KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN – TIỀN HÔN NHÂN CHO NHÓM ĐỐI TƯỢNG LÀ VỊ THÀNH NIÊN – THANH NIÊN VÀ CÁC CẶP NAM, NỮ CHUẨN BỊ KẾT HÔN NĂM 2011 (2) - Pdf 28

TÓM TẮT:
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN – TIỀN HÔN NHÂN CHO
NHÓM ĐỐI TƯỢNG LÀ VỊ THÀNH NIÊN – THANH NIÊN VÀ CÁC CẶP NAM,
NỮ CHUẨN BỊ KẾT HÔN NĂM 2011
BS CKI Đặng Phi Yến (Chi cục Dân số - KHHGĐ TP HCM)
Đặt vấn đề: Trong điều kiện phát triển của xã hội ngày nay, độ tuổi bắt đầu dậy thì
ngày càng sớm trong khi tuổi kết hôn trung bình đang ngày càng cao, do đó khoảng thời
gian tiền hôn nhân đang được kéo dài ra và tình trạng sống thử ở các bạn trẻ có xu hướng
tăng dẫn đến có thai ngoài ý muốn, phải đi đến nạo phá thai làm ảnh hưởng xấu đến tình
trạng sức khỏe sinh sản. Hậu quả là sẩy thai liên tiếp do hở eo tử cung, thai ngoài tử cung,
nhau tiền đạo, vô sinh Bên cạnh đó, số người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục,
nhiễm HIV/AIDS càng ngày càng tăng. Những hậu quả trên sẽ ảnh hưởng đến việc nâng
cao chất lượng dân số, đây là nội dung chủ yếu của Chiến lược Dân số-Sức khỏe sinh sản
giai đoạn 2011 – 2020 ở nước ta. Vì vậy việc tiến hành khảo sát kiến thức sức khỏe sinh
sản – tiền hôn nhân cho nhóm đối tượng là vị thành niên – thanh niên và các cặp nam, nữ
chuẩn bị kết hôn vô cùng quan trọng và cần thiết đối với quá trình triển khai “Mô hình tư
vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân” (gọi tắt là Mô hình).
Mục tiêu khảo sát: Xác định tỷ lệ vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết
hôn có kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe sinh sản và tiền hôn nhân.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu định lượng qua khảo sát 420 vị thành
niên/thanh niên từ 15-24 tuổi và nam nữ chuẩn bị kết hôn tại 07 điểm triển khai mô hình
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: 03 điểm ở trường học (Ký túc xá Đại học
Kinh tế, Trung học phổ thông Mạc Đỉnh Chi, Trung học phổ thông Trần Phú) và 04 điểm ở
04 quận-huyện (4, Bình Thạnh, Tân Phú và Hóc Môn)
Kết quả khảo sát:
- 40% có kiến thức chung đúng về nạo phá thai và hậu quả của nạo phá thai không
an toàn;
- 21% có kiến thức chung đúng về vô sinh và các nguyên nhân có thể gây vô sinh;
- 42% có kiến thức chung đúng về quan hệ tình dục an toàn và các biện pháp tránh
thai hiện đại;
- 19% có kiến thức chung đúng về các tổn thương cơ quan sinh dục và các bệnh lây

2009 là có 2.427 trường hợp chiếm 2,42%, năm 2010 là 2.037 chiếm 2,29%).
Trong điều kiện phát triển của xã hội ngày nay, tuổi kết hôn trung bình đang ngày
càng cao có nghĩa khoảng thời gian tiền hôn nhân đang được kéo dài ra và tình trạng sống
thử ở các bạn trẻ có xu hướng tăng dẫn đến tình trạng có thai ngoài ý muốn dẫn đến phá
thai làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sinh sản và dẫn đến những hậu quả như: sẩy thai liên
tiếp do hở eo tử cung, thai ngoài tử cung, nhau tiền đạo, vô sinh Bên cạnh đó, số người
mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV/AIDS càng ngày càng tăng và cùng
với định hướng Chiến lược Dân số/Sức khỏe sinh sản là nâng cao chất lượng dân số vì vậy
việc tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân là vô cùng quan trọng và cần thiết.
2
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị
kết hôn có kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe sinh sản và tiền hôn nhân.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng qua khảo sát vị
thành niên/thanh niên từ 15-24 tuổi và nam nữ chuẩn bị kết hôn tại 7 điểm triển khai Mô
hình “Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân”.
Kỹ thuật chọn mẫu: Mẫu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
Cỡ mẫu: 420 người.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:
Kiến thức về nạo phá thai và hậu quả của nạo phá thai không an toàn:
Nhìn chung, kiến thức về nạo phá thai còn thấp, chỉ có 39% vị thành niên/thanh niên
và nam nữ chuẩn bị kết hôn biết được nạo phá thai là một giải pháp thụ động nhằm giải
quyết những thai nghén ngoài ý muốn và chỉ nạo phá thai sau khi đã được cán bộ y tế
chuyên ngành sản – phụ khoa và kế hoạch hóa gia đình tư vấn một cách thấu đáo và trước
khi được nạo phá thai, thai phụ phải được kiểm tra sức khỏe toàn diện và làm các xét
nghiệm cần thiết. Vẫn còn 9% vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn trả lời
nạo phá thai là một trong những biện pháp tránh thai phổ biến và 6% trả lời nạo phá thai
chỉ cần những thủ thuật đơn giản, bất kỳ cơ sở y tế nào cũng có thể thực hiện được.
Đối với kiến thức về nạo phá thai không an toàn là cách nạo phá thai có thể gây
nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng thai phụ, thực hiện nạo phá thai ở các cơ sở y tế không
đủ điều kiện được phép thực hiện các thủ thuật này, nạo phá thai khi thai phụ chưa thấy

