ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ DIỆU HÀ TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI
VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM BỘ
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62 22 34 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Trường ĐH KHXH & NV TP. Hồ Chí Minh
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nam Bộ là vùng đất mới của Tổ quốc. Tuy mới chỉ được
khai phá hơn ba thế kỷ, chưa có bề dầy thời gian như các vùng đất
trung du Bắc Bộ hay vùng đất ven sông Hồng, sông Mã, nhưng với
đặc điểm tự nhiên, con người, lịch sử , Nam Bộ có truyền thống lịch
sử, văn hóa riêng trên nền thống nhất của lịch sử, văn hóa dân tộc.
Những cái tên như Gia Định, Đồng Nai, Rạch Gầm, Xoài Mút, Nhật
Tảo, “Hào khí Đồng Nai”, “Nam Kỳ lục tỉnh”, v.v đâu chỉ là địa
danh, tên gọi bình thường, đó là mồ hôi, nước mắt, xương máu của
cha ông ta trong hành trình “mang gươm đi mở cõi”, tiến về phương
Nam khai khẩn, mở đất và giữ đất, viết tiếp những trang sử rạng ngời
của một thời “khổ nhục nhưng vĩ đại” (chữ dùng của Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Theo đó, trên tiến trình lịch sử Nam
Bộ từ buổi đầu hình thành đến cuối thế kỷ XIX đã nổi lên tên tuổi
các nhân vật là những người có những đóng góp lớn lao đối với cộng
đồng xã hội. Để lưu danh họ, bên cạnh những bộ sử biên niên, còn có
một dòng chảy lịch sử khác của nhận thức và tình cảm nhân dân, đó
là những truyện kể dân gian được sáng tác và lưu truyền qua bao thế
hệ. Đây là hiện tượng văn học dân gian, văn hóa dân gian có giá trị, ý
nghĩa to lớn, phản ánh sự nhận thức, tình cảm về lịch sử bằng cảm
quan nghệ thuật dân gian của người dân Nam Bộ nói riêng, cả nước
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
chuyên biệt nào về đề tài của luận án - một đề tài phong phú, phức
tạp, hấp dẫn cần nhiều công trình tiếp tục mở rộng, đào sâu.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ
từ cuối thế kỷ XIX là đối tượng nghiên cứu chính của luận án. Các
phương diện lịch sử, đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng cư dân
Nam Bộ trong mối quan hệ với thể loại truyền thuyết và giai thoại
cũng được xem là đối tượng nghiên cứu hữu quan.
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu văn bản trong các
công trình sưu tập, biên soạn truyện dân gian và mở rộng ở các công
trình lịch sử, địa chí triều Nguyễn, công trình biên khảo, nghiên cứu
lịch sử, văn hóa Nam Bộ có ghi chép truyện kể đã được hệ thống
hóa. Các truyện kể cùng nội dung, chủ đề trong truyện kể dân gian
các vùng miền khác, tùy theo mục đích từng phần của nội dung luận
án, được dùng để so sánh, liên hệ, để làm nổi bật đối tượng nghiên
cứu.
4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở lý thuyết thể loại, xác lập các tiêu chí chọn lọc tư
liệu, luận án hệ thống hóa các văn bản, các nhóm truyền thuyết và
giai tho
ại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về
trước. Đồng thời, luận án phác họa diện mạo, phân tích đặc trưng
nghệ thuật, ý nghĩa và giá trị các truyền thuyết và giai thoại này
trong hệ thống truyện dân gian Nam Bộ nói riêng, truyện dân gian
3
Việt Nam nói chung; bước đầu xác lập mối quan hệ tương tác thể
loại giữa truyền thuyết và giai thoại, sự vận động của các thể loại này
trong sự phát triển của chúng ở thời cận đại.
nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội và sự hình thành, phát triển của hệ
thống truyện dân gian Nam Bộ.
