảm một
phần gánh nặng tài chính cho họ. Đồng thời góp phần giảm bớt tình trạng
tranh chấp, tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ chủ - thợ.
Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp một phần thu nhập vào
quỹ BHXH như một khoản tiết kiệm để giải quyết những khó khăn về tài
chính của mình khi gặp rủi ro.
Mỗi chế độ BHXH có một loại phí riêng hoặc có thể tổng hợp chung tất
cả các loại chế độ. Nếu ở trong hệ thống BHXH do Nhà nước thành lập và sự
tham gia là bắt buộc thì phí BHXH toàn phần phải đóng góp sẽ bao gồm phí

lớn nhất và quan trọng nhất. Khoản chi này được thực hiện theo luật định và
phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH. Về nguyên tắc, thu 10

trước chi sau. Vì vậy quỹ BHXH chỉ chi cho các chế độ trong phạm vi có
nguồn thu, thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất để
chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo mô
hình nào?
Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả
cũng phải đảm bảo thống nhất theo các nội dung chi.
Ngoài những đặc trưng của một quỹ tài chính, quỹ BHXH có những đặc
trưng riêng khác với các loại quỹ tài chính khác, đó là:
Thứ nhất, là tính chủ thể của quỹ BHXH: Nhà nước là chủ thể duy nhất
quyết định việc tạo lập và sử dụng quỹ BHXH, nhằm phục vụ mục đích đảm
bảo an toàn xã hội. Bằng các đạo luật được ban hành, Nhà nước quy định mức
đóng góp của các bên tham gia BHXH để tạo lập quỹ, đồng thời cũng quy
định những điều kiện hưởng, mức hưởng đối với từng loại chế độ trợ cấp.
Mặc dù quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn, nhưng chỉ có
những người tham gia BHXH được hưởng thụ các nguồn tài chính đó. Do đó,
người tham gia BHXH là chủ thể duy nhất có quyền sở hữu quỹ BHXH hay
nói cách khác, quyền sở hữu quỹ BHXH là của những người tham gia BHXH
đồng sở hữu.
Để tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ như thu BHXH, giải quyết
chế độ chính sách, chi BHXH, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ cần phải có
một hệ thống tổ chức bộ máy - đó chính là hệ thống cơ quan BHXH. Cơ quan
BHXH là người đại diện chủ sở hữu có quyền sử dụng, quản lý quỹ BHXH
theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, là một quỹ tiền tệ tập trung lớn, tồn tại trong thời gian dài,
luôn vận động và có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn: Quỹ BHXH được tạo lập từ
sự đóng góp của đông đảo người tham gia và của hầu hết các đơn vị sử dụng
lao động trong quốc gia. Vì vậy, nguồn lực tài chính tập trung vào quỹ là vô
cùng lớn. Mặt khác, quỹ bảo hiểm được thiết kế theo mô hình tồn tích sẽ có 12

số dư tồn tích từ năm này qua năm khác, thế hệ này sang thế hệ khác, do đó số
dư sẽ tăng lên hàng năm.
Thứ sáu, là quỹ BHXH luôn chịu tác động của nhiều nhân tố trong nền
kinh tế - xã hội: Mỗi một sự vận động của nền kinh tế - xã hội đều tác động
đến quỹ BHXH. Có những nhân tố tác động trực tiếp đến quỹ BHXH, những
nhân tố đó thường có liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế và xã hội của
con người, chẳng hạn như việc làm, thu nhập, tình trạng sức khỏe Những
nhân tố tác động gián tiếp đến quỹ BHXH như: Tăng trưởng kinh tế, tiến bộ
và công bằng xã hội Nền kinh tế tăng trưởng do kết quả của việc đầu tư phát
triển kinh tế tăng, theo đó là việc tăng quy mô sản xuất, kéo theo là lực lượng
lao động có cơ hội việc làm nhiều hơn và thu nhập cũng được cải thiện hơn.
Tiến bộ và công bằng xã hội được nâng cao làm cho con người được cải thiện
về mọi mặt, đặc biệt là vấn đề xã hội. Vì vậy, làm cho chất lượng cuộc sống
của con người được nâng cao, sức khỏe con người tốt hơn Những yếu tố đó
tác động làm tăng quy mô quỹ BHXH và ngược lại.
1.2 QUỸ ĐẦU TƢ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ
1.2.1 Khái niệm và đặc trƣng hoạt động đầu tƣ quỹ bảo hiểm xã hội
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết
quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là lao động và