tránh thai nào cả) mà không thấy thụ thai, hoặc có thụ thai nhưng lần nào cũng sẩy; 5% trả
lời vô sinh chỉ gặp ở phụ nữ trên 30 tuổi; 8% trả lời vô sinh rất hiếm xảy ra và 2% trả lời
vô sinh hoàn toàn do nữ giới.
Tuy nhiên, chưa đến ½ mẫu khảo sát (32%) có kiến thức đúng về nguyên nhân có
thể dẫn đến vô sinh.
Có 66% vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn có kiến thức đúng về
tỷ lệ vô sinh ở nam và nữ là 40% vô sinh do nữ, 30% do nam, 20% do cả 2 giới, 10%
không rõ nguyên nhân.
Như vậy hiểu biết về vấn đề vô sinh chưa cao, điều này sẽ dẫn đến tình trạng chủ
quan, không cần đi khám sẽ làm cho thời gian cần cho việc phát hiện sớm và điều trị sớm
sẽ giảm dần và cơ hội muốn sinh con càng giảm.
Kiến thức về quan hệ tình dục an toàn và các biện pháp tránh thai hiện đại
Kiến thức N %
4
Kiến thức về tình dục an toàn
Đúng 355 85
Không đúng 65 15
Kiến thức về các biện pháp tránh thai hiện đại
Đúng 210 50
Không đúng 210 50
Kiến thức về biện pháp tránh thai vừa có tác dụng tránh thai, vừa có tác
dụng phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Đúng 382 91
Không đúng 38 9
Có 85% vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn cho biết về tình dục an
toàn là quan hệ tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và quan hệ tình dục tránh
được các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Tuy nhiên kiến thức về các
biện pháp tránh thai hiện đại ở mức độ trung bình (50%). Điều này sẽ dẫn đến hậu quả
mang thai ngoài ý muốn và tăng lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Phẩn lớn vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn (91%) biết bao cao su

của hẹp bao qui đầu không được điều trị là: nhiễm trùng dương vật, vô sinh, có khả năng
gây ra ung thư dương vật, tiểu khó, tiểu ít, tiểu nhỏ giọt. Hiểu biết về hậu quả của hẹp bao
qui đầu không được điều trị còn thấp, nếu chưa nhận biết hậu quả của hẹp bao qui đầu
không được điều trị cũng là đều bất lợi cho nam giới, vì vậy cần tăng cường truyền thông
mạnh cho nam giới về vấn đề này.
Nhìn chung, hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục còn thấp, chưa biết
rõ hậu quả của các bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ dễ dẫn đến có mắc bệnh lây
truyền qua đường tình dục, và không được phát hiện sớm điều trị sớm sẽ dễ lây cho vợ
trong kỳ mang thai, sinh con có bệnh sẽ làm giảm chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống.
Kiến thức về chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân
6
Kiến thức N %
Kiến thức về đối tượng của chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân
Đúng 52 12
Không đúng 368 88
Kiến thức về lợi ích của khám sức khỏe tiền hôn nhân
Đúng 303 72
Không đúng 117 28
Chỉ có 12% vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn biết về đối tượng
của chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân là vị thành niên, thanh niên từ 15-24 tuổi và những
cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn.
Đa số vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn (72%) đều có biết lợi ích
của khám sức khỏe tiền hôn nhân bao gồm các nội dung: chuẩn bị kiến thức, tâm lý đúng
cho cuộc sống tình dục vợ chồng, để phát hiện những bệnh di truyền có thể ảnh hưởng đến
con cái sau này, chuẩn bị để có một cuộc sống tình dục thoải mái, thỏa mãn và an toàn
nhất, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch một cách hiệu quả nhất, phát hiện và điều trị sớm (nếu
có) một số bệnh tật có thể ảnh hưởng đến vấn đề tình dục, mang thai, sinh đẻ về sau.
Kiến thức về sàng lọc trước sinh – sàng lọc sơ sinh
Tìm hiểu kiến thức của vị thành niên/thanh niên và nam nữ chuẩn bị kết hôn về trình
tự tiến hành sàng lọc trước sinh – sàng lọc sơ sinh, ta thấy có 66% vị thành niên/thanh niên