4
- Kết quả nghiên cứu và nguồn truyện sưu tầm của luận án
góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa, lịch sử địa phương, đồng
thời, góp phần lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể của
Nam Bộ.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, luận án có 5 chương:
Chương 1: Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch
sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước từ góc nhìn thể loại và từ
đặc điểm tư liệu. hệ thống truyện
Chương 2: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là
những nhân vật tiền hiền khai khẩn mở đất từ cuối thế kỷ XIX trở về
trước
Chương 3: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là
những người anh hùng chiến đấu chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ
XIX trở về trước
Chương 4: Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh
Chương 5: Giai thoại về danh nhân, danh sĩ Nam Bộ từ cuối
thế kỷ XIX trở về trước.
CHƯƠNG 1
TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN VẬT
LỊCH SỬ NAM BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI VÀ TỪ ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU, HỆ
THỐNG TRUYỆN
1.1. TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN
VẬT LỊCH SỬ NAM BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ
TRƯỚC TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
thoại thành các tiểu loại: giai thoại văn học, giai thoại lịch sử và giai
thoại folklore, theo cách phân loại của tác giả Vũ Ngọc Khánh.
1.1.3. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết
lịch sử và giai thoại lịch sử
Luận án trình bày những điểm tương đồng: đặc điểm tính kết
chuỗi, phạm vi đề tài, sự gắn kết nội dung với những chứng tích địa
danh, lịch sử, văn hóa, phương thức phản ánh thực tại, dạng thức tồn
tại của tác phẩm; những điểm khác biệt: dung lượng tác phẩm, ngôn
ngữ kể, chức năng thể loại, không gian, thời gian giữa truyền
thuy
ết lịch sử và giai thoại lịch sử.
1.2. TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN
VẬT LỊCH SỬ NAM BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ
TRƯỚC TỪ ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU, HỆ THỐNG TRUYỆN
6
1.2.1. Khái niệm Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch
sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Nhân vật lịch sử là đối tượng trung tâm được hướng đến
trong đặc trưng phản ánh hiện thực của thể loại truyền thuyết và giai
thoại. Nhân vật lịch sử Nam Bộ là những người anh hùng chống
ngoại xâm, những danh nhân văn hoá, tức những người đã tạo nên
các thành quả văn hóa, bao gồm những người anh hùng mở cõi, có
công khai khẩn và ổn định cương thổ; nhân vật là người địa phương
hay có thể đến từ vùng miền khác nhưng có dấu ấn hoạt động trên
vùng đất. Mốc thời gian “từ cuối thế kỷ XIX trở về trước” mang tính
quy ước từ điểm khởi đầu lịch sử hình thành, gìn giữ vùng đất Nam
Bộ tính đến cuối thế kỷ XIX.
1.2.2. Tình hình tư liệu
Luận án tập hợp, khảo sát nguồn tư liệu sưu tầm, nghiên cứu
hiền, khai khẩn mở đất từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, Truyền
thuyết về các nhân vật lịch sử là những người anh hùng chiến đấu
chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, Truyền thuyết về
nhân vật Nguyễn Ánh, Giai thoại về những danh nhân, danh sĩ Nam
Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước.
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu đi trước,
luận án khái quát lại khái niệm về truyền thuyết và giai thoại, trình
bày những đặc điểm của hai thể loại này và trình bày nguồn tư liệu là
đối tượng nghiên cứu, các tiêu chí xác định nguồn tư liệu này. Đối
với giai thoại, qua sự phân loại, luận án tập trung phân tích những
đặc thù của giai thoại folklore; tiếp tục so sánh truyền thuyết và giai
thoại folklore, đồng thời chỉ ra sự gần gũi, thâm nhập, chuyển hóa
lẫn nhau của chúng; đề cập đến nhũng truyền thuyết và giai thoại kể
cùng một sự kiện và nhân vật lịch sử để qua đây thấy rõ hơn sự khác
biệt và thâm nhập lẫn nhau giữa hai thể loại này.
Tư liệu nguồn truyện được phân mốc thời gian theo phân kỳ
lịch sử, nhằm thể hiện những nét khái quát của tiến trình sưu tầm,
nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ nói riêng. Các loại tư liệu
phong phú và đa dạng, tuy nhiên, tư liệu liên quan đến đề tài còn
phân tán, vấn đề ghi chép, văn bản hóa còn nhiều bất cập; tư liệu văn
bản đáp ứng yêu cầu của đề tài nghiên cứu, song số lượng truyện từ
tư liệu điền dã còn hạn chế, chất lượng truyện kể trong một số trường
hợp cần được khảo sát kỹ trên nhiều bình diện.
