Xây dựng đường các bon cơ sở cho trạng thái thảm thực vật cây bụi có nguồn gốc sau canh tác nương rẫy ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ LAN
XÂY DỰNG ĐƢỜNG CÁC BON CƠ SỞ
CHO TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT CÂY BỤI
CÓ NGUỒN GỐC SAU CANH TÁC NƢƠNG RẪY
Ở HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thế Hưng. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Nếu sai tôi chịu hoàn
toàn trách nhiệm
Tác giả Nguyễn Thị Lan
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
theo chương trình đào tạo cao học Sinh học hệ chính quy, chuyên ngành Sinh
thái học, khóa 20 (2012-2014).

DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến sự hấp thụ các bon và dự án
CDM trong Lâm nghiệp 3
1.2. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất của thảm thực vật 7
1.2.1. Trên thế giới 7
1.2.2. Ở Việt Nam 10
1.3. Nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon/hấp thụ CO
2
của thảm thực vật . 13
1.3.1. Trên thế giới 13
1.3.2. Ở Việt Nam 16
1.4. Triển vọng thực hiện dự án CDM trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam 20
Chƣơng 2:MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 22
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 22
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.3. Nội dung nghiên cứu 23
2.4. Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 23
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24
Chƣơng 3:ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘIVÙNG
NGHIÊN CỨU 28
3.1. Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 28

iv
3.1.1. Vị trí địa lý 28
3.1.2. Địa hình 28


iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDM : Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism)
CERs : Chứng chỉ giảm phát thải được chứng nhận
(Certified Emission Reductions)
CS : Hàm lượng các bon
EB-CDM : Ban điều hành về CDM (Executive Board)
FAO : Tổ chức nông lương thế giới
IPCC : Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
(The Intergovermental Panel on Climate Change)
Q : Lượng CO
2
hấp thụ
ÔTC : Ô tiêu chuẩn
UNFCCC : Công ước chống biến đổi khí hậu toàn cầu
(United Nation Framework Convention on Climate Change)


Bảng 4.12. Sinh khối khô phần trên mặt đất của thảm cây bụi ở năm bỏ
hóa thứ 3 45
Bảng 4.13. Sinh khối khô phần trên mặt đất của một số loài cây ưu thế ở
thảm cây bụi bỏ hóa sau nương rẫy 3 năm 46

vi
Bảng 4.14. Sinh khối khô phần trên mặt đất của thảm cây bụi ở năm bỏ
hóa thứ 4 48
Bảng 4.15. Sinh khối khô phần trên mặt đất của một số loài ưu thế ở thảm
cây bụi bỏ hóa sau nương rẫy 4 năm 48
Bảng 4.16. Sinh khối khô phần trên mặt đất của thảm cây bụi ở năm bỏ
hóa thứ 5 49
Bảng 4.17. Sinh khối khô phần trên mặt đất của một số loài cây ưu thế ở
thảm cây bụi bỏ hóa sau nương rẫy 5 năm 51
Bảng 4.18. Tổng sinh khối khô phần trên mặt đất của thảm cây bụi 52
Bảng 4.19. Trữ lượng các bon tích lũy trong sinh khối phần trên mặt đất
của các trạng thái thảm cây bụi 53
Bảng 4.20. Tỷ lệ (%) trữ lượng các bon tích lũy trong sinh khối phần trên
mặt đất của các trạng thái thảm cây bụi 55
Bảng 4.21. Lượng CO
2
được hấp thụ trong sinh khối phần trên mặt đất
của các trạng thái thảm cây bụi 56
Bảng 4.22. Tỷ lệ (%) hàm lượng CO
2
được hấp thụ trong sinh khối phần
trên mặt đất của các trạng thái thảm cây bụi 57
Bảng 4.23. Kết quả tính toán đường các bon cơ sở 58
2
,
CH
4
, N
2
O, HFCs, PFCs, FS
6
, trong đó chủ yếu là khí CO
2
, được coi là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu. Nguồn gây phát
sinh khí nhà kính chủ yếu do việc sử dụng năng lượng từ việc đốt cháy nhiên
liệu, sản xuất công nghiệp (khai thác khoáng sản, sản xuất hóa chất,…), sản
xuất nông lâm nghiệp (sử dụng phân bón,…), hoạt động giao thông vận tải và
các nguyên nhân khác (cháy rừng, công nghiệp làm lạnh )
Nhằm hạn chế sự gia tăng khí nhà kính và sự ấm lên của trái đất, Công
ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đãđược soạn
thảo và thông qua tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển
năm 1992 và chính thức có hiệu lực vào tháng 3/1994. Tính đến tháng 5/2004,
có 188 quốc gia đã phê chuẩn Công ước này. Để thực hiện công ước này, Nghị
định thư Kyoto đãđược soạn thảo và thông qua năm 1997. Nghị định này là cơ
sở pháp lý cho thực hiện việc cắt giảm khí nhà kính thông qua các cơ chế khác
nhau, trong đó cơ chế phát triển sạch(CDM) là cơ chế „mềm dẻo‟ nhất và có
liên quan trực tiếp tới các nước đang phát triển.
Tính đến ngày 31/10/2012, có 4.920 dự án Cơ chế phát triển sạch đã được
Ban chấp hành quốc tế về CDM (EB) cho đăng ký, bao gồm các dự án về năng
lượng chiếm 71,71%, các dự án xử lý chất thải chiếm 12,41%, các dự án về
trồng rừng và tái trồng rừng chiếm 0,71% và các loại dự án khác chiếm
15,17%. Tổng tiềm năng giảm phát thải ước tính của các dự án này khoảng