cho công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản của thành phố cần phải đi vào chiều
sâu, hướng tới kỹ năng và tính cụ thể hơn nữa.
4. Phần lớn vị thành niên/thanh niên đã biết đến những bệnh lây truyền qua đường
tình dục, nhưng kiến thức cụ thể còn hạn chế. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ lây nhiễm
cao và lây lan trong cộng đồng vì vậy việc truyền thông, giáo dục về vấn đề này cần được
quan tâm hơn.
5. Kiến thức của vị thành niên/thanh niên về lợi ích của việc khám sức khỏe tiền hôn
nhân đạt tỷ lệ khá cao tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ đối tượng này chưa xác
định được đối tượng của chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân. Điều này cho thấy mức độ tiếp
cận thường xuyên các thông tin về tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân của đối tượng
này là chưa cao.
6. Mức độ quan tâm và sự hiểu biết về sàng lọc trước sinh và sơ sinh còn chưa cao, vì
vậy cần phối hợp, tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa về vấn đề này.
KIẾN NGHỊ
1. Khảo sát kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản-tiền hôn nhân là một nội dung rất
quan trọng, là tiền đề để triển khai Mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân (gọi tắt
là Mô hình) cho đối tượng là vị thành niên-thanh niên và các cặp nam-nữ chuẩn bị kết hôn.
Mô hình chính là bước đầu trong việc triển khai chương trình sàng lọc trước sinh và sàng
lọc sơ sinh nhằm nâng cao chất luợng dân số đầu đời. Do đó, ngành Dân số thành phố kiến
nghị Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tăng cường kinh phí mở rộng hoạt động Mô
hình để Mô hình ngày càng tiếp cận rộng rãi các đối tượng như trên, do đó có thể cung cấp
các dịch vụ tư vấn, truyền thông, và khám sức khỏe tiền hôn nhân phủ rộng trên địa bàn
thành phố
2. Lãnh đạo Đảng, chính quyền ở các địa phương, Ban Giám hiệu tại các trường có
triển khai Mô hình cần tăng cường chỉ đạo và hỗ trợ tích cực các hoạt động của Mô hình
tại các điểm. Như thế các điểm Mô hình mới có thể duy trì và phát triển bền vững
8
3. Cần đẩy mạnh các hoạt động phối hợp cấp thành phố giữa Chi cục DS-KHHGĐ
thuộc Sở Y tế với các sở ban ngành đoàn thể thành phố, cũng như phối hợp cấp quận-
huyện giữa Phòng Y tế và các ban ngành đoàn thể quận-huyện đặc biệt là phối hợp với

Chính sự tò mò, kích thích bởi những thước phim về tình yêu và sách giáo dục giới tính
đã ảnh hưởng không nhỏ đến chuyện học làm người lớn của VTN/TN. Nếu như không có
cái nhìn đúng đắn và không được giáo dục, định hướng từ trong nhà trường, gia đình, xã
hội, chuyện yêu đương và quan hệ tình dục sớm ở độ tuổi VTN/TN dễ dẫn đến nhiều hệ
lụy xấu. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) VTN/TN là điều vô cùng cần thiết.

Ở tỉnh ta, mô hình chăm sóc SKSS VTN/TN được duy trì từ nhiều năm nay. Năm 2014,
Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) đã hỗ trợ trên 110 triệu đồng thực
hiện mô hình chăm sóc SKSS VTN/TN tại 45 điểm trường THCS và THPT trên toàn tỉnh.
Ngoài ra, 192 xã, phường, thị trấn trong tỉnh đều được cấp kinh phí 192 triệu đồng thực
hiện mô hình. Trưởng phòng Truyền thông, giáo dục Chi cục DS-KHHGĐ - Đoàn Văn
Ngà cho biết, nội dung chủ yếu của mô hình là các hoạt động truyền thông. Thời gian qua,
các trường đều duy trì tổ chức hoạt động sinh hoạt ngoại khóa, hội thi, nói chuyện chuyên
đề về SKSS VTN/TN, tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ
lớp, cán bộ Đoàn, giáo viên. Bên cạnh đó, ngành còn cung cấp số điện thoại Tổng đài tư
vấn DS-SKSS-KHHGĐ, hỗ trợ cho các thư viện trường học những tài liệu về nội dung
SKSS VTN/TN, Một số điểm trường còn thành lập các câu lạc bộ, góc học thân thiện
sinh hoạt định kỳ hằng tháng,

Trường THPT Tân Thạnh là 1 trong 45 điểm trường được hỗ trợ thực hiện mô hình. Từ đầu
năm đến nay, trường tổ chức riêng về tư vấn chăm sóc SKSS VTN/TN cho học sinh (HS)
được 3 lần. Ngoài ra, trường còn tổ chức tuyên truyền lồng ghép vào các buổi sinh hoạt dưới
cờ, những giờ sinh hoạt lớp. Thầy Đoàn Văn Xem, giáo viên dạy môn Sinh của trường cho
biết: “Hiện nay, trong chương trình sách giáo khoa dành cho HS thuộc khối phổ thông về
môn Ngữ văn, Giáo dục công dân, nhất là môn Sinh học đều có lồng ghép nội dung liên
quan đến SKSS để các em nắm bắt. Tại trường có điểm thuận lợi chính là cán bộ làm nhiệm
vụ y tế lại là người phụ trách hậu sản nên những kiến thức về SKSS VTN/TN đều nắm rất
rõ. Vì vậy, những lần tư vấn về SKSS đều thu hút nhiều HS tham gia đặt câu hỏi. Một số em
do tâm lý e ngại có thể viết giấy hoặc trực tiếp gặp cán bộ tư vấn của trường để được giải
đáp những thắc mắc những vấn đề liên quan đến giới tính, chuyện yêu đương, SKSS,

