Mục lục
Trang
A. Đặt vấn đề 2
I. Cơ sở lý luận 2
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3
1.Thực trạng 3
2. Kết quả quả thực trạng trên 3
3. Phơng pháp tiến hành 4
B. Giải quyết vấn đề 4
I. Các giải pháp thực hiện 4
II. Biện pháp tổ chức thực hiện
1. Rèn luyện kĩ năng nhận biết, chỉ và đọc các đối tợng Địa lí
trên bản đồ 5
2. Rèn luyện kĩ năng mô tả các đối tợng Địa lí trên bản đồ 10
III. Kết quả, hiệu quả của biện pháp trên. 19
C.Kết luận 20
I. Kế hoạch cụ thể 20
II. Đề xuất 20
1
A. Đặt vấn đề
I. Cơ sở lý luận.
Địa lý là ngành khoa học có phạm trù rộng lớn và mang tính ứng dụng.
Học tập và giảng dạy và nghiên cứu Địa lí đòi hỏi có những kĩ năng nhất định.
Trong số các kĩ năng Địa lí, có những kĩ năng cơ bản đợc vận dụng phổ biến
trong học tập và nghiên cứu Địa lí. Những kĩ năng này đợc trang bị và rèn luyện
ngay trong quá trình học tập Địa lí ở nhà Trờng phổ thông nhằm giúp ngời học dễ
dàng tiếp thu kiến thức, hiểu biết sâu sắc, nâng cao trình độ t duy, khả năng thực
hành Địa lí và phục vụ cho các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi đối với những lớp cuối
cấp.
Tuy nhiên việc rèn luyện kĩ năng Địa lí trong quá trình giảng dạy trong
nhà trờng không phải là sự tóm tắt nội dung tri thức của khoa học Địa lí. Ngoài
thấy rằng việc khai thác kiến thức từ bản đồ, kĩ năng đọc, mô tả các đối tợng Địa
lí trên bản đồ của học sinh còn rất nhiều hạn chế số lợng học sinh có kĩ năng khai
thác kiến thức từ bản đồ không nhiều. Đa số học sinh còn xem nhẹ việc học Địa
lí từ bản đồ và việc khai thác kiến thức từ bản đồ là không cần thiết, các em chỉ
cần nhớ máy móc những kiến thức thầy cô giảng bằng kênh chữ và cứ nh thế các
em sẽ nhớ kiến thức không sâu, một thời gian không lâu sẽ quên ngay. Đây là
một thực tế không thể phủ nhận đợc.
Từ thực tế nh hiện nay tôi đã cố gắng tìm ra phơng pháp giảng dạy học
sinh phù hợp để học sinh có thể nắm kiến thức ghi nhớ lâu hơn và việc khai thác
kiến thức từ bản đồ trở thành kĩ năng, kĩ xảo trong mỗi học sinh.
2. Kết quả của thực trạng trên.
Là một giáo viên giảng dạy bộ Địa lí tôi đã cố gắng su tầm các tài liệu, các
loại bản đồ nhằm mục đích soạn thảo giáo án điện tử, sử dụng bản đồ treo tờng
lập át lát Địa lí để bài học thêm sinh động, học sinh có thể khắc sâu kiến thức
hơn. Tuy nhiên tôi đã không ngừng học hỏi từ các đồng nghiệp và áp dụng một
số biện pháp nhằm cải thiện và khắc phục phơng pháp dạy học truyền thống từ tr-
ớc nhằm nâng cao chất lợng học tập, đồng thời đó cũng là cách đổi mới phơng
pháp trong việc dạy và học môn này.
Qua thực tế tôi nhận thấy kết quả thu đợc tơng đối khả quan kể cả giáo
viên và học sinh đều nhận thấy rằng việc rèn luyện kĩ năng học và khai thác kiến
thức từ bản đồ cho học sinh là rất cần thiết. Từ đó học sinh có thể nhận biết, đọc
và mô tả khai thác tri thức từ bản đồ một cách dễ dàng. Từ thực tế nh vậy tôi xin
đợc rút ra một vài kinh nghiệm nhỏ.
Do điều kiện, thời gian, nhiệm vụ chuyên môn và khuôn khổ đề tài tôi áp
dụng, tổng hợp thành kinh nghiệm trên cơ sở giảng dạy bộ môn Địa lí ở Trờng
THPT Nguyễn Thị Lợi. Để từ đó rèn luyện cho các em những kĩ năng học và khai
thác kiến thức trên bản đồ để học sinh chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức.
