TÊN ĐỀ TÀI:
“PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN CHO LỚP 6 KỸ NĂNG PHÁT HIỆN CÁC MỐI
LIÊN HỆ ĐỊA LÍ TRÊN BẢN ĐỒ” ĐẠT HIỆU QUẢ
CAO.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Sự vật hiện tượng trên bề mặt trái đất rất đa dạng, phức tạp, luôn biến đổi
không ngừng theo một qui luật khách quan, song lại có mối quan hệ rất mật thiết
với nhau. Với học sinh lớp 6, các em mới chỉ hiểu được các sự vật hiện tượng
một cách rất sơ lược, nhưng tại sao lại xảy ra hiện tượng đó, các sự vật hiện
tượng trên trái đất có mối quan hệ với nhau như thế nào thì hầu như học sinh
còn mơ hồ. Vậy nếu chúng ta chỉ dạy cho học sinh nắm kiến thức không thôi mà
không rèn luyện cho học sinh kỹ năng, đặc biệt là “kỹ năng phát hiện các mối liên
hệ địa lí trên bản đồ” như thế nào cho hiệu quả; vì địa lí lớp 6 là địa lí đại cương,
nó là cơ sở quan trọng cho kiến thức địa lí lớp 7, 8, và 9, nó rất là khó, nếu
chúng ta không giúp các em hiểu rõ ngọn nguồn thì sau này lên các lớp trên học
sinh sẽ giải thích sự vật hiện tượng địa lí liên quan một cách sơ sài, có khi lại
không có cơ sở khoa học nữa. Vì vậy, việc rèn luyện cho học sinh học môn Địa lí
lớp 6 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ là hết sức cần thiết –
sau đây tôi đưa ra một số việc làm cụ thể như sau:
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Giúp cho hoc sinh hiểu ý nghĩa của việc rèn luyện cho học sinh học
môn Địa lí lớp 6 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ:
Đây là một kỹ năng hết sức quan trọng, vì bản chất của khoa học địa lí là
gắn với không gian, với bản đồ và gắn với mối liên hệ giữa các sự vật hiện
tượng. Kỹ năng này không chỉ dựa vào sự hiểu biết về địa đồ học mà còn phải
dựa vào kiến thức địa lí, càng nắm vững, hiểu sâu, càng tích lũy được nhiều kiến
thức địa lí thì kỹ năng càng thành thạo. Vì thế, hơn bất kỳ kỹ năng nào khác, việc
rèn luyện cho học sinh học môn Địa lí lớp 6 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa
lí trên bản đồ cần phải được làm dần dần, qua những ví dụ cụ thể, từ đơn giản
đến phức tạp, từ đầu năm đến cuối năm, làm cho học sinh lớp 6 có cơ sở ban
tiếp rõ ràng trên bản đồ và để phát hiện ra chúng, học sinh không chỉ dựa vào
bản đồ mà còn phải dựa vào vốn kiến thức địa lí của mình, nhất là sự hiểu biết
về các qui luật địa lí. Những mối liên hệ địa lí này có thể phân thành 3 loại :
* Những mối liên hệ giữa các hiện tượng tự nhiên với nhau, đây là mối liên hệ
nhân quả được sử dụng ở lớp 6 nhiều nhất vì ở lớp 6 các em sẽ được nghiên
cứu nhiều về các qui luật của tự nhiên.
Ví dụ: qui luật ngày, đêm: Ngày đêm dài ngắn khác nhau; qui luật các mùa; qui
luật giữa khí hậu một nơi với vĩ độ của nơi đó, với địa hình, với biển và dòng
biển bao quanh, giữa sông ngòi với địa hình, khí hậu.. Đấy là những mối liên hệ
nhân quả.
* Những mối liên hệ giữa các hiện tượng địa lí, kinh tế với nhau:
Ví dụ: các dân tộc miền núi chặt phá rừng đốt nương làm rẫy - đất đai xói mòn
bạc màu, rửa trôi - kinh tế phát triển kém phụ thuộc vào tự nhiên…
- Những mối liên hệ giữa tự nhiên và kinh tế:
Ví dụ: sử dụng thảo nguyên khô và bán hoang mạc để chăn thả gia súc,
sử dụng thác nước để làm thủy điện, phát triển công nghiệp gỗ, giấy dựa vào
nguồn lợi của rừng… Những mối liên hệ thuộc hai loại sau không phải là những
mối liên hệ nhân quả, có tính qui luật mà chỉ là những mối liên hệ thông thường.