Báo cáo “Làm mẹ khi chưa trưởng thành: Thách thức mang thai ở tuổi vị thành
niên” cho thấy hàng năm thế giới có hơn 7 triệu em gái ở các quốc gia nghèo sinh
con trước 18 tuổi, trong đó khoảng 2 triệu ca là các bà mẹ dưới 14 tuổi. Các bà mẹ
chưa trưởng thành này sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng và kéo dài về
mặt sức khỏe và xã hội do việc mang thai sớm.
THỰC TRẠNG CHUNG VỀ MANG THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN VÀ CÁC
CHƯƠNG TRÌNH/CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH
NIÊN
Mai Xuân Phương[1]
I. THỰC TRẠNG MANG THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
1. Thế giới
Báo cáo “Làm mẹ khi chưa trưởng thành: Thách thức mang thai ở tuổi vị thành niên” cho
thấy hàng năm thế giới có hơn 7 triệu em gái ở các quốc gia nghèo sinh con trước 18 tuổi,
trong đó khoảng 2 triệu ca là các bà mẹ dưới 14 tuổi. Các bà mẹ chưa trưởng thành này sẽ phải
gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng và kéo dài về mặt sức khỏe và xã hội do việc mang
11
thai sớm.
Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) cho biết, mỗi năm có khoảng 16 triệu em gái tuổi 15-19
sinh con; cứ 10 trẻ vị thành niên (VTN) thuộc nhóm này thì 9 đã lập gia đình. Các biến chứng
khi mang thai và khi sinh tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ với các em
gái 15-19 tuổi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Trên toàn cầu, cứ 3 nữ thanh niên
tuổi 20-24 thì có 1 người (khoảng 70 triệu người) kết hôn trước tuổi 18.
2. Việt Nam
Theo thống kê của Trung tâm Tư vấn SKSS-KHHGĐ của Bệnh viện Phụ sản Trung ương,
trong 5 năm 2008-2012, mỗi năm có xấp xỉ 80-100 ca đẻ/nạo, phá thai ở độ tuổi VTN. Tỷ lệ
mang thai VTN trong tổng số ca nạo phá thai ở Bệnh viện này chiếm 1-3%. Tại Bệnh viện Từ
Dũ (TPHCM) cũng trong giai đoạn này, tỉ lệ đẻ/phá thai ở độ tuổi VTN cũng chiếm khoảng
2,2-3,4% tổng số ca đẻ/phá thai ở Bệnh viện. Tuy nhiên, trong 2 năm 2011-2012, tỉ lệ phá thai
VTN ở Bệnh viện Từ Dũ tăng cao đột biến lên 6,8%. Theo các chuyên gia, việc gia tăng này
có thể xuất phát từ 2 lý do: Thực sự là do số ca nạo phá thai tăng lên, hoặc do các em nhận

thống kê chính thức về tình trạng mang thai, tỷ lệ phá thai và sinh con sớm ở tuổi vị thành
niên Những rủi ro thường xảy ra khi sinh con ở tuổi VTN gồm: nguy cơ sinh non, sinh nhẹ
cân, thai lưu và chết sơ sinh cao. Bên cạnh đó, kết hôn sớm cũng khiến các em phải chịu áp
lực trong sinh nở, chăm sóc con cái và gia đình khi chưa đủ trưởng thành.

II. CÁC CHƯƠNG TRÌNH/CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ
THÀNH NIÊN
1. Môi trường pháp lý cho thực hiện các can thiệp

Cho đến nay, có thể nói, Việt Nam đã có một hệ thống các văn bản chính sách thuận lợi cho
việc triển khai các can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu SKSS VTN. Tuy chưa có một Chiến lược
quốc gia, song SKSS VTN đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng (luật, pháp
lệnh, chiến lược) về chăm sóc SKSS hoặc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho VTN.

Tháng 11/2005, Luật Thanh niên được Quốc hội thông qua - một dấu mốc quan trọng cho việc
hoàn thiện các quyền của thanh niên. Đây là văn bản chính thức giúp hoàn thiện môi trường
pháp lý cho các can thiệp SKSS VTN ở Việt Nam. Điều 21 và 22 quy định về chính sách đầu
tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng các cơ sở y tế, cơ sở hoạt động thể dục, thể
thao; phát triển các hoạt động tư vấn về tình yêu, hôn nhân, gia đình, thực hiện kế hoạch hóa
gia đình trong thanh niên; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho thanh niên, tổ chức tư
vấn cho thanh niên về dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần, SKSS, kỹ năng sống, phòng chống ma
túy, HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Tháng 1/2003, Pháp lệnh Dân số được ban hành và sửa đổi vào 8/2008. Pháp lệnh gồm các
giải pháp thực hiện cho từng nhóm đối tượng, giáo dục giới tính, SKSS và kỹ năng sống tại
13
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề và phổ
thông. Tháng 6/2006, Luật Phòng, chống nhiễm HIV/AIDS đã được Quốc hội nước CHXHCN
Việt nam thông qua.


