THƯ MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Chú thích
1 UBND Ủy ban nhân dân
2 UBMTTQ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
3 MTTQ Mặt trận Tổ quốc
4 HĐND Hội đồng nhân dân
5 QL Quốc lộ
6 UBND Ủy ban nhân dân
7 HS Học sinh
8 TDĐKXDĐSVH Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
9 BCĐ Ban chỉ đạo
10 BVĐ Ban vận động
11 GĐVH Gia đình văn hóa
12 LVH Làng văn hóa
13 KDCTT Khu dân cư tiên tiến
14 CLB Câu lạc bộ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế diễn ra mạnh mẽ và trên quy mô lớn. Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội phát triển
1
nhưng cũng chứa đựng nhiều khó khăn thách thức lớn cho các quốc gia, nhất
là các nước đang phát triển. Sự ảnh hưởng này không chỉ về phương diện kinh
tế mà nó cũng có những tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa của các nước.
Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình
thế giới và khu vực, Đảng ta luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ
trương, chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực
văn hóa, chỉ đạo hoạch định các chính sách văn hóa nhằm thực hiện thắng lợi
mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Ngay từ đại hội VI những nhận thức mới của Đảng về văn hóa đã
có bước chuyển quan trọng. Nền văn hóa mà Đảng ta xác định phải xây dựng
Từ những cơ sở trên tôi đã quyết định chọn vấn đề “phong trào xây
dựng các làng, khu dân cư văn hóa ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên
(giai đoạn 2001 – 2010)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu của đề tài
nhằm tìm hiểu rõ hơn về hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và
những tác động của nó tới sự phát triển của địa phương.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa là một bộ phận quan
trọng và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa”. Tuy nhiên cũng chưa có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này mà chủ yếu được nêu trong các báo cáo tổng kết của các
địa phương hay được đề cập rất hạn chế trong các công trình nghiên cứu về
địa phương như:
Cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình (1930 – 2005) đã dựng lại
quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ huyện, ghi lại những thành
tựu to lớn mà Đảng bộ đã lãnh đạo cán bộ và nhân dân trong huyện giành
được trong 75 năm qua. Trong đó đã nói lên chủ trương và sự chỉ đạo của
Đảng bộ và UBND huyện Phú Bình và kết quả của việc thực hiện phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội hàng năm của UBND huyện Phú Bình
đã tổng kết những những thành tựu về kinh tế, văn hóa - xã hội, trong đó có
3
phần tổng kết những kết quả đạt được của phong trào xây dựng Làng, Khu
dân cư văn hóa. Trên cơ sở đó đánh giá chung tình hình thực hiện nhiệm vụ
xây dựng đời sống văn hóa của những năm trước, đề ra những mục tiêu và
nhiệm vụ chủ yếu cho năm sau.
Báo cáo tổng kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” và phương hướng nhiệm vụ hàng năm của Ban chỉ đạo phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” huyện Phú Bình đã đánh giá
kết quả của phong trào từng năm và đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp
xây dựng phong trào của năm sau.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài.
Làm rõ chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình về việc xây dựng
làng, khu dân cư văn hóa;
Những kết quả đạt được của phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn
hóa ở huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010;
Chỉ ra hiệu quả của phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa về
kinh tế, xã hội ở Phú Bình.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Nguồn tài liệu.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Tư liệu thành văn:
+ Tư liệu gốc: Các văn kiện, nghị quyết của Đảng trong thời kỳ đổi mới
từ Đại hội VII đến Đại hội X;
+ Các nguồn tư liệu thành văn khác: các sách nghiên cứu, sách tham
khảo, các công trình nghiên cứu về văn hóa, về xã hội học,… có liên quan.
- Tư liệu lưu trữ: các tài liệu, báo cáo lưu trữ tại phòng thống kê huyện
ủy huyện Phú Bình, phòng văn hóa thông tin huyện Phú Bình.
- Tư liệu điền dã thực tế tại các xóm, xã trong huyện.
5
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Trong đề tài này tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để thấy được việc
thực hiện chủ trương của Đảng về vấn đề xây dựng làng, khu dân cư văn hóa.