hàng đầu khi sử dụng quỹ BHXH để đầu tư. Vì quỹ BHXH được hình thành
từ sự đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của hàng triệu người tham gia BHXH
và của cả cộng đồng xã hội, vì vậy quỹ BHXH luôn luôn gắn liền và đảm bảo
quyền lợi cho những người trực tiếp tham gia BHXH và cho cả cộng đồng xã
hội. Do đó, nếu để xảy ra tình trạng rủi ro, thất thoát trong đầu tư quỹ, làm
cho quỹ mất khả năng thanh toán sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, dẫn đến mất
ổn định xã hội, làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Nhà nước, dẫn đến
mất ổn định về mặt chính trị. 14

Nguyên tắc thứ hai: Khả năng thanh toán linh hoạt (tính thanh khoản
cao). Quá trình tạo lập và sử dụng quỹ được diễn ra thường xuyên liên tục với
một quy mô lớn. Quỹ BHXH chịu tác động của rất nhiều nhân tố của nền kinh
tế - xã hội, đặc biệt là các nhân tố có liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế
và xã hội của con người. Một yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của quỹ BHXH
là trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải luôn luôn đảm bảo đủ
nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ cho người được hưởng các chế
độ BHXH. Do đó, hoạt động đầu tư quỹ BHXH phải đảm bảo được nguyên
tắc dù đầu tư vào lĩnh vực nào, dưới hình thức nào thì cũng phải đảm bảo khả
năng chuyển đổi nhanh các tài sản đầu tư thành tiền tệ để đảm bảo kịp thời
nhu cầu chi tiêu của quỹ.
Nguyên tắc thứ ba: Hiệu quả cao (có tính đến lợi ích xã hội): Nếu chỉ
đơn thuần xét trên giác độ kinh tế thì sinh lời là mục tiêu cuối cùng và cực kỳ
quan trọng đối với hoạt động đầu tư của bất kỳ nguồn vốn nào. Nếu hoạt động
đầu tư mà không sinh lời thì không những chẳng tăng trưởng được quỹ, mà
còn không bảo toàn được quỹ (vì có yếu tố trượt giá), do đó sẽ không đảm
bảo được khả năng chi trả các chế độ BHXH trong tương lai.
1.2.3 Hình thức và nội dung hoạt động đầu tƣ quỹ bảo hiểm xã hội

+ Góp vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh: Liên doanh vào các ngành khai
thác, chế biến dầu khí; tham gia vào dự án sản xuất cung cấp điện nước sinh hoạt
cho dân cư, khu công nghiệp, kinh doanh nhà nghỉ tại các khu nghỉ mát…
Đối với đầu tư vốn của BHXH, góp vốn để đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh
doanh có những lợi thế và bất lợi sau đây:
Lợi thế của hình thức đầu tư vào sản xuất, kinh doanh: Thu nhập cao và
góp phần vào phát triển nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập
cho người lao động.
Bất lợi của hình thức đầu tư vào sản xuất, kinh doanh: Rủi ro cao và tính
thanh khoản thấp. 16

Như vậy, đối với hình thức đầu tư này nên bố trí một tỷ lệ nhất định
trong cơ cấu đầu tư của quỹ BHXH để góp phần tăng trưởng quỹ.
+ Kinh doanh bất động sản: Xây dựng nhà ở, đầu tư vào hạ tầng đô thị,
thực hiện hoạt động mua bán bất động sản để hưởng chênh lệch giá.
Lợi thế của đầu tư bất động sản: Đầu tư vào bất động sản đem lại một
nguồn thu nhập thường xuyên do BHXH thực hiện việc quản lý các tài sản
này như: Cho thuê nhà ở hoặc văn phòng. Đồng thời có khả năng chống lại
lạm phát do sự tăng giá của bất động sản. Với điều kiện nền kinh tế Việt Nam
đang phát triển, nhu cầu về nhà ở của người dân cao thì việc đầu tư vào bất
động sản đem lại nguồn thu nhập đáng kể.
Bất lợi của đầu tư bất động sản: Ở nền kinh tế đang phát triển, thì trường
bất động sản luôn có sự biến động và không ổn định. Đầu tư vào lĩnh vực này
là rất mạo hiểm bởi vì sự lên xuống giá của thị trường bất động sản là rất thất
thường, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Lãi suất, sự phát triển của thị trường, tâm
lý…Ngoài ra BHXH mua bất động sản chờ tăng giá để bán đi thu lợi nhuận là
không chắc chắn.