đáp ứng phần nào nhu cầu của VTN. Sự cởi mở về mặt chính sách của nhà nước (chủ trương
xã hội hóa công tác y tế, khuyến khích hành nghề y, dược tư nhân…) đã bước đầu tạo điều
kiện cho sự ra đời các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN do các tổ chức phi chính phủ, các tổ
chức cộng đồng hoặc các cá nhân phụ trách. Chính hệ thống dịch vụ này đã bổ sung cho hoạt
động của các dịch vụ nhà nước và mở ra hướng đi mới cho việc phát triển đa dạng các hình
thức cung ứng dịch vụ linh hoạt, thân thiện cho VTN, thậm chí dành riêng cho những nhóm
đối tượng khác nhau như nam, nữ, học sinh, VTN nghiện chích ma túy, VTN nhiễm HIV.
Trong tương lai, các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN của các tổ chức, cá nhân không thuộc
nhà nước sẽ đóng vai trò quan trọng, giúp việc cung cấp dịch vụ SKSS VTN trở nên đa dạng,
hiệu quả hơn.

Bộ Y tế đã ban hành “Chuẩn quốc gia về dịch vụ SKSS” (2002) và hiện nay đang xây dựng
“Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe thân thiện dành cho VTN&TN”. Đây là đáp ứng
quan trọng tiến tới hoàn thiện về mặt chất lượng, kỹ thuật đối với các dịch vụ SKSS cung cấp
cho VTN. Tháng 8 năm 2006, Bộ Y tế ra quyết định (số 23/2006/QĐ-BYT) chuyển đổi các
Trung tâm chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW
trước đây thành các Trung tâm chăm sóc SKSS, theo đó các trung tâm chăm sóc SKSS
tỉnh/thành phố sẽ có khoa Chăm sóc SKSS vị thành niên và nam học.

3. Cung cấp thông tin – giáo dục - truyền thông

Trong lĩnh vực giáo dục, nối tiếp với chương trình thí điểm giáo dục dân số được thực hiện từ
những năm đầu của thập kỷ 80, từ năm 1998, các nội dung giáo dục SKSS VTN được xác định
cần ưu tiên và đưa vào lồng ghép, tích hợp trong 4 môn học: Sinh học, Địa lý, Giáo dục công
dân, Ngữ văn của chương trình giảng dạy chính khóa. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện phương
thức giáo dục lồng ghép này không cao do thời lượng các môn học chính khóa đã quá tải, giáo
viên thiếu kiến thức và có thái độ e ngại khi nói về các vấn đề SKSS.

Thực tế, giáo dục SKSS VTN lại chứa đựng rất nhiều chủ đề nhạy cảm, tế nhị, học sinh khó có
thể trình bày, trao đổi một cách cụ thể trong môi trường lớp học, trước mặt thầy cô và bạn bè

Thách thức quan trọng đối với Chính phủ hiện nay là ưu tiên về SKSS VTN chỉ là một trong
rất nhiều ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo. Mặc dù ngân sách nhà
nước chi cho các hoạt động y tế, giáo dục năm sau đều cao hơn so với năm trước song thực
chất còn rất eo hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Việc thực hiện các cam kết về mặt
tài chính cho các can thiệp về SKSS VTN từ trước đến nay gặp nhiều khó khăn.

Trong ngân sách nhà nước dành cho ngành y tế, chỉ 10 tỷ VNĐ (ngân sách Bộ Y tế) được dành
cho hoạt động chăm SKSS năm 2006. Dự án chăm sóc SKSS hiện mới được trình Thủ tướng
Chính Phủ phê duyệt để đưa vào chương trình mục tiêu y tế quốc gia triển khai thực hiện từ
16
năm 2008 với một con số ngân sách khiêm tốn 100 tỷ VNĐ/năm (ngân sách Bộ Y tế: 20 tỷ,
ngân sách địa phương: 80 tỷ). Tương tự, dự án y tế học đường có thể bao gồm cả nội dung
chăm sóc SKSS VTN trong trường học cũng được dự toán chi 50 tỷ VNĐ/năm (ngân sách Bộ
Y tế: 10 tỷ, ngân sách địa phương: 40 tỷ). Kế hoạch tổng thể chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức
khỏe cho VTN&TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 trong đó bao quát hết các nội dung SKSS
VTN, ước tính một ngân sách khiêm tốn là 100 tỷ VNĐ (khoảng 6,3 triệu USD) cho việc triển
khai thực hiện song cũng vẫn chỉ là ngân sách dự kiến huy động từ nhiều nguồn và đến nay
vẫn chưa có một cam kết cụ thể nào.

Những năm gần đây, một số địa phương đã nhận được viện trợ để triển khai các can thiệp
SKSS VTN (các tỉnh/thành phố có chương trình hỗ trợ của UNFPA hoặc RHIYA
EC/UNFPA), khi kết thức chu kỳ viện trợ, việc duy trì các can thiệp có nguy cơ không thực
hiện được do địa phương không huy động được ngân sách. Mặc dù lãnh đạo chính quyền của
các địa phương này đã có cam kết ủng hộ mạnh mẽ nhưng không thể chắc chắn có được cam
kết về tài chính.