Ở Thái Nguyên, hầu hết các nghiên cứu về lâm học và sinh thái học chỉ
tập trung vào nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực
vật; khả năng hấp thụ CO
2
của một số loại rừng trồng và rừng tự nhiên, đề xuất
giải pháp trồng rừng, tái trồng rừng tối ưu. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có
công trình nào nghiên cứu về đường các bon cơ sở.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Xây dựng đường các
bon cơ sở cho trạng thái thảm thực vật cây bụi có nguồn gốc sau canh tác
nương rẫy ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” nhằm cung cấp cơ sở khoa
học cho việc xác định tính hiệu quả về mặt môi trường trong triển khai các dự
án trồng rừng/tái trồng rừng ở huyện Phú Bình, tỉnhThái Nguyên.

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến sự hấp thụ các bon và dự án
CDM trong Lâm nghiệp
Cơ chế phát triển sạch - Clean Development Mechanism (CDM)
Cơ chế phát triển sạch là một trong ba cơ chế được đề ra bởi Nghị định
thư Kyoto gồm: Cơ chế đồng thực hiện; mua bán phát thải và cơ chế phát triển
sạch. Theo IPCC, trong hai thập kỷ tới ước tính tổng mức phát thải khí nhà
kính của các nước đang phát triển sẽ vượt tổng mức phát thải của các nước phát
triển. Chính vì vậy ngoài việc đạt được mức giảm thải đã cam kết của các nước
phát triển, làm thế nào để giảm được sự gia tăng phát thải khí nhà kính ở các
nước đang phát triển là một vấn đề được đặc biệt quan tâm.
Cơ chế phát triển sạch cho phép các nước phát triển có được các mức giảm
phát thải được chứng nhận từ việc thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà
kính ở các nước đang phát triển. Mức giảm các bon được chứng nhận do các dự
án CDM tạo ra, được gọi là đơn vị giảm phát thải được chứng nhận (CERs).

Rừng:
Theo Cẩm nang lâm nghiệp Việt Nam (2006) [1], rừng là một quần xã
sinh vật, trong đó cây rừng (gỗ hoặc tre nứa) chiếm ưu thế. Quần xã sinh vật
phải có một diện tích đủ lớn và có mật đỗ cây nhất định để giữa quần xã sinh
vật với môi trường, giữa các thành phần của quần xã sinh vật có có mối quan
hệ để hình thành hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài. Như vậy định
nghĩa này thiên về mô tả các tính chất sinh thái chung hơn là đưa ra các tiêu chí
định lượng cụ thể để xác định thế nào là một rừng.
Trong luật bảo vệ phát triển rừng có định nghĩa (2004): Rừng là một hệ
sinh thái bao gồm quần thể thực vật, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng
và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc
trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm

5
rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng
đặc dụng. Theo định nghĩa này đã nêu rõ tổ thành loài cây, độ che phủ tối thiểu
cần đạt của rừng.
Theo FAO (2002) [31], Rừng là những diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có cây
gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trước đây không phải là đất nông nghiệp
hoặc đất đô thị. Ở định nghĩa này, rừng được xác định bởi hai yếu tố là sự có
mặt của cây gỗ và lịch sử sử dụng đất không phải có mục đích khác như nông
nghiệp hoặc đô thị. Các cây này có khả năng đạt đến chiều cao tối thiểu là 5m ở
khu vực đó khi trưởng thành. Các khu vực rừng đang phục hồi mà chưa đạt
được các tiêu chuẩn như độ che phủ chưa tới 10% và chiều cao cây chưa đạt
5m cũng được coi là rừng, bởi vì những diện tích này có triển vọng thành rừng
dù tạm thời do tác động của con người hay thiên nhiên nó chưa phải là quần thể
thực vật. Thuật ngữ này đặc biệt còn bao gồm rừng giống, vườn giống, những
phần không thể thiếu của rừng khác như đường rừng, băng cản lửa và các đám
trống nhỏ; công viên quốc gia, khu bảo tồn và các khu rừng chức năng khác như
rừng phục vụ nghiên cứu, rừng lịch sử, rừng văn hóa, rừng thờ cúng, rừng chắn

yếu tố cốt lõi trong thuật ngữ của UNFCCC. Cũng theo khái niệm này, tái sinh
rừng sau khi rừng tạm thời bị mất độ che phủ không được tính là hoạt động tái
trồng rừng, bởi vì nó không bao hàm sự chuyển đổi về sử dụng đất.
Theo FAO (2002) [31], tái trồng rừng là tạo rừng trồng trên đất không có
rừng tạm thời, đất này vẫn đang được xếp loại là rừng (đất rừng). Theo khái
niệm này, hoạt động trồng rừng là có chủ định nhằm phục hồi lại trạng thái che
phủ của rừng, khi độ che phủ tạm thời bị giảm xuống dưới ngưỡng 10% do tác
động của con người hoặc tự nhiên. Kết quả của hoạt động tái trồng rừng là một
rừng trồng.
Tái trồng rừng - Afforestation:
Theo UNFCCC (2002)[42], Trồng mới rừng là hoạt động trồng, gieo
thẳng hạt hoặc thúc đẩy tái sinh hạt tự nhiên của con người nhằm tạo thành
rừng các khu vực mà không có rừng bao phủ trong thời gian ít nhất là 50 năm.

7
Theo FAO (2002) [31], Trồng mới rừng là tạo rừng trồng trên đất mà cho
đến trước khi trồng rừng không được xếp hạng là rừng (đất rừng).
1.2. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất của thảm thực vật
1.2.1. Trên thế giới
Mặc dù rừng chỉ che phủ 21% diện tích bề mặt đất, nhưng sinh khối thực
vật của nó chiếm đến 75% so với tổng sinh khối thực vật trên cạn. Lượng các
bon hấp thụ bởi rừng chiếm 47% tổng lượng các bon trên trái đất, nên việc
chuyển đổi đất rừng thành các loại hình sử dụng đất khác có tác động mạnh mẽ
đến chu trình các bon trên hành tinh. Những nghiên cứu hiện nay đã hướng vào
các nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình tích lũy và phát thải các bon của lớp
thảm thực vật rừng. Các hoạt động lâm nghiệp và sự thay đổi phương thức sử
dụng đất, đặc biệt là sự suy thoái rừng nhiệt đới là một nguyên nhân quan trọng
làm tăng lượng CO
2
trong khí quyển, ước tính khoảng 1,6 tỷ tấn/năm trong

khối khô thân, cành, lá và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200
lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới.
Khi nghiên cứu về sinh khối, phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan
trọng vì nó liên quan đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu, đây cũng là vấn
đề được nhiều tác giả quan tâm. Trong những điều kiện khác nhau, mỗi tác giả
áp dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có thể kể đến một số
nghiên cứu sau:
Aruga và Maidi (1963) đưa ra phương pháp “chlorophyll” để xác định
sinh khối thông qua hàm lượng chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất.
Đây là một chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức xạ
hoạt động quang tổng hợp.
Năng suất sơ cấp tuyệt đối là lượng chất hữu cơ tích lũy trong cơ thể thực
vật trong một đơn vị thời gian trên một đơn vị diện tích, lượng vật chất này mới
thực sự có ý nghĩa đối với đời sống con người. Từ đó, Woodwell. G.M (1965)
và Whitaker. R.H (1968) [41]đã đề ra phương pháp “thu hoạch” để nghiên cứu
năng suất sơ cấp tuyệt đối.

