Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng tại địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


HOÀNG THỊ DIỆP ANH Tên đề tài :
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG CAO TỐC HÀ NỘI -
HẢI PHÒNGTẠI HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi Trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khóa học : 2010 – 2014

THÁI NGUYÊN, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ nhiệt tình, sự góp ý các ý kiến quý báu của nhiều tập thể và cá nhân, đã tạo
điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này.
Lời đầu tiên, tôi xin chân trọng cảm ơn TS. Dư Ngọc Thành đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài.
Tôi xin chân trọng cảm ơn lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi
cục thống kê, Văn phòng Hội đồng nhân dân, UBND huyện Ân Thi, UBND các xã:
Xuân Trúc, Vân Du, Đào Dương, Tân phúc, Bãi Sậy đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong thời gian nghiên cứu thực hiện nội dung đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các cán bộ phòng Tài nguyên – Môi
trường và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin chân trọng cảm ơn!

iii

MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2. Mục đích, yêu cầu 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3


2.2.2.1 Thời kỳ trước 1987 10

2.2.2.2 Thời kỳ 1987 đến 1993 11

2.2.2.3 Thời kỳ 1993 đến 2003 12

iv
2.2.2.4 Thời kỳ từ 2003 đến nay 15

2.3 Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hưng Yên 17

2.3.1 Các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách Pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư 17

2.3.2 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 18

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 20

3.2 Nội dung nghiên cứu 20

3.2.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Ân Thi 20

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Ân Thi 20


4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 23

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 24

4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dich cơ cấu kinh tế 24

4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 24

4.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 25

4.1.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 26

4.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 27

4.2.1 Đất nông nghiệp của huyện 27

4.2.2 Đất phi nông nghiệp của huyện 28

4.2.3 Đất chưa sử dụng 30

4.3. Kết quả thực hiện chính sách bồi thường, GPMB của dự án cao tốc Hà Nội - Hải
Phòng, đoạn qua huyện Ân Thi 30

4.3.1 Giới thiệu khái quát về dự án 30

4.3.2 Cơ sở pháp lý để thực hiện dự án 32

4.3.3. Kết quả thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án 33



4.4.3 Nhóm giải pháp về chính sách tái định cư 61

4.4.4 Chính sách hỗ trợ và ổn định cuộc sống 61

4.4.5 Hệ thống văn bản 62

PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Kiến nghị 64 vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Các nhóm đất chính của huyện Ân Thi 23

Bảng 4.2 Dân số, lao động, việc làm của huyện Ân Thi năm 2006 và 2012 25

Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2012 28

Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2012 29


công việc đầu tiên, có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định để thực hiện thành công một
dự án, công tác thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng là vấn đề hết sức nhạy cảm và
phức tạp, mang tính thời sự cấp bách, nó tác động tới mọi vấn đề đời sống kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, chính trị của cộng đồng dân cư, nhất là đối với người dân nông
thôn có đất bị thu hồi, đã mất vĩnh viễn một phần hoặc toàn bộ diện tích đất sản xuất
nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hằng ngày, do vậy đòi hỏi được sự
quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành để giải quyết những bất cập xảy ra đối với
người có đất bị Nhà nước thu hồi đất.
Hưng Yên là một tỉnh có vị trí địa lý tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và Hải
Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, có vị trí địa lý rất thuận lợi phát triển kinh
tế, Tỉnh Hưng Yên, có tuyến Quốc lộ 5 Hà Nội Hải phòng, Quốc Lộ 39, 38A và các
tuyến tỉnh lộ phân bố tương đối đều, rất thuận lợi cho việc đi lại giao thông hàng
hoá với các tỉnh thành trong cả nước, có nhiều điều kiện phát triển sản xuất kinh tế
công nghiệp, thực tế Hưng Yên đã và đang có các khu công nghiệp vừa và nhỏ thu
hút hàng chục nghìn lao động mỗi năm, trong thời gian gần đây quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đang diễn ra rất mạnh, nhu cầu về quỹ đất sạch là hết sức
2

quan trọng, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước về đầu tư để sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, đây là địa bàn thuận lợi để thúc đẩy, phát triển
kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ của tỉnh.
Huyện Ân Thi nằm ở phía Đông của tỉnh Hưng Yên, toàn huyện có 20 xã và
01 thị trấn, có đường Quốc lộ 38 và Tỉnh lộ 200 đi qua rất thuận lợi cho việc giao
lưu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt hiện nay Nhà nước đầu tư xây dựng tuyến
Cao tốc Hà Nội Hải Phòng, dự kiến quý 2 năm 2015 đi vào sử dụng mở ra nhiều cơ
hội phát triển kinh tế, xã hội…đồng thời huyện Ân Thi trong những năm qua có tốc
độ phát triển kinh tế duy trì mức ổn đỉnh 10,5%/năm. Trong thời gian gần đây có

đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng tại địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
”.
1.2. Mục đích, yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất đối với dự án tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đoạn
qua huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quá trình thực hiện chính
sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất làm dự án.
1.2.2 Yêu cầu
- Số liệu, tài liệu khách quan, chính xác.
- Nắm chắc Luật đất đai, các Thông tư, Nghị định, văn bản dưới luật, các quy
định có liên quan đến công tác bồi thường thiệt hại và GPMB.
- Điều tra thu thập kết quả của việc GPMB, phân tích và nhận xét dự án
- Đề xuất các phương án, giải pháp trên cơ sở các Nghị định, Quy định, kết quả
nghiên cứu phù hợp với thực tế của địa phương và mang tính khả thi.
1.3. Ý nghĩa
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hệ thống các chính
sách bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Ân Thi và đề
xuất các phương án có tính khả thi và rút kinh nghiệm cho công tác GPMB.
- Góp phần hoàn thiện chính sách, phương thức bồi thường thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn huyện.
- Góp phần hạn chế, giải tỏa những bức xúc về khiếu kiện của người dân bị
thiệt hại do phải giải tỏa mặt bằng, bàn giao đất để triển khai dự án trên địa bàn.
- Việc hoàn thành đề tài là cơ sở cho sinh viên củng cố và hoàn thiện kiến thức
4

2.1.1.2 Hỗ trợ
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa
điểm mới (Nghị định 197/2004/NĐ-CP)
2.1.1.3 Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và làm ăn. Tái
định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi nhà nước thu hồi đất hoặc
trưng dụng đất để thực hiện các dự án phát triển (Nghị định 197/2004/NĐ-CP)
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới.
6

Tái định cư là việc không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính
sách giải phóng mặt bằng.
2.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường
Bồi thường là quá trình thực hiện các bước như tuyên truyền, giải thích, phân
tích về ý nghĩa, mục đích của việc tiến hành thực hiện xây dựng một dự án, hướng
dẫn người có đất bị thu hồi kê khai các loại đất có diện tích bị thu hồi, tính toán giá
trị thiệt hại, chi trả bồi thường…, liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham
gia và lợi ích của toàn xã hội nó thể hiện mức độ tính chất khác nhau đối với mỗi dự
án (Chính Phủ, 2004).
Quá trình bồi thường, GPMB có các tính đa dạng và tính chất phức tạp sau:
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau. Khu vực đô thị mật độ

Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất. Chính phủ có thẩm quyền thu hồi đất
nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức
này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất.
Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc
sở hữu Nhà nước.
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, tổ
chức, cá nhân (người sử dụng đất) nào sử dụng đất thì có trách nhiệm bồi thường.
Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả. Tiền bồi thường bao gồm các
khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho
người có đất bị thu hồi. Ngoài ra, Pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức
nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể
chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000-
2.175.000 nhân dân tệ/ha.
Về nguyên tắc bồi thường: các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho
người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ. Ở Bắc Kinh,
phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của
họ có thể mua được căn hộ mới. Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể
8

dùng khoản tiền bồi thường mua được khoảng 2 căn hộ ở cùng một nơi.
Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi
thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở. Những đối tượng trong diện giải toả
mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên
thực tế họ thường mua nhà ở ngoài thị trường.
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng: Cục quản lý tài nguyên