5. Thực hiện điều phối, tổ chức

Để thực hiện Chiến lược chăm SKSS, trong đó có mục tiêu chăm sóc SKSS VTN do Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, Ban chỉ đạo đã được thành lập gồm Bộ Y tế, Bộ Văn hóa, Thể


b. Đa dạng và mở rộng các dịch vụ SKSS VTN

Các dịch vụ SKSS VTN thiết yếu nên được cung cấp bao gồm: thông tin, tư vấn và dịch vụ về
các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, dinh dưỡng, vệ sinh kinh
nguyệt, nạo thai an toàn; thông tin, giáo dục và tư vấn về HIV/AIDS, tiếp cận với các phương
tiện phòng tránh như bao cao su, bơm kim tiêm sạch, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, chẩn
đoán sớm và điều trị điều trị HIV/AIDS bao gồm cả tiếp cận thuốc ARV.

Kinh nghiệm có được từ việc thực hiện các can thiệp SKSS VTN ở Việt Nam cũng như nhiều
quốc gia khác cho thấy các dịch vụ SKSS VTN không thể chỉ được cung cấp ở tuyến Trung
ương cũng như chỉ ở các cơ sở y tế công lập. Đa dạng hóa và mở rộng mạng lưới cung cấp
dịch vụ SKSS VTN, đặc biệt là các dịch vụ thân thiện là hết sức cần thiết để có thể đáp ứng
ngày một tốt hơn các nhu cầu SKSS của VTN&TN. Cụ thể, cần đưa dịch vụ SKSS VTN
xuống các cơ sở y tế thuộc tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu (trạm y tế xã/phường, các trung
tâm y tế quận/huyện) hoặc các cơ sở trực thuộc các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội dân sự
địa phương. Cần huy động các tổ chức y tế tư nhân, tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phi
18
chính phủ Việt Nam, tổ chức cộng đồng… tham gia cung cấp dịch vụ SKSS VTN có chất
lượng.

Thông tin và các dịch vụ SKSS VTN được cung cấp qua nhiều mô hình can thiệp đa dạng và
có sự lồng ghép với nhau. Các mô hình can thiệp đó có thể là: Lồng ghép giáo dục SKSS VTN
với các môn học chính khóa trong nhà trường; Giáo dục SKSS VTN thông qua các hoạt động
ngoại khóa; Các chương trình truyền thông trên phương tiện thông tin đại chúng; Trung tâm tư
vấn SKSS cho VTN&TN; Góc dịch vụ thân thiện; Góc tư vấn thân thiện; Tư vấn qua điện
thoại, internet; Giáo dục đồng đẳng, truyền thông nhóm nhỏ; Câu lạc bộ VTN&TN; Điểm vui
chơi, giải trí có cung cấp dịch vụ SKSS VTN; Góc cung cấp thông tin, dịch vụ tại các điểm
bưu điện, nhà văn hóa xã/phường; Các nhóm sân khấu - kịch; Lồng ghép tuyên truyền SKSS
VTN trong các lễ hội truyền thống, giao lưu văn hóa, văn nghệ của đồng bào dân tộc; Nhà

của các nhóm đối tượng đích (nhóm 10-14 tuổi, 15-19 tuổi, 20-24 tuổi; nhóm nam, nữ; nhóm
sống ở thành thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi; nhóm yếu thế, nhóm có hoàn cảnh đặc
biệt, nhóm người dân tộc…).
9. Mở rộng phạm vi và vùng can thiệp
Khả năng mở rộng phạm vi cung cấp các dịch vụ SKSS VTN về mặt địa lý ở nước ta cần được
xem xét dựa trên trình độ phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng cơ sở hạ tầng và mức độ cam
kết về tài chính của chính quyền các địa phương. Việc mở rộng phạm vi địa lý cho các can
thiệp SKSS VTN cần có chiến lược và được chia thành nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu
(khoảng 5-7 năm trước mắt), các dịch vụ SKSS VTN nên được triển khai ở vào các vùng đô
thị (thành phố, thị xã) và một vài vùng nông thôn phát triển. Đối với các vùng đô thị, nên đẩy
mạnh xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ. Các hỗ trợ ban đầu có thể được huy động, sau đó tính
bền vững phải được đảm bảo thông qua cơ chế lấy thu bù chi. Đối với các vùng nông thôn,
ngân sách bao cấp nên được tăng cường để giảm các phí dịch vụ, thu hút khách hàng
VTN&TN. Giai đoạn 2, các nguồn lực hỗ trợ lúc này cần dồn vào để nhân rộng các mô hình
cung cấp dịch vụ SKSS VTN cho các vùng nông thôn kém phát triển và tiến dần đến vùng
nông thôn miền núi, vùng sâu, xa, khó khăn.

Ngay trong giai đoạn đầu, các vùng có những vấn đề SKSS VTN nổi cộm hoặc các vùng công
nghiệp mới ở Đông Bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) và Đông Nam bộ (thành phố Hồ
Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu) nên được tập trung ưu tiên.

