Đánh giá công tác bồi thường – giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư Thành Lập tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


NGUYỄN VĂN KHIÊM
Tên đề tài:ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG - GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU DÂN CƯ THÀNH LẬP TẠI
HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành

: Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành

: Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Lớp : K42 – ĐCMT N01
Khoá học

:

2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Đỗ Thị Lan Thái Nguyên, năm 2014

i
Lời cảm ơn

Thực tập tốt nghiệp là thời gian quan trọng trong quá trình đào tạo kỹ sư
trong các trường đại học và nhằm thực hiện phương châm học đi đôi với
hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa
Quản lý Tài Nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến

1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1. Khái niệm bồi thường và GPMB 4
2.1.2. Đặc điểm của quá trình BT&GPMB 5
2.1.3. Yêu cầu của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 7
2.1.4. Một số yếu tố tác động đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng . 7
2.2. Cơ sở pháp lý của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 8
2.2.1. Các văn bản pháp quy của nhà nước có liên quan đến công tác bồi
thường GPMB 8
2.2.2. Các văn bản pháp quy của địa phương có liên quan đến công tác
BT&GPMB 9
2.3. Công tác giải phóng mặt bằng trên thế giới và trong nước 10
2.3.1. Công tác giải phóng mặt bằng trên thế giới 10
2.3.2. Công tác GPMB tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước 16
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 25
3.3. Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội 25
3.3.2. Đánh giá thực trạng công tác BT&GPMB 25
3.3.3. Ảnh hưởng của công BT&GPMB đến đời sống của nhân dân tại khu
vực dự án 25
iii

3.3.4. Những thuận lợi khó khăn trong công tác BT&GPMB 26
3.4. Phương pháp nghiên cứu 26
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

Bảng 4.6. Kết quả bồi thường tài sản, vật kiến trúc 42
Bảng 4.7. Kết quả hỗ trợ hộ nghèo bị thu hồi đất 43
Bảng 4.8. Kết quả hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp và thưởng
BGMB sớm 43
Bảng 4.9. Tổng hợp kinh phí BT&GPMB và chính sách hỗ trợ 44
Bảng 4.10. Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra hộ gia đình 45
Bảng 4.11. Ý kiến nhận xét của người dân về công tác BT&GPMB tại dự án
Khu dân cư Thành Lập – xã Hồng Tiến 47 i
Lời cảm ơn

Thực tập tốt nghiệp là thời gian quan trọng trong quá trình đào tạo kỹ sư
trong các trường đại học và nhằm thực hiện phương châm học đi đôi với
hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa
Quản lý Tài Nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến
hành thực tập tốt nghiệp với chuyên đề: “Đánh giá công tác bồi thường –
giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư Thành Lập tại huyện Phổ
Yên, tỉnh Thái Nguyên”.
Trong quá trình nghiên cứu và viết khóa luận em đã nhận được sự quan
tâm, hướng dẫn của nhiều tập thể cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, nhất là các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý Tài
Nguyên là những người đã hướng dẫn truyền đạt những kiến thức và kinh
nghiệm quý báu trong những năm tháng học tập tại trường. Đồng thời em xin
cảm ơn các bác, cô, chú, anh chị cán bộ tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường
huyện Phổ Yên, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc cung cấp những thông
tin cũng như đóng góp ý kiến có liên quan đến vấn đề nghiên cứu giúp em
hoàn thành khóa luận. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo

gia và lợi ích của toàn xã hội. Thực tế qua những dự án đã thực hiện cho thấy
công tác GPMB vẫn còn tồn tại nhiều bất cập gây khó khăn cho những nhà
đầu tư, vấn đề đời sống, việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất sản
xuất, việc bồi thường có được thoả đáng không, việc lợi dụng chức quyền để
tham nhũng tiền bồi thường, việc người dân hám lợi mà có những hành động
lừa đảo để chuộc lợi… đã và đang gây nhiều nguy cơ mất ổn định an ninh,
chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm thất thoát nguồn ngân sách của Nhà nước
và làm ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, trên địa bàn huyện Phổ Yên
tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đã có nhiều công trình, dự án
được triển khai nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế của huyện, nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp
phát triển chung của cả nước. Việc xây dựng các khu dân cư, thành lập các
2
nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp… đang dần dần làm thay đổi cơ cấu
sử dụng đất của huyện. Công tác giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư
cũng vì thế diễn ra mạnh mẽ, cũng như các địa phương khác trên cả nước việc
thực hiện công tác này có những mặt tích cực nhưng cũng gặp nhiều những
vướng mắc, khó khăn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân và sự phát
triển kinh tế xã hội. Có những dự án đã hoàn thành, các công trình được đưa
vào sử dụng song bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều dự án treo do công tác
BT&GPMB còn gặp khó khăn, nhiều đơn thư khiếu nại được gởi tới các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị giải quyết liên quan đến việc
BT&GPMB.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu
nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên, Trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo - PGS.TS Đỗ Thị Lan, em
đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường – giải phóng
mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư Thành Lập tại huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên”.