CHƯƠNG 2
TRUY
ỀN THUYẾT VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM BỘ
LÀ
NHỮNG NHÂN VẬT TIỀN HIỀN KHAI KHẨN MỞ ĐẤT
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC
Luận án đã miêu tả cấu tạo truyện của các nhóm truyện. Cụ
thể như sau:
Truyền thuyết liên quan đến việc khẩn đất, chống động
v
ật gây hại và chống thiên tai, dịch bệnh
H
ệ thống truyền thuyết có kiểu nhân vật trung tâm là Người
đi khai sơn phá thạch, tìm sự ấm no cho cộng đồng. Tương ứng
với kiểu nhân vật, hệ thống truyền thuyết có đề tài - cốt truyện:
9
Người có công khẩn đất, chống động vật gây hại và chống thiên
tai dịch bệnh.
Sơ đồ hóa diễn tiến cốt truyện của những truyện kể thuộc đề
tài – cốt truyện này như sau: Vùng đất hoang sơ nhân vật theo
đoàn di dân hoặc kêu gọi người dân đến khai hoang, lập ấp đánh
đuổi, trừ động vật gây hại hoặc chống thiên tai dịch bệnh kết quả
sự kiện.
Đề tài - cốt truyện có thể xác lập xoay quanh nhân vật mang
đặc điểm: Nhân vật thủ lĩnh cộng đồng cư dân một vùng đất mới,
Nhân vật có sức khỏe hơn người, có công diệt thú dữ và Nhân vật
dùng thần lực khống chế động vật gây hại hoặc cầu thần lực đẩy lùi
thiên tai dịch bệnh.
- Nhân vật thủ lĩnh cộng đồng cư dân một vùng đất mới
Nhóm này có 14 truyện, 2 dị bản. Sơ đồ kết cấu cốt truyện:
Vùng đất hoang sơ nhân vật theo đoàn di dân hoặc kêu gọi người
dân đến khai hoang, lập ấp được ghi nhớ, thờ cúng.
Có 09 môtíp của cốt truyện.
- Nhân vật có sức khỏe hơn người, có công diệt thú dữ,
động vật gây hại
người có tài lực kiến thiết công trình.
- Người xây dựng công trình
Nhóm này có 4 truyện. Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Vùng đất
hoang sơ quan nhân tổ chức xây dựng công trình phục vụ khẩn
hoang lưu tên địa danh hoặc được sắc phong.
Có 05 môtíp gắn với sơ đồ cốt truyện.
- Người có tài lực hay nhân vật tôn giáo kiến thiết công
trình
Nhóm này có 5 truyện. Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Vùng đất
hoang sơ nhân vật theo đoàn di dân hoặc tăng sĩ, người có tài lực
xây dựng công trình giúp đỡ cuộc sống của cộng đồng cư dân
nhân vật được lưu tên địa danh hoặc được ghi nhớ, thờ cúng.
Có 08 môtíp gắn với sơ đồ cốt truyện.
2.3. GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA HỆ THỐNG TRUYỆN
- Sự phản ảnh một mặt tiến trình lịch sử Nam Bộ gắn với
nh
ững nhân vật người anh hùng khai phá
Thông qua hình tượng nhân vật người anh hùng khai phá, hệ
thống truyền thuyết đã phản ánh đặc điểm quá trình đấu tranh tạo
dựng địa bàn sinh sống của các lớp cư dân Nam Bộ trên vùng đất
11
mới. Tuy nhiên, không ít truyện kể còn mang tính chất ghi chép sự
kiện, chưa phát triển hoàn chỉnh để có được những hình tượng nhân
vật có tính khái quát cao.