- Phương pháp thống kê so sánh để thấy được kết quả của phong trào.
- Phương pháp phân tích tổng hợp để thấy được những tác động của nó
đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây
dựng đời sống văn hóa mới trong giai đoạn sau.
5. Đóng góp của đề tài.
Đề tài sẽ góp phần tìm hiểu một phần nhỏ trong chủ trương xây dựng
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng ta.
33
”
đến 21
0
35
’
22
”
vĩ bắc, giữa 105
0
51
’
đến 106
0
02
’
kinh
đông.[1, 5]
Huyện Phú Bình có diện tích tự nhiên là 249,36 km
2
. Sự kiến tạo địa chất
và con sông Cầu, sông Máng, kênh Đông (thuộc hệ thống đại thủy nông) chia cắt
Phú Bình thành 3 vùng: vùng phía Bắc và Đông Bắc nằm trên tả ngạn sông Máng,
là vùng bán sơn địa (vùng số I) gồm 8 xã (Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Kim,
Tân Thành, Bảo Lý, Tân Hòa, Tân Khánh), trong đó có 7 xã miền núi, có diện tích
đất tự nhiên là 13.883,84 ha. Vùng trung tâm huyện (vùng II) có địa hình trung
bình, gồm 6 xã và thị trấn (Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh,
Lương Phú, Tân Đức và thị trấn Hương Sơn) có diện tích tự nhiên là 583,88 ha.
Đây là vùng có dân số đông, lao động dồi dào, trình độ dân trí khá. Vùng phía Tây
và Tây Nam (vùng III) gồm 6 xã (Hà Châu, Điềm Thụy, Nga My, Thượng Đình,
Giang) với chiều dài 31km. Đây là con sông thuộc hệ thống đại thủy nông được
khởi công xây dựng năm 1922 và hoàn thành năm 1929, hàng năm cung cấp
nước tưới cho hơn 1.800 ha ruộng đất của huyện Phú Bình và hàng ngàn ha
ruộng của các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên (Bắc Giang). Bên cạnh đó là
hệ thống đại thủy nông hồ núi Cốc và 119 hồ chứa nước lớn, nhỏ và hàng trăm
ngàn ao, đầm cùng với một số suối nhỏ cung cấp nước cho hơn 1000 ha đất canh
tác thuộc ở các xã Tây Bắc huyện. Do vậy, những năm gặp thời tiết thất thường,
diện tích gieo trồng bị khô cạn của huyện Phú Bình cũng ít hơn so với các huyện
khác trong tỉnh. Huyện Phú Bình có trữ lượng nước ngầm khá lớn và ở độ sâu
vừa phải (trung bình dưới mặt đất 4m là thấy mạch nước ngầm). [1, 8]
8
Khí hậu của Phú Bình mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi, trung du
Bắc Bộ, có nhiệt độ trung bình năm từ 23,1
0
c đến 24,4
0
c. Nhiệt độ cao nhất trung
bình 28,9
0
c, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 2000 mm đến 2500 mm.
