LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG MÔN NGỮ VĂN - Pdf 28

Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
TRONG MÔN NGỮ VĂN
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những yêu cầu của nhà trường về việc thực hiện chương trình
thay sách mới là giáo viên (GV) phải có đồ dùng dạy học (ĐDDH) và sử dụng
ĐDDH trong tiết dạy. Yêu cầu này, chính là cụ thể hoá yêu cầu của Bộ đối với
tất cả giáo viên đứng lớp. Trong yêu cầu đó, Bộ nhấn mạnh giáo viên phải :
“Thực sự coi trọng phương tiện dạy học với tư cách là công cụ nhận thức một
phận hữu cơ của phương pháp dạy học và nội dung học tập”.
(1)
Để đáp ứng yêu
cầu của nhà trường, của Bộ, mỗi giáo viên phải làm gì khi ĐDDH từ trên cấp
xuống cho trường còn quá ít? Nhất là đối với môn ngữ văn. Như vậy chỉ còn một
cách là mỗi giáo viên phải tự làm DDDH. Nhưng làm ĐDDH như thế nào để bất
cứ giáo viên nào cũng làm được và sử dụng có hiệu quả? Đó là điều đặt ra cho
tôi những trăn trở để viết nên đề tài này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
I. CÁCH LÀM ĐDDH
1. Chuẩn bò :
a. Vật dụng :
- Giấy rô –ki
- Bút lông đen (hoặc xanh đậm) và đỏ loại to
- Keo con voi loại thường.
- Các miếng dán xé (gồm 2 miếng : Gọi A là miếng ni – lông xơ cứng, B
là miếng ni – lông tơi mềm. Khi cần ta dán B vào A hoặc xé B ra khỏi A)
- Thước, bút chì đen, kéo.
- Ống nhựa để nẹp tờ rô – ki.
b. Nội dung kiến thức và phương pháp truyền thụ :
* Phần văn học :

keo con voi, xòt nhẹ và nhanh
(3)
vào mặt sau của mẩu dán xé B (2 mẩu) òn nhanh
vào 2 vò trí cân xứng ở mặt sau của miếng rô – ki nhỏ, để 2 mẩu dán xé này dính
chặt vào mặt sau của miếng rô – ki nhỏ. Dùng kim đâm từ tâm của 2 miếng dán
xé B xuống 2 vò trí của tờ rô – ki lớn. Ở 2 vò trí xác đònh này òn nhanh 2 miếng
dán xé A (đã bôi keo) cho dính chặt vào bề mặt tờ rô – ki lớn.
* Kế nữa, ta dùng bút chì đánh dấu ngang, dọc trên tờ rô – ki lớn để dễ dán
mảnh rô – ki nhỏ có hai mảnh dán xé B ở mặt sau khớp với vò trí của hai miếng
dán xé A ở bề mặt tờ rô – ki lớn.
* Cuối cùng dùng bút lông xanh đóng khung chu vi tờ rô – ki lớn, xếp mép tờ
rô- ki này (1 cm) rồi đút ống nhựa vào vừa để làm nẹp, vừa để treo ĐDDH lên.
- Trong quá trình giảng, dẫn dắt để hình thành kiến thức, từng bước giáo
viên dán kiến thức ở mảnh rô – ki nhỏ vào vò trí của tờ rô – ki lớn có mẫu câu,
mẫu đoạn tương ứng. Nếu dạy nhiều lớp cùng khối thì dạy ở lớp này xong, xé
các mảnh rô ki nhỏ ra khỏi tờrô ki lớn, đến lớp khác tiếp tục thao tác dán chúng
vào tờ rô ki lớn trong quá trình giảng.
Nếu hình thành kiến thức cần có nhiều mẫu câu thì cắt thêm những mảnh
rô – ki nhỏ, ghi mẫu câu, mẫu đoạn cần thiết vào đó ( phía sau của các mảnh rô
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
– ki này cũng như trên bề mặt của tờ rô ki lớn phải có đôi miếng dán xé A, B
được dán ở những vò trí đã xác đònh). Sau khi mẫu câu trên đã phân tích xong thì
lần lượt dán mẫu câu, mẫu đoạn khác vào. Cần hạn chế viết mẫu câu hàng loạt
sẽ làm HS mất tập trung vào mẫu câu, mẫu đoạn mà ta phân tích.
II. CÔNG DỤNG :
Đồ dùng dạy học làm theo cách này có những ưu điểm sau :
- Dễ làm và dễ sử dụng : Chỉ cần mỗi giáo viên thực sự có trách nhiệm với