Việc mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ SKSS VTN cần phải tính toán đến các yếu tố: mức
20
biến động tự nhiên dân số; mức độ tập trung dân cư; mức độ di biến động của nhóm dân số
VTN&TN giữa các vùng, tỉnh/thành phố.

10. Cơ chế quản lý, điều phối và lồng ghép

Chương trình, can thiệp SKSS VTN cần phải sự điều phối liên ngành, với sự phối kết hợp hợp
lý giữa các cơ quan chính phủ như Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT, các cơ quan thông tin đại chúng và

dựng năng lực đòi hỏi cả nguồn lực con người lẫn tài chính đáng kể. Trong hệ thống Chính
phủ, những năng lực cần được tăng cường cho các ban, ngành, đoàn thể tuyến Trung ương
gồm: năng lực lập kế hoạch, điều phối, giám sát; ở cấp địa phương là năng lực thực hiện một
chương trình SKSS VTN toàn diện. Các đối tác trong cộng đồng như các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức cộng đồng hiện đang rất cần được nâng cao năng lực để triển khai các can
thiệp hay cung cấp các dịch vụ SKSS hiệu quả cho VTN&TN. Chính vì vậy, một đánh giá về
năng lực của các đối tác tham gia thực hiện chương trình cần phải được thực hiện. Đây là bước
đầu tiên trong quá trình triển khai nhân rộng các can thiệp SKSS VTN. Nó giúp xác định các
nhu cầu xây dựng năng lực, hỗ trợ kỹ thuật thiết yếu nhất cần được ưu tiên. Việc xây dựng
năng lực được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn; phát triển các hướng
dẫn, các tiêu chuẩn về dịch vụ SKSS VTN và chính trong quá trình triển khai các can thiệp
SKSS VTN trong thực tế.

12. Hỗ trợ kỹ thuật và huy động tài chính

Hỗ trợ kỹ thuật đầy đủ và hiệu quả cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN là nhu cầu
quan trọng trong điều kiện của nước ta. Cần thành lập các nhóm chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật
gồm các chuyên gia thuộc lĩnh vực SKSS, y tế cộng đồng, truyền thông, khoa học xã hội, tâm
lý và các chuyên gia có kinh nghiệm về SKSS VTN của các tổ chức quốc tế và trong nước.
Huy động sự giúp đỡ về mặt chuyên môn, kỹ thuật của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ
quốc tế.

Chiến lược huy động tài chính cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN nên áp dụng nhiều
giải pháp khác nhau và dựa vào nhiều nguồn khác nhau như:
1. Ngân sách nhà nước và địa phương;
2. Viện trợ quốc tế;
3. Quỹ nhân đạo;
4. Quỹ cộng đồng và bảo hiểm;
5. Đóng góp của cá nhân.
22

pháp nào ngăn chặn hữu hiệu, tôi xin đưa ra đề tài: “TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH –
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN QUA BỘ MÔN SINH HỌC Ở TRƯỜNG THPT”
II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận Hiểu một cách đầy đủ, vấn đề giáo dục giới tính bao
gồm rất nhiều nội dung, như sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, sự phát triển giới
tính, tình cảm Để có được những kết quả khả quan, các chương trình giáo dục giới tính phải
được nghiên cứu kỹ lưỡng, diễn ra trong quá trình lâu dài và đây vẫn là vấn đề rất nhạy cảm,
tồn tại những quan điểm khác, trái ngược nhau. Một số ý kiến cho rằng, nếu cung cấp cho học
sinh những thông tin và giúp chúng phòng ngừa thai cũng như các bệnh lây truyền qua đường
tình dục sẽ đẩy các học sinh này vào hoạt động tình dục sớm và bừa bãi. Nhiều ý kiến khác
"tẩy chay" việc đưa giáo dục giới tính vào trường học, coi giáo dục giới tính là "con dao hai
23
lưỡi". Trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện nay thì sự hiểu biết cơ bản về giới tính của
mỗi người có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là kiến thức không thể thiếu để mỗi
2. người tự bảo vệ sức khỏe của mình và của cộng đồng; biết quan hệ, ứng xử với người
khác phù hợp với chuẩn mực giới tính và đạo đức xã hội, đồng thời biết bảo vệ hạnh phúc gia
đình, duy trì nòi giống, phòng chống các bệnh xã hội… Theo tổ chức y tế thế giới (WHO),
tuổi vị thành niên là giai đoạn từ 10 – 19 tuổi, nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến
lúc trưởng thành. Ở nước ta có 50% dân số dưới 20 tuổi, trong đó 20% có độ tuổi từ 10-19, tức
là khoảng 15 triệu người thuộc lứa tuổi vị thành niên. (Giáo dục dân số – sức khỏe sinh sản vị
thành niên – Bộ giáo dục và đào tạo – ủy ban dân số, gia đình và trẻ em – Hà Nội – 2005,
tr.37) Theo bộ y tế, tình hình nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên trong những năm gần đây có
chiều hướng gia tăng. Mỗi năm có khoảng 1,2-,1,4 triệu trường hợp nạo phá thai, chiếm 20-
25%. (Giáo dục dân số – sức khỏe sinh sản vị thành niên – Bộ giáo dục và đào tạo – ủy ban
dân số, gia đình và trẻ em – Hà Nội – 2005, tr.34). Tại Trung tâm Kế hoạch hóa gia đình
TPHCM, mỗi ngày có hàng chục ca đến làm thủ tục khám và xin bỏ thai. Theo thống kê, số
lượng thai phụ dưới 18 tuổi đến phá thai trung bình một năm khoảng 911 ca. So với những
năm 1990, từ năm 2001 trở đi số trẻ vị thành niên đến phá thai ở đây đã tăng gấp 3 lần. (Báo
Người lao động 2003). Bên cạnh đó, việc mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục tăng
lên nhanh chóng ở thanh thiếu niên. Theo ủy ban quốc gia phòng chống AIDS, tỉ lệ người
nhiễm HIV ở lứa tuổi 20-29 đã tăng từ 15% năm 1993 lên 62% vào cuối năm 2002 và số