Không nhất thiết phải có rừng công nghiệp gỗ mới phát triển. Không nhất thiết
phải có biển ngành hàng hải đánh cá mới phát triển. Không phải cứ có ngành
công nghiệp khai thác dầu là có ngành sản xuất thiết bị và vận chuyển dầu khí…
Thật vậy, việc khai thác sử dụng tự nhiên xây dựng và phát triển kinh tế còn tùy
thuộc một phần lớn vào trí tuệ của con người, vào trình độ khoa học kỹ thuật,
trình độ phát triển kinh tế, vào đặc điểm của mỗi.
Một điều hết sức quan trọng là tập cho học sinh phân biệt được những mối liên
hệ địa lí thông thường với những mối liên hệ địa lí nhân - quả bằng cách luôn đặt
câu hỏi để các em suy nghĩ, phân tích và trả lời; phải chăng cứ có các này thì
phải có cái kia.
củng cố, bổ sung và hoàn thiện dần. Tuy nhiên, trong thực tiễn, giảng dạy ở địa
lí lớp 6 khi tập cho học sinh tìm hiểu các mối liên hệ địa lí trên bản đồ, điều lúng
túng của các em không phải là về mặt hiểu biết bản đồ mà là về mặt kiến thức
địa lí, nhất là các kiến thức về qui luật địa lí, vì ở lớp này, các em bắt đầu làm
quen với bộ môn địa lí đại cương, vốn kiến thức tích lũy chưa được bao nhiêu.
Vì vậy lên lớp trên các em ngoài tiếp tục củng cố, bổ sung phát hiện các mối liên
hệ địa lí thì việc nắm chắc các kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí ở khối
lớp 6 này là một việc làm cực kỳ quan trọng - mà ở khối lớp 6 này chủ yếu là mối
liên hệ giữa tự nhiên với tự nhiên (mối liên hệ nhân - quả).
Ví dụ: Mối liên hệ giữa tự nhiên với tự nhiên: Khí hậu, các cảnh quan tự nhiên ở
một nơi nào đó phụ thuộc vào:
Vĩ độ địa lí:
Ở vị trí càng xa xích đạo (càng ở vĩ độ cao) nhiệt độ càng giảm, khí hậu
càng lạnh dần, càng đi gần về xích đạo (vĩ độ càng thấp) nhiệt độ càng tăng khí
hậu càng nóng.
Hs trực quan hình 49 sgk và học sinh sẽ nắm chắc kiến thức trên. Nhưng vì sao
nhiệt độ thay đổi như vậy thì học sinh phải nắm chắc mối liên hệ nhân quả của
chuyển động trái đất quanh mặt trời theo quỹ đạo hình e líp, do trục trái đất trong
lúc chuyển động vẫn giữ y độ nghiêng và hướng nghiêng không đổi sinh ra, rồi
góc chiếu sáng….
Hoặc qui luật phân chia ra các đới nhiệt cũng như các đới khí hậu ở trên trái đất
do vĩ độ địa lí ảnh hưởng trực tiếp quyết định đến sự phân chia này, ví dụ học
sinh quan sát hình 58 các đới khí hậu trên trái đất Hs sẽ nhận biết ngay sự phân
chia các đới nhiệt là do vĩ độ, đó là sự phân chia ánh sáng mặt trời với trái đất
không đều nhau từ xích đạo về cực - Hs sẽ nhận biết 2 bên xích đạo là đới nóng,
2 chí tuyến đến 2 vòng cực là đới ôn hòa phần còn lại là đới lạnh như hình sau:
sau đây:
Lục địa:
Vì lục địa nóng lên rất nhanh và nguội đi cũng rất nhanh nên làm cho khí hậu
mang tính cực đoan, những vùng lãnh thổ ở sâu trong lục địa khí hậu rất nóng
về mùa hạ, nhưng ngược lại khí hậu thì rất lạnh về mùa đông (khí hậu mang
tính chất lục địa, khắc nghiệt).