9
Sinh khối rừng có thể xác định nhanh chóng dựa vào mối liên hệ giữa sinh
khối với kích thước cây hoặc của từng bộ phận theo dạng hàm toán học nào đó.
Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu (Whitaker,
1966). Tuy nhiên do khó khăn trong việc thu hoạch hệ rễ của cây rừng, nên
phương pháp này chủ yếu dùng để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất.
Edmonton. Et. Al (1968) đưa ra phương pháp oxygen nhằm định lượng
oxygen tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh. Từ đó tính ra
được năng suất và sinh khối rừng.
Đáng chú ý trong những năm gần đây các phương pháp nghiên cứu định
lượng, xây dựng các mô hình dự báo sinh khối cây rừng đã được áp dụng thông
qua các mối quan hệ giữa sinh khối cây với các nhân tố điều tra cơ bản, dễ đo
đếm như đường kính ngang ngực, chiều cao cây,… giúp cho việc dự đoán sinh

2
tích lũy trong toàn bộ hệ sinh thái. Các nhà sinh thái
rừng thường sử dụng cách tiếp cận này để dự tính tổng sản lượng nguyên hô
hấp của hệ sinh thái và sinh khối hiện có của nhiều dạng rừng trồng hỗn giao ở
Bắc Mỹ (Botkim, 1970; Woodwell, 1970) (dẫn theo Võ Đại Hải, 2009) [6].
Cách tiếp cận thức ba: Phương pháp phân tích hiệp phương sai dòng xoáy
đã cho phép định lượng sự thay đổi của lượng CO
2
theo mặt thẳng đứng của tán
rừng. Căn cứ vào tốc độ gió, hướng gió, nhiệt độ và số liệu CO
2
theo mặt phẳng
đứng sẽ được sử dụng để dự đoán lượng các bon đi vào và đi ra khỏi hệ sinh
thái rừng theo định kỳ từng giờ, từng ngày, từng năm. Kỹ thuật này đã áp dụng
thành công ở rừng thứ sinh Harward-Massachusetts. Tổng lượng các bon tích
lũy dự đoán theo phương pháp phân tích hiệp phương sai dòng xoáy là 3,7
megagram/ha/năm. Tổng lượng các bon hô hấp của toàn bộ hệ sinh thái vào
ban đêm là 7,4 megagram/ha/năm, nghĩa là tổng lượng các bon đi vào hệ sinh
thái rừng là 11,1 megagram/ha/năm (Wofsy, 1993) (dẫn theo Võ Đại Hải,
2009) [6].
1.2.2. Ở Việt Nam
Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng ở Việt Nam được tiến hành
vào những năm 1980, những công trình nghiên cứu này đã đạt được những kết
quả có ý nghĩa, có thể kể tới một vài công trình sau:

11
Nguyễn Hoàng Trí (1986) [21]với công trình “Góp phần nghiên cứu sinh
khối và năng suất quần xã Đước Đôi (Rhizophora apiculata) ở Cà Mau - Minh
Hải” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối
một số quần xã rừng Đước Đôi (Rhizophora apiculata) ven biển Minh Hải,