xây dựng một công trình mới.
- Thu hồi đất: Là việc Nhà nước ra Quyết định hành chính để thu lại
quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này.
- Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Các
hình thức bồi thường đất:
+ Bồi thường bằng tiền
+ Bồi thường bằng đất có cùng mục đính sử dụng.
- Tại khoản 7 Điều 4 của luật đất đai quy định: Hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề
mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. Các chính
sách hỗ trợ tại điều 17 Nghị định 69/2009/NĐ-CP bao gồm:
+ Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở;
+ Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và
tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp;
+ Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất vườn, ao
không được công nhận là đất ở;
+ Hỗ trợ khác.
- Theo điều 4 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP: Tái định cư là việc di
chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và làm ăn. Tái định cư bắt buộc là sự
5
di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi đất hoặc trưng dụng đất
để thực hiện các dự án.
TĐC được hiểu là một quá trình bồi thường thiệt hại về đất, tài sản, di
chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu
nhập và cơ sở vật chất.
TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT-XH đối với bộ
phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung của đất nước.
Hiện nay nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì

do các tài sản gắn liền với đất rất đa dạng. Chính vì vậy khi thực hiện công tác
BT&GPMB cần có sự phối hợp hài hòa giữa các cấp chính quyền, các ban
ngành có liên quan và người dân. Cần áp dụng những chính sách hợp lí để
đảm bảo lợi ích của các bên tham gia. (Đỗ Thị Lan, 2007).
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt
của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở
+ Do yếu tố lịch sử để lại nên nguồn gốc sử dụng đất phức tạp và do cơ
chế chính sác chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế sử dụng đất nên chưa giải
quyết được các vướng mắc và tồn tại cũ
+ Việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ dẫn đến các hiện tượng lấn chiếm,
xây dựng nhà trái phép nhưng lại không được chính quyền địa phương xử lý
dẫn đến việc phân tích hồ sơ đất đai và áp giá phương án bồi thường gặp rất
nhiều khó khăn
+ Thiếu quỹ đất dành cho xây dựng khu TĐC cũng như chất lượng khu
TĐC thấp chưa đảm bảo được yêu cầu …
+ Việc áp dụng giá đất ở để tính bồi thường giữa thực tế và quy định của
Nhà nước có những khoảng cách khá xa cho nên việc triển khai cũng không
được sự đồng thuận của những người dân
Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau đều có những tính đặc
thù riêng biệt do đó công tác tổ chức thực hiện cũng khác nhau. ii
MỤC LỤC

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2

bồi thường GPMB
- Luật Đất đai 2003
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/07/2007 của Chính phủ về sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về Quy
định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính
hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004
của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính
phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 06/2007/TT- BTNMT ngày 25/05/2007 hướng dẫn thực
hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của
Chính phủ về Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự bồi thường hỗ trợ tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ Về việc Quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
tái định cư
- Thông tư số 14/2009/TT- BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên
& Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự,
thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
9
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/07/2007 của Chính phủ về sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
2.2.2. Các văn bản pháp quy của địa phương có liên quan đến công tác
BT&GPMB

- Nghị quyết 26/2009/NQ-HĐND ngày 12/12/2009 về việc thông qua
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên.
2.3. Công tác giải phóng mặt bằng trên thế giới và trong nước
2.3.1. Công tác giải phóng mặt bằng trên thế giới