- Ý nghĩa phản ánh đặc điểm của văn hóa mở đất
Hệ thống truyện đã biểu hiện những bối cảnh, những thành
tựu, nếp quen sinh hoạt, cách thức ứng xử xã hội của các lớp cư dân
trong tiến trình khai phá vùng đất mới, mang nét đặc trưng Nam Bộ:
trọng nghĩa tình, sẵn sàng xả thân, nghĩa cử cao đẹp, có tính nhân
điểm sáng tạo nghệ thuật, sự gắn kết nội dung với chứng tích địa
danh, lịch sử, văn hóa ; xác lập hai tiểu loại truyền thuyết địa danh
và truyền thuyết lịch sử của hệ thống truyện.
Luận án tập hợp 91 truyền thuyết và 1 dị bản, xoay quanh 58
nhân vật lịch sử.
Trên tiêu chí đề tài, nội dung, đặc điểm nhân vật, yếu tố thời
gian lịch sử, chúng tôi phân hệ thống truyện thành 2 bộ phận: Truyền
thuyết về người anh hùng mở cõi, chống nạn xâm lấn từ giai đoạn
trước khi thực dân Pháp xâm lược trở về trước và Truyền thuyết về
người anh hùng khởi nghĩa chống Pháp đến cuối thế kỷ XIX.
Truyền thuyết về người anh hùng khởi nghĩa chống Pháp đến
cuối thế kỷ XIX có quy mô khá lớn trong hệ thống. Dựa vào nhân
vật và trình tự thời gian những cuộc khởi nghĩa chống Pháp có tiếng
vang lớn và những cuộc khởi nghĩa chống Pháp khác, chúng tôi tập
hợp các truyện kể như sau: Truyện về Trương Định và nhân vật, sự
kiện liên quan, Truyện về Thiên Hộ Dương và nhân vật, sự kiện liên
quan, Truyện về Nguyễn Trung Trực và nhân vật, sự kiện liên quan,
Truyện về Thủ khoa Huân và nhân vật, sự kiện liên quan, Truyện về
Trần Văn Thành và các nhân vật trong tổ chức tôn giáo vùng Thất
Sơn, Truyện về các nhân vật khởi nghĩa khác ở Đông Nam Bộ,
Truyện về các nhân vật khởi nghĩa khác ở Tây Nam Bộ.
3.2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO
Các truyền thuyết có mô hình cốt truyện truyền thống với
lược đồ gồm ba phần, gắn với các tiến trình sự kiện sau: 1. Lai lịch,
hoàn cảnh xuất hiện nhân vật. 2. Tài năng, công tích của nhân vật. 3.
Chung cục.
Luận án xác định 2 kiểu nhân vật của các nhóm truyện gắn
với 3 đề tài - cốt truyện và thống kê 38 môtíp biểu hiện trong các đề
tài - cốt truyện.
Cấu tạo truyện của các nhóm truyện được miêu tả như sau:
anh hùng cứu nước. Tương ứng với kiểu nhân vật, hệ thống truyền
thuyết có 2 đề tài - cốt truyện: Người anh hùng với sức khỏe, tài trí
và chiến công và Người anh hùng với sự thất bại và cái chết kiên
cường.
Đề tài - cốt truyện Người anh hùng với sức khỏe, tài trí
và chiến công
Nhân vật là Người có tài thao lược, ra trận lập công.
Nhóm này có 18 truyện. Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Nhân vật
lãnh tụ khởi nghĩa hay tướng lĩnh, nghĩa binh tài ba hơn người thể
hiện tài năng, chiến công thắng lợi dấu tích lưu lại.
14
Có 12 môtíp gắn với sơ đồ cốt truyện.
Đề tài - cốt truyện Người anh hùng với sự thất bại và cái
chết kiên cường
Sơ đồ hóa diễn tiến cốt truyện của những truyện kể thuộc đề
tài – cốt truyện này như sau: Nhân vật lãnh tụ, tướng lĩnh, nghĩa binh
thể hiện tài năng, chiến công thất bại, hy sinh và cái chết kiên
cường được ghi nhớ, thờ cúng.
Đề tài - cốt truyện có thể xác lập xoay quanh nhân vật mang
đặc điểm: Sự thất bại và phiêu bạt của những chiến binh đánh giặc,
Người anh hùng với cái chết trong chiến trận và Người anh hùng với
cái chết bi phẫn nơi pháp trường.