3. Phơng pháp tiến hành.
Quá trình giảng dạy các bớc nh sau:
Bớc 1: Phát hiện những hạn chế của học sinh khi học bộ môn Địa lí.
có thể chọn bản đồ phù hợp với nội dung bài học để nhằm khai thác sử dụng
đúng mục đích đạt hiệu quả cao. Ngoài ra giáo viên cần phải có kiến thức về lĩnh
vực tin học một cách thành thạo để thao tác soạn giáo án điện tử một cách dễ
dàng hơn và sử dụng tối đa các bản đồ đã có trong nhà trờng nhằm nâng cao kĩ
năng bản đồ cho học sinh.
Sau đây tôi xin mạnh dạn đa ra một số kĩ năng bản đồ trong dạy học địa lí
ở trờng THPT Nguyễn Thị Lợi
1. Rèn luyện kĩ năng nhận biết chỉ đọc các đối tợng Địa lí trên bản đồ.
Các đối tợng Địa lí đợc biểu hiện trên bàn đồ thuộc nhiều loại: tự nhiên,
KT-XH có những đối tợng biến đổi rất chậm không đáng kể (các đối tợng Địa lí
tự nhiên) bên cạnh đó có các đối tợng Địa lí biến động rõ ràng, nhanh chóng (đối
tợng Địa lí KT - XH) chính vì thế mà rèn luyện cho học sinh kĩ năng, xác định
trên cái nên tự nhiên đó các đối tợng Địa lí thộc những loại khác nhau.
Kĩ năng nhận biết và đọc các đối tợng Địa lí trên bản đồ đơn giản, nhng rất
cơ bản. Chính trên cơ sở nắm chắc kĩ năng này mà học sinh sẽ rèn luyện các kĩ
năng khác một cách thuận lợi hơn.
Vậy cách thức tiến hành mà trớc hết giáo viên cần phải phát âm rõ ràng,
rành mạch địa danh vừa chỉ trên bản đồ, học sinh theo dõi trên bản đồ treo tờng,
đối chiếu với lợc đồ và SGK hoặc bản đồ trong át lát để tìm ra đối tợng, sau đó
giáo viên tiếp tục viết rõ ràng và bằng chữ to địa danh lên bảng vào một góc riêng
rồi phát âm lại một cách thong thả và chỉ định một vài nhắc lại, sau đó học sinh
4
ghi vào vở Địa lí. Qua đó học sinh vừa nghe, vừa nhận, vừa phát âm, vừa viết, các
giác quan đều hoạt động nên địa danh dễ đợc.
Ghi vào trí nhớ. Nh vậy chúng ta mới chỉ đạt yêu cầu là làm cho hoạc sinh
đọc đúng và ghi nhớ địa danh.
Bớc tiếp theo và cũng rất khó khăn là học sinh chỉ xem bản đồ và làm thế
nào để nhận biết và tìm ra đối tợng địa lí cần phải chỉ. Để giúp cho học sinh nhận
biết và tìm ra đợc dễ dàng các đối tợng địa lý trên bản đồ thì giáo viên cho học
sinh nắm đợc điểm hình thù hoặc kích thớc của đối tợng vằ đặt câu hỏi:
Nói tóm lại, khi chỉ và đọc một đối tợng địa lý trên bản đồ, nếu học sinh
biết nhận xét đặc điểm hình thù, kích thớc cũng khác ở xung quanh thì không
những các em sẽ ghi nhớ nó trên bản đồ, khắc sâu nó vào trí óc, mà con nhớ đợc
những đối tợng địa lí khác có liên quan, tự làm giàu thêm vốn hiểu biết bản đồ
của mình.