3.Qui trình tiến hành:
Từ những điều đã nói trên, có thể rút ra qui trình tiến hành rèn luyện kỹ năng
phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ như sau:
a. Giúp học sinh nắm chắc các vốn hiểu biết về bản đồ học: kiến thức quan
trọng đầu tiên là nắm chắc phương hướng trên bản đồ. Vậy, muốn nắm chắc
phương hướng trên bản đồ phải nắm chắc hệ thống kinh vĩ tuyến và từ hệ thống
kinh vĩ tuyến ta dễ dàng xác định phương hướng trên bản đồ.
Phải nắm chắc hệ thống kinh tuyến: Đường nối cực B - N
Nắm chắc hệ thống vĩ tuyến: những đường tròn song song xích đạo như
hình
3 tr.7 sách giáo khoa địa lí lớp 6:
Nhưng nếu xác định kinh, vĩ tuyến là những đường cong như trên H.3 thì rất
khó với học sinh, với hình này học sinh yếu cũng khá mơ hồ nên ta hướng dẫn
học sinh, với bản đồ giáo khoa các em đang học hiện nay đang sử dụng hệ
thống kinh vĩ tuyến là những đường thẳng như bản đồ hình 13 chẳng hạn:
Với bản đồ giáo khoa các em đang học hiện nay đang sử dụng hệ thống kinh vĩ
tuyến là những đường thẳng như bản đồ hình 12 chẳng hạn.
phong phú hay nghèo nàn của thực vật ở một nơi, cũng chủ yếu do khí hậu nơi
đó quyết định, ngoài ra cũng có nhân tố con người, các động vật nhưng cơ bản
thực vật chịu sự chi phối chặt chẽ của khí hậu.
Ví dụ: Khí hậu xích đạo nóng ẩm à thực vật là rừng rậm với nhiều loài chen
chúc nhau, mọc thành nhiều tầng như hình sau:
Khí hậu miền cực giá lạnh quanh năm à thực vật nghèo nàn là rêu, địa y.
Khí hậu ở vùng hoang mạc rất nóng và khô, khí hậu rất khắc nghiệt, cảnh quan
tự nhiên rất nghèo nàn, thực vật rất hiếm, động vật cũng chỉ có một số loài thích
nghi.
Khi HS nắm chắc kiến thức kể trên từ trực quan sinh động và Hs sẽ khái quát
lên thành tư duy trừu tượng từ đó thành kỹ năng. Lên lớp cao hơn, học sinh học
bài óc phán đoán suy luận rất tốt, khả năng tư duy phát triển linh hoạt: chỉ cần
đọc kênh chữ khí hậu một vùng nào đó nhiệt đới nóng ẩm, HS tưởng tượng
ngay đến cảnh quan rừng rậm với cây cối rậm rạp, dây leo chằng chịt…
c. Trên cơ sở vốn hiểu biết tích lũy của học sinh, giúp các em phân biệt được
các mối liên hệ thông thường và các mối liên hệ địa lí mang tính nhân quả, mang
tính qui luật.
Mối liên hệ thông thường như đầu trên kinh tuyến (bản đồ) là hướng Bắc, thì tất
nhiên đầu phía dưới kinh tuyến (bản đồ) là hướng Nam, đầu bên phải vĩ tuyến
(bản đồ) là hướng Đông, thì tất nhiên đầu bên trái vĩ tuyến (bản đồ) phải là
hướng Tây như hình sau:
Các mối liên hệ mang tính nhân quả, tính qui luật như vận động tự quay quanh
tư duy
rèn kỹ năng.
Đó là thành công trong giảng dạy địa lí vì dạy địa lí là dạy mối liên hệ nhân quả,
đặc biệt khi địa lí lớp 6 liên quan đến qui luật địa đới, địa mạo.