Tháng 8 có lượng mưa cao nhất và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất. Tổng số giờ
nắng trong năm dao động từ 1206 giờ đến 1570 giờ và phân phối đều trong năm. [43]
So với các huyện khác trong tỉnh, huyện Phú Bình có độ ẩm cao, trung
bình từ 81,9% đến 82%, độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào
tháng 11, 12. Do địa hình tương đối bằng phẳng nên huyện Phú Bình có tần
suất lặng gió thấp, khoảng từ 15 đến 20% và tốc độ gió cũng lớn hơn các
huyện miền núi, hướng gió thay đổi theo hệ thống hoàn lưu, mùa hè thường
có gió Đông Nam, mát mẻ; mùa đông có gió Đông Bắc, thời tiết lạnh.[21, 20]
Hệ thống đường bộ của Phú Bình qua nhiều năm xây dựng, đặc biệt từ
năm 1990 đến nay đã tương đối hoàn chỉnh, gồm nhiều đường giao thông
Dân cư là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế. Thái Nguyên là
một tỉnh đông dân so với các tỉnh miền núi phía Bắc, với mật độ dân cư trung
bình là 297 người/km
2
. So sánh với các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, tỉnh
Thái Nguyên có mật độ dân cư trung bình cao hơn gấp 2 lần tỉnh Tuyên
Quang, gấp 3 lần tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, và gấp 7 lần tỉnh Lai
Châu [Dẫn theo 21,24]
Phú Bình là một huyện có nhiều dân tộc cùng nhau sinh sống, trong đó đa
số là người Kinh chiếm 91,56%, các dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở các
xã Tân Thành, Tân Hòa, Bàn Đạt và Tân Kim; Dân tộc Tày chiếm 1,86%, dân tộc
Nùng chiếm 3,86, dân tộc Sán Dìu chiếm 2,44%, còn các dân tộc khác chỉ chiếm
0,10%. Tỷ lệ nhân khẩu theo thành phần dân tộc được cụ thể như bảng 1.1:
10
Bảng 1.1: Các dân tộc ở Phú Bình
STT Dân tộc Khẩu Tỷ lệ (%) Ghi chú
1 Kinh 123.315 91,56
2 Nùng 5205 3,86
3 Sán dìu 3279 2,44
4 Tày 2504 1,86
5 Hoa 242 0,17
6 Dao 73 0,05
7 H’mông 8 0,01
8 Sán chay 12 0,01
9 Mường 37 0,02
10 Ngái 13 0,01
Tổng cộng 134.679 100
(Nguồn: phòng dân tộc huyện Phú Bình năm 2010)
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành. Bên cạnh một bộ
phận lớn là dân cư bản địa định cư lâu đời là bộ phận dân cư do bọn điền chủ
Phú Bình có nhiều nghề thủ công. Đáng chú ý là nghề làm đồ gốm Lương
Tạ, nghề đan nát mây tre, mộc gia dụng.... Tuy nhiên, sản phẩm thủ công nghiệp
của Phú Bình còn nhỏ bé, đơn điệu và tiêu thụ ở địa phương là chính.
Thắng lợi của đường lối đổi mới sau 15 năm thực hiện ở Phú Bình đã mở
ra bước phát triển mới trong huyện. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích
cực. Năm 2001, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng là 71,79%, công
nghiệp và xây dựng 10,57%. Đến năm 2010 công nghiệp xây dựng tăng lên 19,7%;
nông, lâm nghiêp, thủy sản giảm còn 52,3%; dịch vụ tăng lên 28%. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt 7,0% (tính trong giai đoạn 2005 - 2010)[16, 22 - 23].
Nét nổi bật trong nông thôn Phú Bình những năm gần đây là cơ cấu
kinh tế gia đình phát triển khá vững chắc, đa dạng: trồng cây, nuôi cá, chăn
nuôi gia súc gia cầm và làm thủ công nghiệp gia đình. Đàn lợn của huyện Phú
Bình tăng từ 88.008 con năm 2001 lên 133.000 con năm 2010; đàn bò cũng
tăng từ 9.699 con năm 2001 lên 19.000 con năm 2010…. chủ yếu là nhờ chăn
nuôi gia đình [38]. Một số xã như Kha Sơn, Lương Phú, Thượng Đình, Nhã
Lộng có nghề thủ công phát triển, thu nhập gia đình cao hơn so với các xã
thuần nông.