1.Phần văn học :
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
a. Vai trò của ĐDDH trong tiết dạy và học phần văn học :
Như ta đã biết, một tác phẩm văn học thường mang nghóa hàm ẩn ; nếu GV
chỉ diễn giảng thao thao bằng lời thì HS trung bình, HS yếu sẽ khó tiếp thu kòp,
khó cùng học sinh khá, giỏi đồng bộ tham gia xây dựng bài học được. Và từ đó
dẫn đến thái độ nhàm chán, nảy sinh tư tưởng thụ động trong các tiết học văn,
dẫn đến hậu quả HS trung bình không khá lên được và HS yếu lại càng yếu. Do
vậy bên cạnh giảng bằng lời, GV cần làm ĐDDH và sử dụng ĐDDH cho HS
được thấy. Cùng một lúc ta huy động vừa thò giác và thính giác sẽ kích thích sự
hưng phấn, gợi mở tư duy cho 3 đối tượng HS, giúp HS động não, chủ động phát
biểu xây dựng bài giúp cho thầy hoàn thành tốt bài dạy, giúp tiết học văn sôi nổi,
thú vò hơn. Như vậu có thể nói ĐDDH có vai trò hỗ trợ, tiếp sức hữu hiệu cho
thầy và trò trong dạy và học văn.
b. Minh họa cách sử dụng ĐDDH :
Trong tác phẩm “ Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu, điều tôi ấn tượng nhất
là bức chân dung tự họa . Để hình thành nội dung kiến thức này, tôi đã sử dụng
ĐDDH làm theo cách trên . Đây là các thao tác giúp học sinh hiểu : “ Bức chân
dung tự họa” qua ĐDDH đó :
- Trước hết cho HS xác đònh hai đoạn văn thể hiện bức chân dung.
- Yêu cầu HS tự so sánh 2 bức chân dung đó : phát biểu xác đònh được
đoạn cuối truyện là : “ bức chân dung hoàn chỉnh cho lương tâm người
hoạ só” sau nhiều tháng đấu tranh.
- Dùng hệ thống câu hỏi để HS phát biểu các chi tiết có trên bức chân
dung tự họa
- Giáo viên cùng lớp trao đổi thống nhất đáp án.
- Giáo viên treo tờ rô – ki lớn có ghi các chi tiết đó trên bảng vừa để

như một khu rừng.
2. Một nửa mái đầu tóc đã cắt 2a
(5)
2b
(5)

như một phần bộ óc màu
xám bò mổ phanh ra.
3. Không trông rõ miệng, chỉ 3a
(5)
3b
(5)

thấy một vật đen lờ mờ nổi
bồng bềnh trên những đám
bọt xà phòng.
4. Luồng ánh sáng hàng nghìn 4a
(5)
4b
(5)

nến chiếu từ trước và trên đầu
xuống.
5. Đôi mắt mở to, nghiêm khắc 5a
(5)
5b
(5)

đang nhìn vào nội tâm.
Sáng kiến kinh nghiệm

(6)
vào vò trí 4a
dán mảnh rô – ki :
(6)
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
6
Lời chú giải
Không ai biết câu chuyện
giữa người hoạ só và người
chiến só
Một phần sự thật ở người
hoạ só, người chiến só năm
xưa biết rõ
Sự nhận thức chưa rõ ràng,
chưa dứt khoát của người
họa só.
Thái độ độ lượng,bao
dung của người chiến só
Người hoạ só đã nhận ra
lỗi của mình đối với người
chiến só
Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
vào vò trí 5a
Như vậy mô hình trên bảng theo tờ rô – ki lớn sẽ là :
Lời chú giải cho các chi tiết trên bức chân dung tự hoạ có ý nghóa gì? GV dán
mảnh rô – ki :

(6)
vào vò trí I (B)