- Sự thất bại và phiêu bạt của những chiến binh đánh
giặc
Nhóm này có 17 truyện. Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Nhân vật
lãnh tụ khởi nghĩa đi tìm phương kế phục binh bị hại do nhầm lẫn
/ Tướng lĩnh, nghĩa binh hay nhân vật tôn giáo ra trận đánh giặc, lập
công hoặc tham gia ủng hộ kháng chiến thất bại và phiêu bạt
được ghi nhớ, thờ cúng.
cảm hứng, thể hiện đặc thù tư tưởng thẩm mỹ của văn học dân gian ở
vùng đất phương Nam. Hệ thống truyền thuyết về cuộc kháng chiến
chống Pháp đã xây dựng không chỉ là hình tượng những cá nhân
riêng lẻ mà là hình tượng một tập thể anh hùng.
- Một hiện tượng văn học dân gian độc đáo gắn với lịch
sử
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống truyền thuyết
này có mối quan hệ song hành với các chặng đường lịch sử của dân
tộc, đã minh chứng cho “tính chất lịch sử” và “sự ra đời trong lịch
sử” của đặc trưng thể loại truyền thuyết. Tâm lý tôn trọng lịch sử
của nhân dân biểu hiện không chỉ ở thái độ trân trọng đối với các
nhân vật bị che lấp do thiên kiến mà còn ở những ghi nhận khách
quan đối với những thông tin lịch sử sai lệch.
Tiểu kết chương 3
Luận án khái quát diện mạo thể loại và cơ cấu hệ thống
truyện, làm cơ sở để triển khai các bước khảo sát, nghiên cứu cụ thể;
nhận diện khía cạnh sự tương tác qua lại trong hệ thống thể loại của
truyền thuyết diễn ra ở cấp độ tiểu loại; xác định diện mạo đặc thù
của hệ thống truyện, thông qua việc tập trung miêu tả, phân tích đặc
điểm cấu tạo, khái quát giá trị nội dung; chỉ ra đặc điểm sự tiếp nối
các yếu tố truyền thống và sự vận động, biến đổi về mặt thể loại của
nhóm truyền thuyết; nhận diện xu hướng chung của sự hình thành và
phát triển của truyền thuyết ở giai đoạn muộn so với truyền thuyết
thời cổ; với việc xác lập các yếu tố đặc trưng nghệ thuật, bước đầu
16
khái quát hóa quá trình phát triển của truyền thuyết Nam Bộ trong
việc phản ánh lịch sử, từ buổi đầu khi cha ông tiến về khẩn hoang,
mở cõi đất phương Nam đến khi bước vào cuộc kháng chiến gian
khổ chống thực dân Pháp; minh chứng cho thấy tính truyền thống
trình trốn lánh Tây Sơn.
17
Sơ đồ hóa diễn tiến cốt truyện của những truyện kể thuộc đề
tài – cốt truyện này như sau: Nguyễn Ánh bị truy đuổi, chạy nạn
được sự trợ giúp hoặc không được trợ giúp / hay vào địa phận vùng
đất có những hành trạng, hoạt động trên đường bôn tẩu kết quả
hay dấu tích lưu lại (về nhân vật, sự kiện).
Đề tài - cốt truyện có thể xác lập xoay quanh nhân vật mang
đặc điểm: Sự phù trợ thần kỳ cho vị vua tương lai, Con người trợ
giúp, Những dấu ấn hành trạng và dấu tích lưu lại.
- Sự phù trợ thần kỳ cho vị vua tương lai
Nhóm này có 12 truyện và 6 dị bản. Sơ đồ kết cấu cốt
truyện: Nguyễn Ánh bị truy đuổi nguy khốn trông trời, khấn
nguyện xuất hiện vật linh, điềm lạ trợ giúp thoát hiểm đặt tên
vật trợ giúp hay về sau sắc phong danh hiệu thờ cúng.
Có 08 môtíp của cốt truyện.
- Con người trợ giúp
Nhóm này có 10 truyện. Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Nguyễn
Ánh bị truy đuổi, chạy nạn hay vào địa phận vùng đất được con
người trợ giúp giải nguy Nguyễn Ánh hay người dân đặt tên đất,
tên sản vật liên quan sự kiện hoặc về sau lên ngôi ban tên, ban sắc tứ.