Về giá đất làm căn cứ bồi thường, GPMB: căn cứ vào giá do một Uỷ ban của
Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá trên thị trường chuyển nhượng bất động
sản. Việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt. Nếu phải di chuyển nhà đến nơi mới,
Uỷ ban này sẽ chỉ đạo cho người dân biết mình đến đâu, phải trả tiền một lần, được
cho thuê hay mua trả góp Công tác TĐC luôn ở thế chủ động.
Tuy nhiên cũng có trường hợp khi bị thu hồi không chấp nhận giải phóng di
dời, cơ quan Nhà nước có chức năng thẩm quyền, kiểm tra, xem xét một cách kỹ
lưỡng, nếu đã đúng và đầy đủ thì người bị thu hồi không chuyển đi, không chấp
nhận di dời, sẽ thực hiện cưỡng chế hoặc thực hiện phương án hỗ trợ thi công, đây
là hình thức mệnh lệnh có tính chất áp đặt nhằm đạt được mục tiêu, mục đích của
dự án đề ra. Việc người có đất bị thu hồi có thể dẫn tới khiếu nại sẽ tiếp tục được
giải quyết tại toà án (Trích theo Nguyễn Ánh Tuyết, 2002).
2.2.1.3. Tại Australia
Luật đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước
và sở hữu tư nhân. Luật đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu
đất đai. Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc
mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai.
Theo luật của Australia 1989 có hai loại thu đất, đó là thu đất bắt buộc và thu
đất tự nguyện.
- Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất.
Trong thu đất tự nguyên không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà việc thoả
thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất. Chủ có đất cần được thu hồi và người thu hồi
đất sẽ thoả thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thị
trường. Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thoả thuận và cũng không
bên nào được áp đặt đối với bên kia.
10
- Thu hồi đất bắt buộc được Nhà nước Australia tiến hành khi Nhà nước có

11
- Về tình hình thực hiện chính sách việc bồi thường, GPMB: Khi Nhà nước
thu hồi đất, tài sản công trình, vật kiến trúc xây dựng và cây vối hoa màu: về đất thì
bồi thường từ 01 đến 04 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng thu. Đối
với hoa màu thì được bồi thường đúng mức, đúng giá trị hoa màu trên đất. Đối với
nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ xây dựng,
đảm bảo cho hộ gia đình ổn định có nhà ở. Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình
cụ thể về phong tục tập quán của địa phương Nhà nước chi trả tiền phí tổn di
chuyển. Trong quá trình tổ chức thực hiện những nguyên tắc cơ bản của chính sách
thu hồi, bồi thường, GPMB trong thời kỳ này là đúng đắn, đảm bảo theo đúng chủ
trương trưng dụng đất đai trong những năm 1960, phù hợp với cơ chế tập trung bao
cấp. Cách tổ chức thực hiện việc thu hồi, bồi thường như vậy được thực hiện cho
đến khi Hiến pháp 1980 ra đời có một số nội dung thay đổi (Bộ nông nghiệp Phát
triển nông thôn, 2001).
2.2.2.2 Thời kỳ 1987 đến 1993
- Về chính sách thu hồi, bồi thường giai đoạn này: Hiến pháp 1980 Quy định
đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Luật Đất đai năm 1988, Quyết định số 186/HĐBT
Ngày 31/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, quy định về việc bồi thường dựa trên
những quy định tại Hiến pháp 1980. Việc đền bù bồi thường, GPMB, đối với đất
nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì
phải bồi thường. Căn cứ để tính bồi thường, GPMB về đất nông nghiệp và đất có
rừng theo diện tích, chất lượng, hạng đất và vị trí đất. Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí
đều quy định giá tối đa, tối thiểu. UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức
bồi thường của địa phương mình sát với giá đất thực tế nhưng không thấp hơn hoặc
cao hơn khung giá định mức. Mức bồi thường còn được phân biệt theo thời hạn sử
dụng đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thường đối với việc
sử dụng đất để xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi…
- Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách thu hồi, bồi thường: Phù hợp
giai đoạn đầu, giai đoạn sau nảy sinh nhiều bất cập do phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng

các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, tính hợp pháp của thửa đất để lập
kế hoạch sử dụng đất, thu hồi, bồi thường GPMB, cụ thể hoá việc thực hiện chính
sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích
13
sử dụng, cùng hạng đất…
- Nghị định 87/1994/NĐ-CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại
đất. Thông tư Liên bộ số 94/1994/TTLB-BTC-BXD-TCDC, ngày 14/11/1994 của
Liên bộ; Tài chính, Xây dựng, Tổng cục Địa chính, hướng dẫn thi hành Nghị định
87 của chính phủ.
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, quy định phạm vi áp dụng,
đối tượng bồi thường, đặc biệt người có đất bị thu hồi có quyền được lựa chọn
phương án bồi thường; bằng tiền hoặc bằng đất.
- Quá trình tổ chức thực hiện chính sách thu hồi, bồi thường: Cấp huyện, cấp
xã thành lập Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng GPMB có trách nhiệm kiểm
tra, kiểm kê, kiểm đếm về diện tích đất và tài sản trên đất, đồng thời phát tờ khai để
các tổ chức, hộ gia đình cá nhân tự khai, công khai phương án thu hồi về đất và tài
sản của ngưòi bị thu hồi đất và tài sản trên đất, tổng hợp, giải quyết các ý kiến của
người có đất bị thu hồi, lập và điều chỉnh phương án bồi thường (nếu bị thay đổi), tổ
chức chi trả bồi thường. Đối với một số trường hợp bị thu hồi không nhất trí, có đơn
đề nghị hoặc khiếu nại, về cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, được giải quyết theo quy
định của Pháp lệnh khiếu nại và tố cáo. Tuy nhiên, trong khi chờ giải quyết khiếu nại
vẫn phải chấp hành di chuyển GPMB và giao đất đúng kế hoạch. Một số bất cập trong
việc bồi thường gia đoạn này về hạng đất, chất đất, loại đất, vị trí, giá đất chưa phù hợp
(Trương Phan, 1996).
* Luật Đất đai năm 1998 sửa đổi một số điều năm 1993
Luật Đất đai năm 1998 được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998. Về cơ
bản, Luật Đất đai năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ bản của Luật năm 1993, chỉ