Điều này hết sức quan trọng, vì rằng càng ghi nhớ đợc nhiều đối tợng địa
lý trên bản đồ thì học sinh càng có nhiều điểm tựa để nhanh chóng tìm ra đợc
những đối tợng mà các em cần, nhng cha biết. Thật vậy, mỗi khi phải tìm chỉ một
đối tợng địa lí trên bản đồ thì bao giờ học sinh cũng phải dựa vào những đối tợng
mà các em đã biết. Chẳng hạn, khi đọc trong SGK, học sinh đợc biết eo Gibranta
trên bản đồ, các em phải dựa vào những cái đã biết tức là bản dồ châu âu đại tây
dơng, địa trung hải, các em sẽ tìm xem địa trung hải thông với đại tây dơng ở
điểm nào, và nh vậy là các em sẽ tìm ra ngay eo Gibranta. Trong trờng hợp các
em cha biết đại tây dơng và địa trung hải nằm ở đâu thì cac em chỉ còn một chỗ
dựa ít ỏi, đó là bản đồ châu âu. Trớc hết phải xác định xem địa trung hải và đại
tay dơng năm ở đâu đã rồi đó mới tiếp tục tìm ra eo Gibranta. Đơng nhiên là
trong trờng hợp này các em mất nhiều thời gian hơn.
7
Nh vây, có thể nói càng tích luỹ đợc nhiều điểm tựa thị học sinh càng dễ
tìm ra đối tợng cần tìm trên bản đồ, tức là càng đọc bản đồ thành thạo hơn. Việc
hớng dẫn học sinh cách nhận biết, tìm ra và ghi nhớ các đối tợng địa lí trên bản
đồ nh trình bày ở trên giúp các em luuon luôn củng cố đợc cái cũ, nắm vững cái
mới và không ngừng mở rộng vốn hiểu biết bản đồ của minh.
Từ những điều đã nói trên đây có thể rút ra quy trình rèn luyện kĩ năng
nhận biết, chỉ và đọc các đối tợng địa lí trên nh sau:
- Giáo viên đọc rõ ràng, rành mạch, chính sác địa danh và chỉ đối tợng trên
bản đồ treo tờng.
- Cho học sinh đối chiếu tìm trên bản đồ trông SGK hoặc atlat.
- Giáo viên viết thật rõ ràng địa danh lên bảng đen ở một góc riêng.
- Yêu cầu một số học sinh phát âm lại rõ ràng, to tát địa danh, và khi cần,
hay già, cao hay thấp hoặc trung bình, nằm ở phần nào của lãnh thổ, tiếp cận với
những dạng địa hình nào, với những vịnh, biển, đại dơng nào,bao gồm những
mạch nào chính, chạy theo hớng nào, chiều dài và chiều rộng là bao nhiêu km, độ
cao trung bình và đỉnh cao nhất là bao nhiêu mét, dốc về hớng nào và thoai thoải
về hớng nào, bị cắt sẻ nhiều hay ít bởi các thung lủng sông, gây trở ngại lớn hay
nhỏ đối với giao thông vận tải, có ảnh hởng gì đến khí hậu của địa phơng.
Ví dụ:
9
Mô tả một bình nguyên hay cao nguyên, học sinh cần phân tích xem bình
nguyên hay cao nguyên đó nằm ở phần nào của lãnh thổ, hình dạng, kích thớc,
tiếp cận với nhũng dạng địa hình nào, nằm sâu trong đất liền hay ở ven biển, ở độ
cao trung bình bao nhiêu, chỗ thấp nhất và chỗ cao nhất, dốc theo hớng nào, độ
dốc lớn hay nhỏ, bị sông ngòi cắt xẽ nhiều hay ít, có nhuãng hệ thống hoặc sông
nào lớn chảy qua.
Việc rèn luyện kĩ năng có thể theo các bớc nh sau:
- Giáo viên mô tả mẫu địa hình của một châu lục, vừa mô tả, vừa hớng dẫn
học sinh cách thức, trình tự mô tả.
- Cho học sinh ghi dàn ý mô tả vào sổ tay địa lý, khuyến khích học sinh
học thuộc dàn ý đó.
- Cho học sinh tập mô tả địa hình châu lục, bắt đầu bằng một châu lục có
địa hình đơn giản.
- Cho học sinh tập mô tả từng dạng địa hình theo dàn ý đã ghi trong sổ tay
địa lý.
- Cho học sinh tập mô tả địa hình của một nớc nào đó.
b. Rèn luyện kĩ năng mô tả khí hậu trên bản đồ
Khí hậu là một yếu tố hình thành hết sức quan trọng của tự nhiên, nó chi
phối những nét đặc trng của tự nhiên ở từng nơi. Chế độ nớc của sông ngòi, đặc
điểm thổ nhỡng, thực vật, động vật đều phụ thuộc vào khí hậu. Sinh hoạt và các
hoạt động sản xuất của con ngời cũng chịu ảnh hởng rõ rệt của khí hậu.