Có 08 môtíp của cốt truyện.
- Những dấu ấn hành trạng và dấu tích lưu lại
Nhóm này có 30 truyện và 3 dị bản.
Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Nguyễn Ánh bị truy đuổi, chạy nạn
hay vào địa phận vùng đất có những hành trạng, hoạt động trên
đường dấu tích lưu lại.
Có 11 môtíp gắn với sơ đồ cốt truyện.
4.3. GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA HỆ THỐNG TRUYỆN
quát về giá trị nội dung; đặt trong sự so sánh, đối chiếu với nhóm
truyện cùng loại hoặc gần gũi ở các vùng miền khác, khám phá
những nét đặc trưng riêng của hệ thống truyền thuyết về nhân vật
Nguyễn Ánh ở vùng Nam Bộ; đề cập đến dấu ấn tồn tại của nhóm
truyện thể hiện trong văn bản văn học của thời kỳ sau, biểu hiện của
tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết, được coi là quy luật
chung của mọi nền văn học.
CHƯƠNG 5
GIAI THO
ẠI VỀ NHỮNG DANH NHÂN, DANH SĨ NAM BỘ
T
Ừ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC
5.1. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG TRUYỆN
19
Luận án giới thuyết về giai thoại về những danh nhân, danh
sĩ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; xác định đặc điểm thể
loại giai thoại của truyện về những danh nhân, danh sĩ Nam Bộ trên
các dấu hiệu: hình thức, dung lượng tác phẩm, yếu tố lời thoại, cách
thức xây dựng sự kiện, tình tiết, nhân vật ; xác lập ba tiểu loại: giai
thoại lịch sử, giai thoại văn học và giai thoại folklore của hệ thống
truyện.
Thuộc hệ thống giai thoại này, luận án tập hợp 40 truyện về
những danh nhân, danh sĩ Nam Bộ và 3 dị bản, xoay quanh 14 nhân
vật lịch sử.
5.2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO
Các giai thoại có mô hình cốt truyện truyền thống với lược
đồ gồm ba phần: mở đầu, phát triển và kết thúc, gắn với các tiến
trình sự kiện sau: 1. Giới thiệu nhân vật và tình huống sự việc. 2.
Diễn tiến sự việc. 3. Kết quả sự việc.
Những văn tài địa phương. Tương ứng với kiểu nhân vật, hệ thống
giai thoại có đề tài - cốt truyện: Con người của truyền thống văn
tài địa phương.
Sơ đồ hóa diễn tiến cốt truyện của những truyện kể thuộc đề
tài – cốt truyện này như sau: Danh sĩ trong sinh hoạt văn học hay
trong tình huống ứng đối thơ văn thể hiện tài văn hay dấu ấn hoạt
động văn chương kết quả sự kiện về nhân vật.
Đề tài - cốt truyện có thể xác lập với nhân vật mang đặc
điểm: Danh sĩ trong sinh hoạt văn học và Tài ứng đối, ứng tác.
- Danh sĩ trong sinh hoạt văn học
Nhóm này gồm 2 truyện và 1 dị bản. Sơ đồ kết cấu cốt
truyện: Danh sĩ trong sinh hoạt văn học tình huống sáng tác tác
phẩm hay hoạt động thi đàn được ngợi khen hay lưu tên thi đàn.
Có 02 môtíp gắn với sơ đồ cốt truyện.
- Tài ứng đối, ứng tác
Nhóm này có 8 truyện. Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Danh sĩ
trong tình huống ứng khẩu đối đáp so tài văn, ra câu đối, bài thơ
đề tặng, biện bác hay châm biếm, đả kích sự tán thưởng, hài lòng.
Có 06 môtíp của cốt truyện.
H
ệ thống giai thoại có kiểu nhân vật trung tâm thứ ba là
Những danh nhân trên lịch sử vùng đất. Tương ứng với kiểu nhân
vật, hệ thống giai thoại có đề tài - cốt truyện: Cảm hứng đặt tên địa
danh.
21
Nhân vật mang đặc điểm: Nhân vật đặt tên địa danh.