đầu xuống
5. Đôi mắt mở to, nghiêm 5a
(5)
5b
(5)
khắc đang nhìn vào nội
tâm
Lời chú giải
Không ai biết câu chuyện
giữa người hoạ só và người
chiến só
Một phần sự thật ở người
hoạ só, người chiến só năm
xưa biết rõ
Sự nhận thức chưa rõ ràng,
chưa dứt khoát của người
hoạ só
Thái độ độ lượng, bao
dung của người chiến só
Người họa só đã nhận ra
lỗi của mình đối với người
chiến só
Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
Sau đó, GV dán các đáp án :

(6)
vào vò trí 1b
(6)
vào vò trí 2b

xám bò mổ phanh ra.
3. Không trông rõ miệng, chỉ 3a 3b
thấy một vệt đen lờ mờ nổi
bồng bềnh trên những đám
bọt xà phòng.
4.Luồng ánh sáng hàng nghìn 4a
nến chiếu từ trước và trên
đầu xuống.
5. Đôi mắt mở to, nghiêm 5a

5b
khắc đang nhìn vào nội
tâm.
Lời chú giải
Ý nghóa
Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
Từ các ý nghóa đó, hãy cho biết tác giả nghó gì về thế giới bên trong của
con người? HS trả lời, lớp bổ sung – GV chốt lại và ghi bảng :
- Thế giới bên trong của con người có nhiều mảng khuất lấp, bí ẩn không
phải ai cũng nhận ra được.
Giảng hình cho HS hiểu : Bức chân dung tự hoạ gương mặt bên trong của
người hoạ só có thể coi như biểu tượng chung cho thế giới bên trong của mỗi
người.
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
9
Không ai biết câu chuyện
giữa người hoạ só và
người chiến só.
Một phần sự thật ở người

thân mình. Nếu không có ĐDDH trên thì việc hình thành kiến thức sẽ trở nên mù
mờ như : “ cưỡi ngựa xem hoa” hoặc khá hơn là nắm được ý nghóa của các chi
tiết trên bức chân dung một cách rời rạc, máy móc và câu chuyện tự thú với
lương tâm trở nên thừa thãi.
2. Phần từ ngữ :
a. Vai trò của ĐDDH trong tiết dạy và học phần từ ngữ :
Đồ dùng dạy học trong từ ngữ, ngữ pháp không những có vai trò hỗ trợ, tiếp
sức cho thầy, trò hoàn thành tốt bài dạy bằng phương pháp giao tiếp hoá trong
giảng dạy
(7)
như văn học mà còn có vai trò đặt nền móng cơ bản cho phương
pháp quy nạp của giáo viên, tạo điều kiện cho HS tiếp thu nhanh kiến thức, có
thời gian luyện tập thực hành nhiều. Có thể nói ĐDDH trong tiết dạy – học từ
ngữ, ngữ pháp là một công cụ không thể thiếu đối với giáo viên.
b. Minh hoạ cách sử dụng ĐDDH trong tiết từ ngữ :
Ở phần Tiếng Việt, các khái niệm về từ ngữ, ngữ pháp là trừu tượng, khó
hiểu. Nhưng nếu GV biết cách làm ĐDDH như trên và chỉ ra qua ĐDDH đó để
cụ thể cho những khái niệm thì sự tiếp thu của học sinh sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Tôi xin trình bày cách sử dụng ĐDDH trong một phần tiết dạy từ ngữ để chứng
minh.
Để hình thành khái niệm hoán dụ, ta cần các thao tác sau :
- Đầu tiên, ta phân chia tờ rô – ki lớn ( nguyên) thành 2 phần : phần viết ví
dụ, phần để dán lời diễn giải.
- Ở phần ví dụ, ta viết trực tiếp mẫu câu :
“ Áo nâu liền vối áo xanh
Nông thôn cùng với thò thành đứng lên”
Tiếp đó ta dán các miếng dán xé A vào các vò trí 2, 1a, 2a, để chúng dính
chặt vào bề mặt tờ rô ki lớn theo thiết kế dọc sau : ( đã làm trước ở nhà)

Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn

Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè.

Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
Vào vò trí 2a
Như vậy trên bảng theo tờ rô – ki lớn sẽ là :
Giảng :
- “Nông dân, công nhân” là những danh từ chỉ người dựa trên những đặc
điểm, tính chất chung mà hình thành nên gọi là khái niệm.
- Trong hai cụm từ : “ Người sống ở nông thôn” và “người sống ở thò
thành” thì từ nào là chính? Những từ như vậy các nhà ngôn ngữ khái quát thành
từ ngữ chỉ sự vật ( những từ chỉ đồ vật, thực vật, thú vật cũng gọi chung là những
từ chỉ sự vật).
- Cụm từ : “ Xảy ra chiến tranh” là một trong những sự việc diễn ra mà
người ta có thể nhận thấy. Những từ ngữ như vậy gọi là hiện tượng.
Từ đó, qua những từ ngữ gạch chân ở ví dụ 1 và 2, yêu cầu HS xác đònh từ
ngữ chỉ khái niệm, sự vật và hiện tượng.
* Trong 2 ví dụ trên, nhà thơ Tố Hữu có gọi đúng sự vật, khái niệm, hiện
tượng vốn có của nó không? Mà gọi như thế nào?
( Gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên sự vật, hiện tượng, khái
niệm khác)
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
12
Ví dụ Diễn giải
1. Áo nâu liền với aó xanh 1a
Nông thôn cùng với thò thành đứng lên .
(Tố Hữu)
2. 2a

trước. Như vậy có ĐDDH, hiệu quả dạy và học sẽ cao hơn mà không mất nhiều
thời gian và công sức. Hơn nữa có ĐDDH, lớp sẽ sinh động hơn, hoạt động giữa
thầy và trò sẽ đồng bộ, nhòp nhàng, đặc biệt là HS có nhiều thời gian luyện tập
thực hành. Và do vậy, HS sẽ hiểu và thuộc bài ngay tại lớp.
IV. KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC KHI CÓ VÀ BIẾT SỬ DỤNG ĐDDH :
1. Đối với GV :
- Đảm bảo truyền thụ có hệ thống các kiến thức của bài học một cách chất
lượng đúng thời gian quy đònh.
- Thu hút HS, thu hút người dự.
- Được đánh giá cao trong những tiết thao giảng.
- GV trong tổ đạt được nhiều tiết khá giỏi : 17/20 tiết
Giỏi : 7/20 tiết ; Khá 10/20 tiết
( Trong khi đó ở năm học 2003 – 2004 : Giỏi là 3/20; Khá 7/20 tiết)
- Bản thân tôi đạt 2 tiết giỏi ở kỳ thi GV giỏi tỉnh vừa qua.
2. Đối với HS :
- HS tập trung chú ý tham gia phát biểu xây dựng bài tốt.
- HS có nhiều thời gian luyện tập, thực hành, hoạt động nhóm.
- Đặc biệt thu hút được đồng thời 3 đối tượng học sinh.
- Chất lượng học văn tăng lên :
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
13
Sáng kiến kinh nghiệm
Lung Thò Bích Nga
+ Năm học 2003 – 2004 có 190 HS
. 1 giỏi huyện
. 3 giỏi trường , 30 khá
+ Năm học 2004 – 2005 có : 245 HS
. 3 giỏi huyện
. 8 giỏi trường ; 50 khá (5 dân tộc thiểu số)
. HS dân tộc thiểu số học khá văn ngày càng tăng, không còn HS học kém

liệu “ Chương trình trung học cơ sở môn ngữ văn”
(5) Không cần ghi trên tờ rô ki trong thực tế vì đây là những số liệu để dễ
diễn
giải trong đề tài này.
(6) Đã làm trước ở nhà
- Ở mặt sau các mảnh rô ki nhỏ này, từng mảnh đã có đôi miếng dán xé B
dính chặt vào hai vò trí xác đònh.
(7) Giao tiếp hoá trong giảng dạy : Chuyển quá trình trình bày của GV thành
những cuộc đàm thoại dài ngắn khác nhau giữa giáo viên và HS; giữa HS
với nhau.
(8) Chưa cần đóng khung ở phần dưới, vì từ phần này trở xuống còn sử dụng
tiếp để hình thành “các kiểu hoán dụ” cho HS
Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status