Mùa hạ, có những đờng đẳng nhiệt nào chạy qua lãnh thổ châu âu? Đờng
đẳng nhiệt cao nhất chạy qua những đâu(miền cực nam và miền đông nam). Vì
sao?(do ảnh hởng của vĩ độ và lục địa).
Mùa đông có những đờng đẳng nhiệt nào chạy qua lãnh thổ châu âu?(+10-
0
C, +5
0
C, +0
0
C, -5
0
C, -10
0
C, -15
0
C). Các đờng đẳng nhiệt thấp nhất chạy qua
những vùng nào? (Đờng đẳng nhiệt -15
0
C chạy từ Bắc xuống Nam ở phía cực
Đông, đờng đẳng nhiệt -10
0
C chạy trên bán đảo Xcăngđinavi, vòng thẳng xuống
vùng Đông Nam rồi chuyển xuống hớng Đông).
Sự phân bố nh trên của các đờng đẳng nhiệt mùa hạ và mùa Đông trên lãnh
thổ châu Âu cho ta thấy khí hậu châu Âu có đặc điểm chung (Không nóng lắm
về mùa hạ và không quá lạnh về mùa Đông). Vùng nào có mùa Đông ẩm nhất, vì
sao (vùng Nam Âu, vì ở vĩ độ thấp nhất) những vùng nào có mùa Đông lạnh nhất
(vùng Đông và Đông Nam, vì chịu ảnh hởng nhiều của lục địa).
Căn cứ vào nhiệt độ ghi bằng chữ số ở các địa điểm Luân Đôn, VácXaVa,
Matxcơva, ta có nhận xét gì? (Biên độ nhiệt trong năm tăng dần từ Tây sang
30B, có nghĩa là nằm hoàn
toàn trong vành đai nhiệt đới.
- Tính chất nhiệt đới cũng thể hiện ở các đờng đẳng nhiệt trung bình năm
chạy qua lãnh thổ Việt Nam: +20
0
C, +23
0
C, +26
0
C.
Sự phân bố của các đờng đẳng nhiệt cho thấy nhiệt độ tăng theo hớng từ
Bắc vào Nam theo quy luật địa đới. Điều này cũng đợc thể hiện qua các chỉ số
ghi nhiệt độ chung bình ở các địa điểm Lạng Sơn 21,3
0
C, Hà Nội 23,4
0
C, Vinh
23,9
0
C, Huế 25,2
0
C, Nha Trang 26,3
0
C, TP HCM 26,9
0
C.
- Nhìn vào biến trình của nhiệt độ trong năm thể hiện ở các biểu đồ, chúng
ta thấy ở Lạng Sơn nhiệt độ tháng lạnh nhất xuống tới dới 14
0
C, ở Hà Nội khoảng
chúng ta bổ sung vào tính chất nhiệt đới của khí hậu Việt Nam một đặc tính thứ 2
hết sức quan trọng, đó là gió mùa. Nh vậy khí hậu nớc ta không phải chỉ là khí
hậu nhiệt đới đơn thuần mà là khí hậu nhiệt đới gió mùa.
- Phân tích các biểu đồ chỉ nhiệt độ trung bình tháng và lợng ma trung
bình tháng, ta thấy lợng ma trung bình năm ở lạng sơn là 1400mm, ở hà
nội1683mm, ở Vinh là 1869mm, ở Huế 2990mm, ở Đà Lạt 1820mm, TP HCM
1917mm, nh vậy Việt Nam có lợng ma khá lớn trên toàn lãnh thổ, trừ những nơi
kín gió. Các cột ma tháng trong trên các biểu đồ năm trên các biểu đồ cho thấy
ma tập trung vào mùa hạ, từ tháng 5 đến tháng 10, do gió mùa Tây nam và đông
nam mang đến. Riêng miền bắc trung bộ, ma tập trung vào mùa Đông do gió
14
mùa đông bắc qua vịnh bắc bộ lấy hơi ẩm đem đến. Ngoài ra, bão cùng góp phần
làm cho ma nhiều vào mùa Đông.
- Tóm lại, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh trên
nửa phần phía bắc của đất nớc, lợng ma hàng năm tơng đối lớn, trải ra khắp lãnh
thổ.