Công tác giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc
Về pháp luật đất đai, Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với pháp
luật Việt Nam. Tuy nhiên nhìn tổng thể, việc chấp hành pháp luật của người
Trung Quốc rất cao. Việc sử dụng đất tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà
nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai. Do
vậy, thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà ở.
Về đền bù thiệt hại về đất đai, do đất đai thuộc sở hữu Nhà nước nên
không có chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông
nghiệp, tùy trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng
bị thu hồi đất.
Về phương thức đền bù thiệt hại, Nhà nước thông báo cho người sử dụng
đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có
quyền lựa chọn các hình thức đền bù thiệt hại bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu
ở mới. Tại thủ đô Bắc Kinh và Thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa
chọn đền bù thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc,
nơi làm việc của mình.
Về giá đền bù thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường. Mức giá này cũng
được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được
11
điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác
động điều chỉnh tại chính thị trường đó. Đối với đất nông nghiệp, việc đền bù
thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất.
Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng
đồng bộ và kịp thời, thường xuyên đáp ứng nhu cầu nhiều loại căn hộ với các

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 27
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 30
4.2. Đánh giá thực trạng công tác BT&GPMB 35
4.2.1. Đối tượng và điều kiện bồi thường 35
4.2.2. Quy trình thực hiện BT&GPMB 36
4.2.3. Đánh giá kết quả bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất tại khu
vực giải phóng mặt bằng 38
4.2.3.2. Kết quả về công tác hỗ trợ 42
4.2.4. Tổng hợp kinh phí BT&GPMB và chính sách hỗ trợ 44
4.2.5. Đánh giá kết quả điều tra ý kiến của người dân về công tác BT và giải
phóng mặt bằng khu vực dự án 44
4.4. Thuận lợi và khó khăn và đề xuất giải pháp 50
4.4.1. Thuận lợi 50
4.4.2. Khó khăn 51
4.4.3. Một số giải pháp đề xuất 51
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

13
Theo quy định, có ba phương pháp xác định trị giá đất và tài sản căn cứ
theo loại bất động sản: tính theo giá mua bán đối với đất ở, tính theo lợi tức
phát sinh đối với đất kinh doanh hoặc có thu hoạch, và cuối cùng là tính theo
giá trị tái xây dựng kèm khấu hao tương đương nếu vẫn không xác định được
bằng hai phương pháp trên. Thời điểm để xác định giá trị bồi thường là thời
điểm thực tế thu hồi.
Khái niệm “đền bù tương xứng” còn cân nhắc giữa lợi ích công cộng, đối

đất vì mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự “hi
sinh” mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng. Các chương
trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn theo Luật cho đất bị dự án chiếm dụng,
hoặc cho một số ít trường hợp thu hồi đất để xây dựng khu TĐC.
Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường TĐC đang từng
bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với vấn đề kinh tế,
xã hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt khác từ thực tế
khách quan và sự chuyển biến nhận thức, người bị ảnh hưởng quan tâm ngày
càng lớn về quyền lợi và phúc lợi cho họ, vì vậy TĐC ngày càng được xem là
chương trình phát triển của quốc gia. Kinh nghiệm thực tiễn đã giúp cho các
nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà thực thi đi
đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự thiếu quan tâm
và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn hơn rất nhiều
chi phí TĐC đúng đắn. Hơn nữa, những người bị bần cùng hóa đến một thời
điểm nhất định sẽ là nguyên làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân. Do vây, tránh
hay giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong việc di dân TĐC, cộng với việc
thỏa đáng cho những người bị ảnh hưởng, ngoài việc lợi ích về nền kinh tế,
còn đảm bảo tính công bằng đối với họ, điều này giúp cho các chủ thể an tâm
trong quá trình triển khai thực hiện dự án.
TĐC được thể hiện theo ba yếu tố quan trọng:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ
và phương tiện phù hợp
- Trợ cấp khôi phục để ít nhất người bị ảnh hưởng có mức sống đạt hoặc
gần đạt so với mức sống trước khi có dự án.
15
Đối với các dự án có di dân TĐC, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di
dân là yếu tố không thể thiếu ngay từ chu kỳ đấu tiên của việc lập dự án đầu
tư và những nguyên tắc chính phải đề cập đến gồm:
- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di