thấy: Tính theo biểu quá trình sinh trưởng (Nguyễn Ngọc Lung, Đào Công
Khanh, 1999), trữ lượng thân cây cả vỏ 1 ha lúc 60 tuổi là 586 m
3
/ha (phần cây
sống) thì Biomass thân cây khô tuyệt đối là: 586 × 0,532 = 311,75 tấn. Sinh
khối toàn rừng đạt 311,75 × 1,3736 = 428,2 tấn. Nếu tính toán theo biểu Sinh
khối thì giá trị này là 434,2 tấn. Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu
sản lượng là 1,4% đây là mức sai số có thể chấp nhận được.
Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [3], rừng trồng Thông Mã Vĩ thuần loài 20
tuổi có tổng sinh khối tươi là 321,7-495,4 tấn/ha, tương đương với lượng sinh
khối khô là 173,4-266,2 tấn/ha. Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có
tổng sinh khối tươi là 251,1-433,7 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối
khô thân là 132,2-223,4 tấn/ha.
Võ Đại Hải (2009) [5]khi nghiên cứu về sinh khối ở bốn loại rừng trồng
cho kết quả sau: Rừng trồng Thông mã vĩ từ 5-30 tuổi sinh khối đạt từ 21,12-
315,05 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa từ 5-45 tuổi có sinh khối từ 20,79-
174,72 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1-7 tuổi có sinh khối đạt từ 4,09-138,13
tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn Urophylla từ 1-7 tuổi có sinh khối từ 5,67-117,92
tấn/ha. Ngoài ra tác giả thiết lập các phương trình tương quan giữa sinh khối
với các nhân tố điều tra lâm phần đường kính thân, chiều cao vút ngọn, tuổi
lâm phần, mối quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô, sinh khối trên mặt
đất và dưới mặt đất theo các cấp đất.
Vũ Tấn Phương (2006) [11]khi nghiên cứu về sinh khối cây bụi thảm tươi
tại Đà Bắc - Hòa Bình; Hà Trung, Thạch Thành, Ngọc Lặc - Thanh Hóa cho kết
quả sau: Sinh khối tươi biến động rất khác nhau giữa các loại thảm tươi, cây
bụi: Cỏ Lau lách có sinh khối tươi cao nhất khoảng 104 tấn/ha, tiếp đến là trảng
cây bụi cao 2-3m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha. Các loại cỏ như cỏ lá
tre, có tranh và cỏ chỉ có sinh khối biến động khoảng 22-31 tấn/ha. Về sinh

13

huỳnh,…) được tách ra từ dòng khí. Hàm lượng các bon được tính toán bằng
phương pháp không tán sắc của vùng quang phổ hồng ngoại. Phân tích hàm
lượng các bon bằng hai phương pháp phép sắc ký của dòng khí và quang phổ
khối (Gifford, 2000). Sử dụng phương pháp đốt lò có thể phân tích được hàm

14
lượng Nitơ oxit cùng với hàm lượng CO
2
và có thể phân tích thêm các loại
khoáng để tăng cường thêm giá trị của số liệu.
Năm 1980, Brown và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng
các bon trung bình trong rừng nhiệt đới Châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinh
khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1m, tương đương với 42- 43 tỷ
tấn các bon trong toàn châu lục. Năm 1991, Houghton R.A đã chứng minh
lượng các bon trong rừng nhiệt đới Châu Á là 40 - 250 tấn/ha, trong đó 50 -
120 tấn/ha ở phần thực vật và đất (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [7].
Năm 1986, Paml. C.A và cộng sự [32]cho rằng lượng các bon trung bình
trong sinh khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới Châu Á là 185 tấn/ha và
biến động từ 25-300 tấn/ha. Kết quả nghiên cứu của Brown (1997) cho thấy
rừng nhiệt đới Đông Nam Á có lượng sinh khối trên mặt đất 50-430 tấn/ha và
trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350-400 tấn/ha.
Brown và Pearce (1994) [26]đưa ra các số liệu đánh giá lượng các bon và
tỷ lệ thất thoát đối với rừng nhiệt đới. Theo đó một khu rừng nguyên sinh có
thể hấp thụ được 280 tấn/ha và sẽ giải phóng 200 tấn các bon/ha nếu di chuyển
thành du canh du cư và giải phóng nhiều hơn các bon một chút nếu được
chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ 115 tấn
các bon và con số này giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng chuyển đổi sang canh tác
nông nghiệp.
Năm 1995, Murdiyarso D [32]đã nghiên cứu và đưa ra những dẫn liệu
rừng Indonesia có lượng các bon hấp thụ từ 161-300 tấn/ha trong phần sinh

Tại Philipines, ngay sau khi khai thác lượng các bon bị mất là 50%, so với
rừng thành thục trước khai thác ở Indonesia là 38-75% (Lasco, 2002) [39].
Phương thức khai thác cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới mức thiệt hại do khai
thác hay lượng các bon bị giảm. Bằng việc áp dụng phương thức khai thác
giảm thiểu (RIL) tác động ở Sabah (Malaysia) sau khai thác một năm, lượng
sinh khối đã đạt 44-67% so với trước khai thác. Lượng các bon trong lâm

Trích đoạn Mục tiêu nghiên cứu Nội dung nghiên cứu Sinh khối khô của thảmcây bụi Lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối của thảmcây bụi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status