Qua những ví dụ trên đây, có thể rút ra quy trình rèn luyện kĩ năng mô tả
khí hậu trên bản đồ nh sau:
- Làm cho học sinh hiểu rõ mô tả khí hậu có nghĩa là mô tả những yếu tố
thành phần của nó tức là nhiệt độ, ma, gió và phát hiện mối liên hệ giữa chúng
với nhau cũng nh với những yếu tố tự nhiên khác.
- Giới thiệu cho các em các yếu tố trên bản đồ khí hậu.
- Cung cấp cho học sinh dàn ý mô tả khí hậu trên bản đồ.
- Hớng dẫn các em dựa vào dàn ý cho sẵn để mô tả khí hậu trên bản đồ bắt
đầu từ châu lục rồi chuyển sang một khu vực, một quốc gia.
c. Rèn luyện kĩ năng mô tả sông ngòi trên bản đồ
Nhìn mạng lới sông ngòi bản đồ một khu vực có thể thấy ngay trên bản đồ
một khu vực có thể thấy ngay trên những nét lớn đặc điểm khí hậu, địa hình, thực
vật, động vật và phân bố dân c ở khu vực đó. Nh vậy việc mô tả sông ngòi của
chúng ta thấy rõ không những đặc điểm về thuỷ văn của mỗi khu vực mà cả mặt
mùa đông, Riêng ở trung bộ ma tập trung vào các tháng 9-12 nên sông ngòi có n-
ớc lũ và nớc lũ lên to vào mùa đông.
Dựa vào bản đồ địa lý việt nam học sinh rể nhận thấy rằng sông hồng bắt
nguồn từ cao nguyên vân quý, trung quốc, một phần trung lu và toàn bộ hạ lu trải
trên lãnh thổ nớc ta theo hớng núi tây bắc - đông nam và đổ vào vịnh bắc bộ. Căn
cứ vào màu sắc trên bản đồ, các em có thể thấy đoạn trung lu của sông chảy ở
miền núi thấp, độ dốc nhỏ, khi chảy vào miền đồng bằng, sông chỉ còn ở độ cao
16
50m, độ dốc yếu nên sông uốn khúc nhiều và cùng với hệ thống sông Thái bình
tạo lập một tam giác châu mà đỉnh là Việt Trì.
Chảy tới Việt trì sông hồng nhận đợc 2 phụ lu chính: Sông đà ở bên phải
và sông lô ở bên trái, sông đà là phụ lu lớn nhất. Bắt nguồn từ trung quốc, chảy ở
vùng núi đá vôi, có nhiều ghềnh nh ghềnh Bờ, trớc khi đổ vào sông chính sông đà
cũng nhận đựơc một số sông nhánh, lớn nhất là sông nậm na. Sông lô cũng bắt
nguồn trên lãnh thổ trung quốc, chảy về gần đến thị xã tuyên quang thì nhận đợc
phụ lu sông gâm, về tới đoan hùng nhận đợc phụ lu sông chảy. Sông chảy cũng là
sông có nhiều ghềnh, nh ghềnh bà.
Hệ thống sông Hồng có ý nghĩa lớn về kinh tế, trớc hết về mặt thuỷ lợi. Nó
cung cấp nớc cho mạng lới kênh máng, cho phép giữ chủ động trong canh tác,
tăng vụ, nâng cao sản lợng nông nghiệp. Giá trị về mặt thủy điện cũng rất quan
trọng, trữ lợng khá lớn nhng cha khai thác đợc bao nhiêu, ngoài trung tâm thủy
điện hoà bình trên sông đà, trung tâm thủy điện thác bà trên sông chảy. Hệ thống
sông hồng nối liền với hệ thống sông thái bình tạo thành một mạng lới giao thông
đờng thông hết sức quan trọng trải ra các hớng trên lãnh thổ bắc bộ.
Việc rèn luyện kĩ năng mô tả sông ngòi trên bản đồ có thể theo quy trình
nh sau:
- Hớng dẫn học sinh mô tả một con sông dựa trên dàn ý cho sẵn.
- Khi học sinh đã năm đợc cách mô tả một con sông, chuyển sang hớng
dẫn các em mô tả một hệ thống sông.
- Cuối cùng hớng dẫn các em tập mô tả sông ngòi của một nớc.