Tự chủ về nội dung và phương pháp dạy học - Pdf 28


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm đầu thực hiện chương trình sách giáo khoa (SGK) mới,
giáo viên (GV) trực tiếp giảng dạy lớp Bốn đã gặp rất nhiều khó khăn trong
khâu thực hiện nội dung và phương pháp dạy học. Bởi chương trình lớp Bốn quá
nặng so với mức độ tiếp thu của các em. Mặt khác ở lớp Bốn Tự nhiên xã hội bắt
đầu được phân ra thành các phân môn: Khoa học; Lịch sử- Địa lý nên việc học
của các em cũng gặp nhiều khó khăn vì các em bắt đầu phải làm quen với các sự
kiện Lịch sử, biểu tượng Địa lý hay một khái niệm về Khoa học,....
Ngày 13 tháng 02 năm 2006 Bộ DG&ĐT đã ban hành công văn số 896 về
việc hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho HS Tiểu học. Trong những năm
học 2006-2007; 2007-2008, GV vẫn chưa nắm bắt được hết tinh thần của công
văn này, đồng thời các văn bản hướng dẫn của cấp trên cũng chưa được cụ thể
hoá nên GV cũng chưa mạnh dạn trong việc điều chỉnh nội dung, thời lượng
cũng như phương pháp dạy học. Hầu hết GV và một bộ phận CBQL cấp cơ sở
chưa thực sự nắm bắt được thế nào là “chuẩn” vẫn xem chương trình mới là
pháp lệnh thường dạy học, đánh giá giờ dạy theo SGK và phân phối chương
trình. Vì GV xem nôị dung chương trình SGK như là chuẩn kiến thức- kỹ năng
(KT-KN) cho tất cả các đối tượng, cố làm sao cho tất cả HS đều nắm hết được
nội dung SGK nên việc dạy học dễ dẫn đến tình trạng “quá tải” gây chán nản
cho HS và bức xúc cho xã hội. Bên cạnh đó có một số GV còn đưa vào tiết học
cả những kiến thức không phù hợp với khả năng tiếp thu của HS. Phần lớn bài
học ở tất cả các môn của lớp 4 vừa khó, vừa dài trong khi quỹ thời gian thì có
hạn. Tình trạng đó đã làm cho HS mệt mỏi, sợ học, chán học. Không ít GV đã
dựa hẳn vào nội dung SGK và SGV hoặc thiết kế bài giảng sẵn để áp dụng cho
việc dạy học của mình. Chính vì thế kết quả dạy - học chưa cao.
Trong hai năm học gần đây (2008- 2009; 2009- 2010) việc dạy học ra sao
để vừa phù hợp với đối tượng dạy học vừa đảm bảo chuẩn KT-KN của chương
trình theo QĐ 16/ 2006/ Bộ DG& ĐT được các cấp, các ngành chỉ đạo sát sao
hơn, cụ thể hơn. GV đứng lớp đã mạnh dạn tự chủ, sáng tạo vận dụng công văn
896 vào dạy học. Việc tự chủ trong nội dung và phương pháp dạy học đòi hỏi ở

Thời gian cứng cho mỗi buổi học là 160 phút trong khi để thực hiện được
hết nội dung yếu của SGK trong một số buổi học có khi lên đến 170 – 175 phút
nên GV rất lúng túng. Với những buổi học như thế này GV và HS phải hoạt
động rất mệt mà nội dung bài học có khi khai thác chưa sâu hoặc chưa phát triển
được năng khiếu của HS. Trong khi đó, lớp nào cũng có đủ các loại đối tượng
HS như (giỏi, khá, trung bình, yếu, khuyết tật, cá biệt). Vì vậy, trong quá trình
thực hiện chương trình SGK lớp Bốn mới GV đã gặp rất nhiều khó khăn vì
không nắm được mức đạt chuẩn cho HS là đến đâu. Nên GV đã cố gắng để tất cả
HS đều đáp ứng hết nội dung SGK.
2. Nguyên nhân:
Sự chỉ đạo về việc thực hiện công văn 896 và QĐ 16 của một số trường
chưa được cụ thể, hướng dẫn thực hiện còn chung chung, chưa xác định rõ được
cho GV trong việc tự chủ thực hiện nội dung, thời lượng và phương pháp dạy
học. Việc xếp thời khoá biểu còn cứng nhắc và nhất là việc đánh giá giờ dạy của
GV chưa bắt kịp theo hướng tự chủ.
Một số không ít GV chưa nắm bắt được tinh thần công văn 896, họ dè dặt
trong việc tự chủ về nội dung và thời lượng vì làm thì sợ sai, sợ cả sự đánh giá
của các cấp lãnh đạo về giờ dạy của mình. Mặt khác một số GV năng lực còn
hạn chế không biết nên điều chỉnh nội dung như thế nào để vừa đạt chuẩn vừa
phù hợp với HS lớp mình.