III. BÀI HỌC RÚT RA:
Học sinh có kiến thức, nắm chắc kiến thức nhưng chưa chắc học sinh đã có kĩ
năng, nhưng học sinh đã có kỹ năng phải dựa trên cơ sở kiến thức và chắc chắn
kiến thức học sinh nắm sẽ vững vàng - vì vậy kiến thức, kỹ năng liên quan chặt
chẽ với nhau; đặc biệt khi kiến thức đã đạt tới kỹ năng thì việc tiếp nhận kiến
thức địa lí mới dựa trên kiến thức cũ (mối liên hệ nhân quả, mối liên hệ có tính
qui luật) thì sẽ rất dễ dàng với học sinh học địa lí, vì dạy địa lí là dạy mối liên hệ
nhân quả và học địa lí tốt phải nắm chắc mối liên hệ nhân quả. Dạy địa lí lớp 6,
kiến thức mới đọc lướt qua thì rất ngắn gọn, dễ hiểu, song để dạy thế nào cho
học sinh hiểu thì đó mới là vấn đề khó và nan giải vì đây là địa lí đại cương, đặc
biệt là giúp học sinh hình thành kỹ năng lại càng khó hơn. Để dạy cho các em
hiểu, yêu thích, có kiến thức, kỹ năng tốt để các em lên lớp trên tiếp thu dễ dàng
tiếp thu các kiến thức mới thì đòi hỏi người thầy giáo phải có tâm huyết phải có
sự đầu tư thời gian, tìm tòi sáng tạo từ đó mới tìm hiểu một cách sâu sắc những
kiến thức mà người giáo viên cần hướng dẫn dẫn dắt cho học sinh nắm và hiểu
từ đó rèn kỹ năng ban đầu cho học sinh khoa học, chính xác.
Kết quả bước đầu so sánh:
Lớp – năm họcTrước
2012 - 2013
nghiệm
Lớp
6/5X
Lớp 6/6
“Rèn luyện cho học sinh lớp 6 các kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên
bản đồ như thế nào cho hiệu quả?” đấy chưa phải là tất cả, nhưng các kỹ năng
phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ là hết sức quan trọng. Quá trình rèn
luyện tiếp tục từ bài này sang bài khác là quá trình chiếm lĩnh kiến thức mới, hết
phần này sang phần khác trong suốt chương trình giảng dạy của môn học, đồng
thời phát triển các thao tác tư duy, năng lực nhận thức, tính tích cực chủ động.
Nhằm cải tiến phương pháp dạy học thì Gv cần tăng cường rèn luyện cho học
sinh học môn Địa lí lớp 6 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản đồ như
thế nào cho hiệu quả. Trong thực tiễn dạy học địa lí 6 hiện nay, việc “Rèn luyện
cho học sinh học môn Địa lí lớp 6 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên
bản đồ?” là hết sức quan trọng vì dạy bằng phương pháp nào thì kiến thức các
em tiếp thu, lĩnh hội trong một giờ học đều nằm trong cuốn sách giáo khoa. Các
em tự quan sát kênh hình, kênh chữ, bảng số liệu, bản đồ, giúp các em chủ
động nghiên cứu tìm tòi, tự tìm ra kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài là hết sức
quan trọng, từ đó rèn luyện cho các em kỹ năng. Đó cũng là một trong những
phương pháp mới của quá trình dạy học; dạy học lấy học sinh làm trung tâm, GV
chỉ là người hướng dẫn, dẫn dắt học sinh tiếp thu kiến thức một cách đúng
hướng, chính xác mà thôi.
Từ thực tế của việc cải tiến phương pháp dạy học theo hướng “dạy học lấy học
sinh làm trung tâm”,các em phải chủ động khai thác kiến thức, lĩnh hội kiến thức
mới trên cơ sở rèn luyện kỹ năng dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của GV; kiến
thức mới đến với các em chủ yếu thông qua hoạt động nhận thức của bản thân
các em, chứ không phải thông qua lời nói của GV. Tổ chức hướng dẫn các em
đọc một đoạn nào đó trong SGK, tìm hiểu phân tích nội dung một kênh hình,
kênh chữ, bảng số liệu hay một lược đồ, bản đồ SGK, bảng thống kê, giúp các
em từ đó tự khai thác kiến thức mới (bởi vì nếu từ học sinh lớp 6 mà ta không
rèn luyện được kỹ năng địa lí, vì địa lí đại cương là kiến thức cơ bản xuyên suốt
cả quá trình học địa lí trung học cơ sở và cả lên cấp trên nữa...) Rèn luyện cho
học sinh lớp 6 kỹ năng phát hiện các mối liên hệ địa lí trên bản địa lí?…đó là một
phương pháp dạy học có hiệu quả cao.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hoà Liên, ngày 20 tháng 12 năm 2012
Giáo viên thực hiện
Huỳnh Thị Diệu Minh
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................. 1
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ................................................................. 1
1. Giúp cho học sinh hiểu ý nghĩa ................................................ 1
2.Cách tiến hành ......................................................................... 2
3. Qui trình tiền hành ................................................................... 7
III. BÀI HỌC RÚT RA ....................................................................... 16
IV. KẾT LUẬN ................................................................................... 17