Công tác giải phóng mặt bằng ở Hà Nội
Theo Ban chỉ đạo GPMB TP. Hà Nội, trong năm 2013, các quận, huyện,
thị xã đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 22.988 tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất tại các dự án trên địa bàn TP. TP đã
chi trả hơn 6.127 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ; Phê duyệt bố trí tái định cư
cho 1.390 hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở. Đã thu hồi và nhận bàn
giao mặt bằng cho hơn 1.033 ha đất đai tại 209 dự án. Trong quá trình GPMB,
đã có một số địa bàn quận, huyện có kết quả thực hiện công tác thu hồi đất
GPMB tốt, với diện tích đất đã thu hồi đạt khối lượng cao như: Cầu Giấy, Từ
Liêm, Thạch Thất, Đan Phượng. Đa số người bị thu hồi đất đều nghiêm chỉnh
chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhận
tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho dự án. Đặc biệt năm 2013
thành phố đã hoàn thành thu hồi GPMB 49,12 ha tại các dự án giao thông
trọng điểm, đặc biệt là nhưng công trình được Chính phủ và thành phố chốt
tiến độ phải hoàn thành công tác thu hồi đất GPMB tại nhiều dự án trọng
điểm, như đường nối từ cầu Nhật Tân đến sân bay Nội Bài, quốc lộ 3 mới
đoạn Hà Nội – Thái Nguyên, đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đường vành
đai 1… khối lượng công tác thu hồi đất GPMB tại các dự án giao thông trọng
điểm năm 2013 tuy không lớn khoảng 110 ha, gồm hơn 31 ha đất tại các dự
án giao thông trọng điểm của Bộ GTVT và hơn 79 ha tại các dự án của thành
phố, song phần lớn là những trường hợp có nhiều khó khăn, vướng mắc nhất
do chủ yếu là thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, trên địa bàn
toàn thành phố năm 2013, UBND các quận huyện, thị xã cũng đã phải ban
hành 570 quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo thẩm quyền và buộc phải tiến
hành cuộc cưỡng chế thu hồi đất, bảo vệ thi công đối với 275 hộ cố tình chây
ỳ tại 16 dự án. Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2013, triển khai
nhiệm vụ công tác GPMB của TP Hà Nội năm 2014 diễn ra sáng 9/1, Phó
Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Hồng Khanh đánh giá: Trong năm qua, các
chương trình về GPMB thu hồi đất được triển khai tích cực, đặc biệt thành
phố đã tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trọng điểm đô thị,

tham mưu cho UBND tỉnh Thanh Hóa bố trí tái định cư tại các phường, xã
trên địa bàn theo hướng nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ. Làm tốt công tác bồi
thường GPMB đã góp phần quan trọng cho nhiều dự án trên địa bàn như dự
án phát triển toàn diện kinh tế - xã hội TP Thanh Hóa (CSEDP), tiểu dự án 2
thuộc dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A đoạn Dốc Xây-TP Thanh Hóa,
khu đô thị số 1 trung tâm TP Thanh Hóa, Đại lộ Nam sông Mã, tuyến đường
từ ngã ba Voi (TP Thanh Hóa) đi thị xã Sầm Sơn, hệ thống tiêu úng Đông
Sơn, nhiều khu dân cư, khu tái định cư trên địa bàn,v.v đã và đang đồng loạt
triển khai thi công.
Điển hình như dự án CSEDP. Đây là dự án lớn, đa lĩnh vực, có phạm vi
ảnh hưởng rộng, đi qua 11 phường, xã của TP Thanh Hóa với diện tích đất
phải thu hồi 87,3 ha, có 1.557 hộ bị ảnh hưởng, trong đó có 257 hộ và 6 cơ
quan, đơn vị phải di chuyển, tổng kinh phí bồi thường GPMB dự án dự kiến
khoảng 531 tỷ đồng. Hơn nữa, thực hiện cam kết với các nhà tài trợ, công tác
bồi thường GPMB dự án CSEDP phải triển khai gấp rút, trong thời gian ngắn,
bàn giao mặt bằng sạch cho các đơn vị liên quan để triển khai thi công các
công trình đúng tiến độ. Do tập trung huy động các nguồn lực phục vụ GPMB
dự án CSEDP, đến tháng 12-2013, Ban GPMB và Tái định cư đã bàn giao
mặt bằng tất cả các gói thầu xây lắp của dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các
đơn vị triển khai thi công đồng bộ các hạng mục công trình. Hiện nay, còn

Trích đoạn Đánh giá kết quả điều tra ý kiến của người dân về công tác BT và giả Thuận lợi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status