Phú Bình những năm gần đây chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất theo
hướng phát triển kinh tế hàng hóa gắn liền với thị trường, giữ vững diện tích
trồng lúa, đẩy mạnh thâm canh, thực hiện chương trình cao sản, đưa năng suất
lúa từ 39,4 tạ/ha năm 2001 lên 48,54 tạ/ha năm 2010, diện tích cây ngô đông
từ 1.463 ha với sản lượng 4.358 tấn năm 2001 lên 2.986 ha với sản lượng
11.761 tấn năm 2010. Kinh tế vườn phát triển nhanh. [38]
12
1.2.3 Về văn hóa - xã hội
Về Giáo dục - Đào tạo: Sự nghiệp giáo dục đào tạo của Phú Bình 60 năm qua
được quan tâm, phát triển toàn diện. Năm học 1944 – 1945, cả huyện mới chỉ có 1
trường sơ học toàn cấp (từ lớp 1 đến lớp 3) và một trường sơ học bán cấp (từ lớp 1
đến lớp 2) với khoảng 50 học sinh, 95% dân số trong huyện mù chữ. Từ năm 1956
trở về trước huyện chưa có trường cấp II. Năm 1966, huyện mới mở trường cấp III
thần cho nhân dân các dân tộc trong huyện, tạo môi trường văn hóa lành
mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc cho nhân dân nhất là thế hệ trẻ.
1.2.4. Truyền thống lịch sử của huyện Phú Bình
Bên cạnh truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân huyện Phú
Bình còn có truyền thống yêu nước, một lòng đoàn kết chống giặc ngoại xâm.
Vào thế kỷ XI nhà Tống cho 30 vạn quân vào xâm lược nước ta, nhân dân
Phú Bình đã sát cánh cùng đồng bào cả nước dưới sự chỉ huy tài giỏi của Thái
uý quốc công Lý Thường Kiệt chặn đứng quân Tống trên phòng tuyến sông
Như Nguyệt (Sông Cầu ngày nay), sau đó quét sạch bọn cướp nước ra khỏi
dân tộc.
Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam càng lún sâu vào giai
đoạn khủng hoảng, suy vong trầm trọng. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông
dân nổ ra trên phạm vi cả nước. Vùng Việt Bắc trong đó có Phú Bình, nông
dân chống phong kiến diễn ra rất gay gắt, quyết liệt. Năm 1833, nhân dân Phú
Bình cùng đồng bào trong tỉnh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa rộng lớn do Nông
Văn Vân chỉ huy. Đầu năm 1884 đội quân cờ Đen do Lý A Sinh cầm đầu kéo
đến đánh chiếm thành lũy Phương Độ và cướp bóc hầu khắp các tổng trong phủ
Phú Bình. Một lần nữa, nhân dân Phú Bình lại đứng lên cầm vũ khí sát cánh
cùng với quân của triều đình nhà Nguyễn đánh đuổi bọn cướp lên phía Bắc.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cũng như quân và dân cả nước,
quân và dân Phú Bình đã đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược rất quyết liệt.
Trận đánh quân Pháp ngày 17/3/1884 khi chúng vừa đặt chân đến Đức Lân,
Phương Độ; sự hưởng ứng và tham gia tích cực vào các cuộc khởi nghĩa do
Hoàng Hoa Thám (năm 1887), của Trịnh Văn Cấn 1917 lãnh đạo chống thực
14
dân Pháp là những trang sử chống xâm lược vẻ vang của nhân dân huyện Phú
Bình. Những năm 1938 – 1940, cũng trên mảnh đất mà nhân dân có truyền
thống đấu tranh kiên cường ấy, những thanh niên yêu nước ở xã Kha Sơn Hạ
đã tìm đến với chủ nghĩa cộng sản, với cách mạng. Từ nhóm thanh niên yêu
nước này, năm 1941, Hội Nông dân phản đế, Hội Phụ nữ phản đế đầu tiên của
nam, nữ xung phong vào bộ đội, hơn 500 đoàn viên gia nhập thanh niên xung
phong, có mặt khắp các chiến trường Đông Dương. Nhiều người đã lập công
xuất sắc như anh hùng Phạm Thanh Ngân bắn rơi 8 máy bay của đế quốc Mỹ,
được bầu vào Bộ chính trị ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII, được
phong hàm Thượng Tướng. Riêng trong kháng chiến chống Mỹ đã có hơn
1200 người hi sinh ngoài mặt trận. Cùng với sức người, nhân dân Phú Bình
còn đóng góp hơn 20.000 tấn thóc, hàng nghìn tấn đỗ, lạc và thực phẩm cho
kháng chiến.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Phú Bình đã có
11.816 người trực tiếp cầm súng đánh giặc, 1.340 người đã anh dũng hi sinh,
813 người bị thương, trong đó có nhiều thương binh nặng, 125 gia đình có
công với nước, 36 lão thành cách mạng, 6 cán bộ hoạt động tiền khởi nghĩa đã
được nhà nước khen thưởng, 15.339 Huân huy chương các loại; huyện Phú
Bình, hai xã Kha Sơn, Lương Phú và đồng chí Phạm Thanh Ngân được nhà
nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, 24 bà
mẹ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.[17, 948]
Tiểu kết
Phú Bình là một huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình có cả miền núi,
trung du và đồng bằng, thuận tiện cho phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp.