2Bên cạnh đó còn có một bộ phận không nhỏ phụ huynh nhận thức chưa
cao về vấn đề giáo dục toàn diện và không nắm được mức độ tiếp thu của con
em mình họ kỳ vọng nhiều ở con nên cũng đã tạo thêm áp lực cho GV.
Đặc điểm tâm sinh lý của HS Tiểu học còn ngại khó, nắm bắt nhanh
nhưng cũng mau quên, chóng chán. Bên cạnh đó mỗi lớp học đều có rất nhiều
đối tượng HS nên việc làm cho tất cả HS đều được học theo nhu cầu của mình và

khảo
Môn
học
Chất lượng
Giỏi Khá Trung bình Yếu

3SL
(em)
TL% SL
(em)
T/L
%
SL
(em)
T/L
%
SL
(em)
T/L
%
34 TViệt 14 41% 8 23,5% 9 26,5% 3 8,9%
34 Toán 13 39,2% 9 26,4% 10 29,4% 2 6%
Qua các kênh thông tin trên, tôi xác định được những em nào cần giáo
dục để đạt đến chuẩn (các em còn “ non” ở kiến thức nào? “ non” về đọc, về viết
hay về tính toán?) ở đối tượng này trong từng tiết học đều được tôi chú ý kèm
cặp hơn. Những em đạt chuẩn ở mức vững chắc thì tôi lại phân công cho những
em HS giỏi giúp đỡ. Còn với đối tượng HS khá, giỏi tôi tranh thủ hết thời gian

Sinhhoạtlớp
Chiều
Tiếng Anh
Kể chuyện
Ôn Toán
LTVC
Âm nhạc
Ôn T Việt
Chính tả
Tin học
Ôn Toán
Tiếng Anh
Ôn T Việt
Tin học
Địa lý
Ôn TNXH
NGLL
Ở trường tôi các môn học Nghệ thuật, Năng khiếu, Tự chọn đều có giáo
viên riêng thời khoá biểu cho các môn này là cơ cấu cứng, nên việc sắp xếp thời
khoá biểu của lớp mình còn phụ thuộc vào thời khóa biểu chung của toàn
trường. Sau khi có thời khóa biểu chung của toàn trường tôi tự điều chỉnh, sắp
xếp thời khóa biểu của lớp tôi sao cho trong một buổi, một ngày các môn học có
thể sắp xếp điều chỉnh được về thời lượng.
Với thời khóa biểu đó trong một buổi học, hoặc trong một ngày học tôi có
thể điều chỉnh thời lượng từ môn học này sang môn học khác hoặc từ buổi sáng
sang buổi chiều.

4
KN vừa phát triển được năng khiếu cho HS làm sao cho các em HS yếu, trung
bình tiếp thu được bài và sao cho 14 em HS giỏi không lãng phí thời gian.
Dựa vào “Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học” (Ban hành theo
Quyết định số 16/2006/QĐBG&ĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT)
và sau này là “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở
Tiểu học - Lớp 4”, tôi đã xác định mục tiêu cần đạt cho lớp mình trong từng bài,
từng tiết học. Để đạt được mục tiêu đó, tôi đã phải trăn trở, suy nghĩ xem nên
thiết kế bài giảng như thế nào cho phù hợp cả về nội dung lẫn thời lượng.