1,15-1,25mm) chứa nhiều chất tế bào. - Tới tuổi dậy thì, buồng trứng chứa khoảng 40.000 tế
bào trứng nhưng trong cuộc đời người phụ nữ chỉ có khoảng 400 trứng đạt tuổi trưởng thành. -
Trứng bắt đầu rụng từ tuổi dậy thì được phễu dẫn trứng tiếp nhận đưa vào ống dẫn trứng (vòi
trứng). - Tế bào trứng sau khi rụng chỉ có khả năng thụ tinh trong một ngày nếu gặp được tinh
trùng. c. Thụ tinh và thụ thai Sự thụ tinh - Trứng rụng được phễu dẫn trứng tiếp nhận, đưa vào
ống dẫn trứng và di chuyển về phía tử cung. Nếu trứng gặp được tinh trùng, sẽ xảy ra sự thụ
tinh để tạo thành hợp tử. - Hợp tử di chuyển xuống tử cung làm tổ, khi đến tử cung sẽ bám vào
lớp niêm mạc tử cung đã được chuẩn bị sẵn (dày xốp và xung huyết) để làm tổ và phát triển
thành thai. Đó là sự thụ thai. d. Hiện tượng kinh nguyệt - Cùng với sự phát triển của trứng,
hoocmon từ buồng trứng tiết ra có tác dụng làm cho lớp niêm mạc tử cung dày, xốp, chứa
nhiều mạch máu để đón trứng thụ tinh xuống làm tổ. Nếu trứng không được thụ tinh thì sau 14
ngày kể từ khi trứng rụng, lớp niêm mạc bị bong ra từng mảng, thoát ra ngoài cùng với máu và
dịch nhày. Đó là hiện tượng kinh nguyệt. - Hiện tượng kinh nguyệt xảy ra theo chu kỳ hàng
tháng (28-32 ngày) thời gian có kinh thường kéo dài khoảng 5 ngày. Thời gian có kinh và
lượng máu xuất ra tùy thuộc vào từng cá nhân.
6. - Trong thời gian hành kinh thường có những biến đổi về tâm sinh lý như mệt mỏi, rối
loạn cảm xúc… - Chế độ ăn, uống tình trạng sức khỏe lối sống,…có ảnh hưởng đến chu kỳ
kinh nguyệt (kinh nguyệt không đều hoặc tắt kinh), do đó ảnh hưởng đến sức khỏe và chức
năng sinh sản. e. Hiện tượng rụng trứng Là hiện tượng xảy ra ở cơ thể người phụ nữ, mỗi
tháng cơ thể đều sản sinh ra một số lượng trứng nhất định. Hiện tượng rụng trứng xảy ra vào
giữa chu kỳ kinh nguyệt, tức là khoảng ngày 14 của chu kỳ. Mỗi nang buồng trứng sẽ sản sinh
ra 1 trứng trong một tháng và lượng trứng này sẽ được rụng vào ống dẫn trứng tới tử cung. Tại
đây, nếu tinh trùng gặp được trứng thì sẽ dẫn đến hiện tượng thụ thai. Có thể xác định được
ngày rụng trứng nhờ việc theo dõi vòng kinh của cơ thể, ngoài ra, có thể dựa vào sự bài tiết
của tử cung để biết được điều này. Thông thường, sau kỳ kinh nguyệt, sẽ có cảm giác khô ráo
hoàn toàn ở nơi âm đạo. Tiếp sau đó, khi cơ thể gần đến giai đoạn bắt đầu rụng trứng, sẽ thấy
xuất hiện dịch nhờn, màu trắng đục. Mức độ chất nhờn tăng nhiều và dịch đặc hơn bình
thường giống như lòng trắng trứng khi đến đúng thời điểm rụng trứng. Theo nghiên cứu, một
trứng ở cơ thể người phụ nữ có thể tồn tại trong vòng 12 đến 24 giờ sau khi rụng. Còn tuổi thọ
của trùng thì lớn hơn nhiều so với trứng, nó có thể tồn tại từ 5 đến 7 ngày trong tử cung của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status