Nhóm này có 3 truyện.
Sơ đồ kết cấu cốt truyện: Danh nhân, danh sĩ trong dịp đi
qua thấy địa cuộc, địa vật cho xây, đặt hay đổi tên vùng đất, di
Sự ngợi ca hướng đến những văn tài lỗi lạc của vùng đất.
Bên cạnh đó, tấm lòng yêu nước thương dân, đạo đức cao cả của các
danh nhân, danh sĩ Nam Bộ được nhiều giai thoại tôn vinh. Họ là
những con người “trổ tài dệt gấm” (làm thơ) và hoạt động yêu nước.
Đây chính là các danh nhân, danh sĩ đã kiến tạo nên những biểu
tượng văn hóa Nam Bộ, Việt Nam.
- Ý nghĩa sự đối kháng văn hoá
Tinh thần chống thực dân xâm lược trên phương diện sự đối
kháng chính trị diễn ra ở thái độ ứng xử đối với những gì liên quan
đến thế lực xâm lược. Các giai thoại đã thể hiện thái độ tinh thần
này. Đây chính là thái độ đối kháng chính trị dưới hình thức đấu
tranh văn hoá.
Tiểu kết chương 5
Luận án khảo sát, miêu tả, phân tích, đánh giá hệ thống
truyện, đi từ bước cơ sở khái quát diện mạo thể loại, cơ cấu văn bản;
nhận diện yếu tố sự thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau trong hệ thống
thể loại diễn ra ở cấp độ tiểu loại; xác định diện mạo đặc thù của hệ
thống truyện, thông qua việc miêu tả, phân tích đặc điểm cấu tạo
truyện; đưa ra những kiến giải về giá trị nội dung của hệ thống
truyện, một bộ phận truyện dân gian mang tính đại diện cho vùng đất
và còn có tính bao quát những giá trị tinh thần truyền thống của dân
tộc; các miêu tả, phân tích nhằm khái quát đặc điểm thể loại của giai
thoại về danh nhân, danh sĩ Nam Bộ nói riêng, như đã có nhận định,
đó là sự “gần gũi với người thật, ít có yếu tố siêu nhiên, thần kỳ”.
KẾT LUẬN
Luận án đã giới thuyết nhận thức lý luận về thể loại truyền
thuyết và giai thoại. Đây là cơ sở, xuất phát điểm cho việc tập hợp tư
liệu, nghiên cứu những sáng tác cụ thể thuộc đối tượng nghiên cứu.
Với truyền thuyết, luận án nhấn mạnh “thực tại được phản
ánh” là hiện thực lịch sử thông qua cảm quan của nhân dân, biểu hiện
những tập sưu tầm, biên soạn của nhiều tác giả, nhiều cơ quan, đơn
vị. Bên cạnh đó là những tư liệu sưu tầm điền dã của nhiều tổ chức,
cá nhân. Luận án đã chỉ ra tiêu chí để lựa chọn, tập hợp tư liệu, trong
đó tiêu chí hàng đầu là “chất dân gian” của bản kể.
Luận án nghiên cứu về các truyền thuyết, giai thoại gắn với
nhân vật lịch sử ở Nam Bộ từ thế kỷ XIX trở về trước theo hệ thống
nhân vật lịch sử gồm: nhân vật khai khẩn mở đất, nhân vật xây dựng,
kiến tạo văn hóa và nhân vật chiến đấu chống ngoại xâm. Theo đó,
đối tượng nghiên cứu khảo sát của luận án gồm 4 nhóm truyện, với
tổng số 220 đơn vị truyện xoay quanh 104 nhân vật lịch sử.
Về đặc trưng nghệ thuật, luận án tập trung miêu tả, phân tích
đặc điểm cấu tạo của các nhóm truyện. Việc khảo sát đi từ khái quát
các kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện, làm cơ sở xác định các đặc
điểm nhân vật. Sự hiện thực hoá cốt truyện được biểu hiện cơ bản ở
hệ thống môtíp, đơn vị kiến tạo cốt truyện. Hệ thống truyện có các
kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện, môtíp theo truyền thống, đồng thời