5a, Tự chủ trong việc điều chỉnh các ngữ liệu, thông số, các thuật ngữ ...
trong sách giáo khoa sao cho phù hợp với đối tượng HS , phù hợp với điều
kiện dạy học.
Điều chỉnh được nội dung thời lượng dạy học sao cho phù hợp với HS,
với điều kiện dạy học của lớp mình, mỗi tiết học, mỗi buổi học, GV đều phải đầu
tư nhiều cho việc thiết kế bài giảng của mình. Có khi nội dung đoạn văn, bài toán
không phù hợp với đối HS trường mình tôi mạnh dạn chuyển nội dung của đoạn
văn hoặc bài toán đó cho phù hợp. Ngoài nội dung SGK, GV phải nghiên cứu
tìm tòi thêm ở các loại sách tham khảo phục vụ cho dạy học.
Ví dụ 1: Để phù hợp với đồ dùng dạy học, các bài toán ở tiết “ Phân số và
phép chia số tự nhiên” nên thay đổi đơn vị bài toán từ “ cái bánh” thành “hình
tròn” để bài toán gần gũi với HS hơn, HS dễ hiểu hơn, GV sử dụng đồ dùng dạy
học dễ dàng hơn.
Ví dụ 2: Để tránh thắc mắc của HS khi học đến tiết “Luyện tập chung”
trang 176 - Toán 4, ở bài tập 1, có sách thì in: Đắc Lắc; Con Tum, có sách thì in:
Đăk Lắc, Kon Tum, ngay ở bài “Viết tên người, tên địa lý Việt Nam” – Luyện từ
và câu – GV đưa thêm những danh từ riêng này vào, vận dụng sách tham khảo
để giải thích cho HS luôn.

Bài tập1: (7 phút)
a, Viết số tự nhiên liền sau của số 2 835 917.
b, Viết số tự nhi ên li ền tr ư ớc c ủa s ố 2 835 917.
c, Đọc số rồi nêu giá trị của chữ s ố 2 trong mỗi số sau: 82 360 945;
7 283 096; 1 547 238.
Ở vế a, vế b tôi cho HS sử dụng bảng con để viết số theo yêu cầu. Vế c,
tôi cho HS lần lượt đọc số rồi nêu giá trị của chữ số 2 trong mỗi số (số được viết
sẵn trên bảng)- phần này tôi dành cho HS trung bình nêu trước lớp. Còn HS khá,
giỏi tôi đặt thêm câu hỏi: Tại sao chữ số 2 trong số đó lại có giá trị 2 triệu, 2
trăm,... hay 2 nghìn?
Bài tập2: Viết chữ số thích hợp vào chỗ chấm hỏi(?)
a, 475 ?36 > 475 836; b, 9? 3 876 < 913 000.
c, 5 tấn 175 kg > 5 ?75 kg; d, ? tấn 750 kg = 2750 kg.
Bài tập này theo chuẩn chỉ yêu cầu HS làm 2 vế, tôi giao cho cả lớp cùng
làm cả 4 vế, nhưng khi quan sát thấy HS trung bình đã làm được 2 -3 vế (lúc đó
HS khá, giỏi đã làm xong cả 4 vế) tôi cho cả lớp nhận xét bài của bạn và cùng
chữa bài. Với cách làm như thế thì BT2 hết khoảng 8 phút.
Bài tập3: ( Biểu đồ được tôi chuẩn bị sẵn)
HS đọc yêu cầu BT, trao đổi nhóm đôi để trả lời các câu hỏi theo yêu cầu.
Sau đó lần lượt đại diện từng nhóm trả lời trước lớp. Làm như thế thì số HS khá,
giỏi có thể giúp đỡ HS trung bình hoàn thành hết cả 4 yêu cầu bài tập. Với yêu
cầu 4 – yêu cầu khó hơn- tôi cho HS khá (giỏi) nêu kết quả và giải thích cách
làm trước lớp. Bài tập này chiếm khoảng 10 phút.
Bài tập4: ( khoảng 8 phút)
Bài tập này tôi thực hiện tương tự Bài tập2 - vế c không bắt buộc cả lớp làm
nên tôi dành cho HS khá, giỏi. Ngoài ra tôi còn nêu thêm một số câu hỏi để HS
nhận biết thêm:
+ Năm 2000 là năm thứ mấy của thế kỷ XX?
+ Năm 2005 là năm thứ mấy của thế kỷ XXI?


e, 2 phút 10 giây = ... giây.
Với cách làm như thế thì HS cả lớp làm xong bài trong cùng một thời
gian. Trong khi chữa bài tôi nêu thêm một số câu hỏi phụ nhằm khắc sâu,
nâng cao thêm cho HS khá, giỏi.
Bài tập2: Dựa vào biểu đồ cho sẵn để HS trả lời các câu hỏi sau:
a, Hiền đã đọc được bao nhiêu quyển sách ?
b, Hòa đã đọc được bao nhiêu quyển sách?
c, Hòa đã đọc nhiều hơn Thực bao nhiêu quyển sách?

8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status