cộng đồng và ổn định xã hội, sau nhiều năm triển khai thực hiện các dự án đầu tư
phát triển (chủ yếu là các dự án phát triển cơ sở hạ tầng), việc áp dụng chính sách
trong giai đoạn này đã bộc lộ một số bất cập trong việc thực hiện chính sách bồi
thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,
phần nào hạn chế hiệu quả đầu tư, tiến độ thực hiện chính sách bồi thường GPMB
khi Nhà nước thu hồi đất. Nhà nước cần xem xét sửa đổi chính sách bồi thường
GPMB và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu sử dụng và
lợi ích quốc gia, phù hợp với tình hình thực tế.
15
2.2.2.4 Thời kỳ từ 2003 đến nay
* Về chính sách: Tại Hội nghị lần thứ bẩy của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá IX đã kết luận; tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khoá X
thông qua Luật Đất đai mới vào ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004, đã thể hiện
đầy đủ nhất so với các Luật Đất đai trước đó đã ban hành. Luật đất đai năm 2003 có
rất nhiều nội dung mới, trong đó đối với công tác thu hồi, bồi thường GPMB và một
số lĩnh vực liên quan bồi thường GPMB:
- Khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi
thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi đất;
- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bằng việc
phân cấp toàn bộ các quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất cho chính quyền địa phương; quy định cụ thể thủ tục và trình tự thực hiện
các thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất;
- Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai theo hướng

định cư. Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ tài
nguyên Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự
thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 của Bộ Tài chính quy định
việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
.
- Nghị định số 9/2013 NĐ – HĐND về các biện pháp đảm bảo việc thực hiện
thu hồi đất, giải phóng mặt bằng kịp thời, đúng tiến độ đối với các dự án đầu tư
quan trọng.
* Quá trình tổ chức thực hiện chính sách thu hồi, bồi thường GPMB: đã khắc
phục cơ bản các vấn đề bất cập của chính sách thu hồi bồi thường trước khi luật đất
đai năm 2003 ban hành. Tuy nhiên đến nay do cơ chế thị trường, tốc độ phát triển
kinh tế và nhu cầu đòi hỏi về nhà ở, đặc biệt đất đai được coi là tài sản có giá trị đặc
biệt, được quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại, tặng
17
cho, góp vốn…(người sử dụng đất được thực hiện 09 quyền) do vậy đã nảy sinh
một số bất cập trong quá trình thực hiện chính sách, cụ thể như giá đất, sự chênh
lệch giá đất do UBND tỉnh quy định so với giá thực tế giao dịch trên thị trường,
hằng năm xác định giá đất một lần, nên giá đất thường xuyên thay đổi, giá đất chưa
đồng bộ còn có sự chênh lệch giữa khu vực giáp ranh địa giới hành chính, mặt khác
chính sách bồi thường thực hiện các dự án chưa đồng bộ có sự khác biệt nhau, tiền
chi trả bồi thường, hỗ trợ giá của công trình xây dựng, cây cối hoa màu chưa phù
hợp với thị trường, dẫn đến khi thực hiện một số dự án, nhiều người dân có đất và
tài sản bị thu hồi, di dời tháo dỡ công trình chưa đồng thuận xảy ra khiếu kiện. Nhà
nước cần điều chỉnh, bổ sung chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm
góp phần đẩy nhanh tiến độ GPMB thực hiện CNH-HĐH, ổn định an ninh, chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status