Địa hình có nhiều đồi núi thấp tạo khả năng, tiềm năng cung cấp đất cho xây
dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, công trình thủy lợi, khu công nghiệp. Sự
phát triển của mạng lưới đường giao thông quốc gia và nội tỉnh, nhất là QL37
và những trục đường được xây dựng và nâng cấp nối liến huyện với các địa
phương giáp ranh và thủ đô, Phú Bình sẽ có những vận hội mới phát triển
kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Đây là huyện có
truyền thống lịch sử lâu đời, nhân dân cần cù lao động, đoàn kết cùng nhau
16
xây dựng quê hương nên Phú Bình là địa phương luôn giữ vững ổn định chính
trị, xã hội. Tuy nhiên Phú Bình cũng có không ít những khó khăn như: xuất
phát điểm để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất thấp so
toàn dân thực hiện lối sống cần kiệm, văn minh, lịch sự; phổ biến rộng rãi
trong nhân dân những kiến thức văn hóa cần thiết cho sản xuất và đời
sống....”[Dẫn theo 18, 171]
Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã
ban hành Nghị quyết về vấn đề “xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc”. Trên cơ sở tổng kết những thành tựu cũng như
những hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở thời kỳ phát
triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
trên tầm cao của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã xác định phương hướng
chung để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam: “phương hướng chung
của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền
thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường xây dựng và bảo
18
vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,….”[2, 15]
Trong nghị quyết này, Đảng ta đã khái quát hóa năm quan điểm chỉ đạo
cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc.
3. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
4. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng
lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp
cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
Năm quan điểm này thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về
văn hóa ở bình diện khái quát cao, bao quát được toàn bộ những vấn đề cốt lõi
của việc xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Sự sáng tạo của
các hoạt động văn hóa – thể thao cơ sở.
Để thực hiện các nội dung chủ yếu trên, kế hoạch đề ra các phong
trào cụ thể sau:
1. Xây dựng người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến;
2. Xây dựng gia đình văn hóa;
3. Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư;
4. Xây dựng làng, bản, ấp, khu phố văn hóa;
5. Xây dựng công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang … có
nếp sống văn hóa;
6. Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại;
20
7. Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo.[25, 193 - 204]
Như vậy, nghị quyết hội nghị trung ương 5 khóa VIII đã bao quát
được tổng thể những nội dung cơ bản và chủ yếu để xây dựng và phát triển
văn hóa trong thời kỳ đổi mới, là “Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về văn
hóa của cách mạng nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
[Dẫn theo 18, 182]. Vì vậy, nó đã nhanh chóng có sức lan tỏa sâu rộng trong
cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội, hình
thành nhiều phong trào văn hóa ở các vùng miền, thu hút đông đảo quần
chúng tham gia, góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã
hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Sự hình thành của phong trào xây dựng làng văn hoá là nhu cầu đòi
hỏi tất yếu trong sự chuyển mình đi lên của khu vực nông thôn nói chung
và của các địa bàn dân cư như xóm, tổ, khối phố dân cư nói riêng. Năm
2001, Bộ Văn hoá Thông tin đã ban hành Quy chế công nhận danh hiệu gia
đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá. Tới năm 2003, các danh hiệu
“làng văn hoá, tổ dân phố văn hoá, gia đình văn hoá” được đưa vào trong
Luật thi đua khen thưởng. Theo đó, việc công nhận gia đình văn hoá được
định kỳ tiến hành 1 năm ở cấp cơ sở, danh hiệu làng văn hoá được định kỳ
bình xét 3 năm/lần. Đây thực sự là những cơ sở pháp lý quan trọng để định
trong việc công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư tiên tiến”,
tạo tiền đề xây dựng thôn, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa.
Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa văn hóa truyền thống, bảo tồn
có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, loại bỏ dần các hủ
tục lạc hậu, từng bước hình thành các phong tục tập quán mới văn minh, sống
và làm việc theo pháp luật, phù hợp với các yêu cầu chung của xã hội.
Tiếp tục tổng kết nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, đổi mới
công tác thi đua khen thưởng, cần ghi nhận và giải quyết một cách tích cực
nhất những kiến nghị về kinh phí của cuộc vận động ở khu dân cư và đội ngũ
cán bộ Mặt trận để có các cơ chế, điều kiện đảm bảo cho cuộc vận động
không ngừng được mở rộng và nâng cao chất lượng.
22
Xây dựng và phấn dấu theo các chỉ tiêu, quy chế, quy tắc về nếp sống
văn hóa. Huy động nguồn nhân lực của toàn xã hội tham gia các hoạt động
sáng tạo và xây dựng đời sống văn hóa, tạo điều kiện cho các hoạt động văn
hóa phát triển, từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp
phần thúc đẩy kinh tế xã hội của huyện phát triển.
Những nội dung chủ yếu của phong trào là:
1. Triển khai thực hiện phong trào sâu rộng, đồng đều ở các vùng trong
toàn huyện
2. Tiếp tục thực hiện những nội dung chủ yếu của phong trào toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
3. Nâng cao chất lượng các phong trào cụ thể: phong trào người tốt việc
tốt, xây dựng gia đình văn hóa
4. Gắn kết phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa với
đời sống kinh tế chính trị văn hóa
Để thực hiện được những mục tiêu và nội dung nêu trên, các văn bản
của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã chỉ rõ những biện pháp cụ thể như sau:
- Củng cố và nâng cao nhận thức.
- Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo.
3. Có môi trường cảnh quan sạch đẹp.
4. Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. [31]
2.1.3. Chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình.
Thực hiện theo chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình trong các kỳ
Đại hội Đảng lần thứ XXIII (11/2000), XXIV (10/2005), XXV (8/2010) “Tăng
cường hơn nữa công tác lãnh đạo chỉ đạo và quản lý của Nhà nước trong các hoạt
động văn hóa, quản lý khai thác, phát huy những giá trị về văn hóa, du lịch... trên địa
bàn huyện. Thực hiện tốt phong trào: Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa…”[16,
25], Ban chấp hành Đảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình đã đề ra chương
trình, kế hoạch phát triển đời sống văn hóa cơ sở huyện.
Thứ nhất, về mục đích yêu cầu, Huyện uỷ và UBND huyện khẳng định
phong trào cần đạt những mục đích sau:
24
- Tạo sự chuyển biến về nhận thức trong các cấp ủy Đảng, Chính quyền,
ban ngành, đoàn thể, từ trong các cơ quan nhà nước đến ngoài xã hội, trong cán
bộ, đảng viên,các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa và con người
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và của huyện.
- Tăng cường công tác chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự
phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể để tạo nên sức mạnh đồng bộ, đẩy
mạnh các phong trào đang triển khai như: phong trào xây dựng gia đình văn
hóa, xây dựng phong trào “Người tốt việc tốt”, phong trào “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng “cơ quan, đơn vị,
doanh nghiệp…đạt chuẩn văn hóa”, phong trào “Toàn dân rèn luyện theo
gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “Học tập, lao động sáng tạo”….
- Đẩy mạnh phong trào xã hội hóa văn hóa, xây dựng và từng bước
nâng cao chất lượng các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở đồng bộ cả về cơ sở
vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ, nội dung, phương thức hoạt động và
thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.
- Phối hợp và đẩy mạnh các phong trào quần chúng hiện có trong phong
trào chung TDĐKXDĐSVH, đồng thời lồng ghép bổ sung nội dung văn hóa