cao hơn khi đầu tư vào tài sản tài chính, nhưng rủi ro chắc chắn sẽ rất cao.
Mặt khác, khi có nhu cầu chi tiêu thì việc chuyển hoá từ tài sản vật chất sang
tiền tệ sẽ không dễ dàng và nhanh chóng được. Tuy nhiên riêng loại tài sản
vật chất là bất động sản có đặc tính riêng, nó có khả năng sinh lời ổn định và
thông thường chỉ có nhà đầu tư nào có nguồn vốn đầu tư ổn định, lâu dài mới
có khả năng tham gia vào thị trường này.
Tài sản tài chính là sự chấp nhận của người đầu tư cho người khác được
sử dụng nguồn vốn của mình để được hưởng lợi.
Tóm lại, có rất nhiều hình thức để dùng quỹ BHXH tham gia đầu tư,
nhưng tuỳ thuộc vào nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi có trong từng thời kỳ
(nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn) và tuỳ thuộc vào môi trường đầu
tư để quyết định danh mục đầu tư cho phù hợp. Có thể khẳng định rằng ở lĩnh 18

vực đầu tư nào có khả năng sinh lời nhiều thì ở đó xác suất xảy ra rủi ro sẽ lớn
và ngược lại.
Xuất phát từ mục đích hoạt động của quỹ BHXH và để đảm bảo được
nguyên tắc đầu tư quỹ BHXH, hoạt động đầu tư của quỹ BHXH nên tập trung
vào một số danh mục đầu tư như: Mua công trái, trái phiếu của Chính phủ, kỳ
phiếu của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cho các tổ chức ngân hàng, tín
dụng và NSNN vay, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng (ngắn hạn và dài hạn).
+ Phân cấp quản lý đầu tư quỹ:
Đầu tư vào lĩnh vực nào, với hình thức nào, tổng mức đầu tư bao nhiêu,
do ai được quyết định, đó là những nội dung cơ bản trong việc phân cấp quyết
định đầu tư. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động đầu tư cần thực hiện đầy đủ
về quy trình đầu tư từ khâu lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, quyết
định dự án đầu tư và quyết toán dự án đầu tư. Mỗi khâu công việc đó đều có
sự phân cấp cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của từng đơn vị,

tư. Với chiến lược đầu tư mang tính chủ động, danh mục đầu tư thường tập
trung vào các công cụ tài chính mang tính mạo hiểm, mức độ rủi ro cao như
đối với việc đầu tư - kinh doanh cổ phiếu, các công cụ tài chính phát sinh và
liên quan nhiều đến yếu tố tạo lập thị trường. Với việc áp dụng chiến lược này
sẽ tạo ra sự tăng trưởng về giá trị tương lai.
Ngược lại, chiến lược đầu tư mang tính thụ động thường dàn trải tài sản
và đa dạng hóa chứng khoán trong danh mục đầu tư; nhằm bù đắp giữa lợi
nhuận và rủi ro để có được thu nhập ổn định, hạn chế rủi ro. Với việc áp dụng
chiến lược hoạt động đầu tư tập trung chủ yếu vào các công cụ tài chính có
thu nhập tương đối ổn định như trái phiếu Chính phủ, hoặc thiết lập danh mục
đầu tư theo kết cấu chỉ số hoặc cho các ngân hàng thương mại vay. Về bản
chất, đây chỉ là sự sao chép lại một cách thụ động mức lợi nhuận của toàn thị
trường do đó kết quả hoạt động đầu tư thì bị lệ thuộc vào diễn biến khách
quan của thị trường.

Trích đoạn Thu từ NSNN chuyển Quỹ BHXH thất Cỏc nhõn tố quyết định hoạt động đầu tƣ quỹ bảo hiểm xó hội của Bảo hiểm Chiến lƣợc phỏt triển chung của toàn ngành Bảo hiểm xó hộ Định hƣớng cõn đối quỹ BHXH trong thời gian tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status