1
Trường ĐHKHXH&NV
Cơ sở Linh Trung, Thủ Đức
Họ tên – MSSV
Đỗ Thị Huệ - 1056160026
Bùi Thị Thanh Huệ - 1056160027
Phạm Nguyễn Hoàng Hữu Lý – 1056160036
Ngô Thị Kim Thanh – 1056160076
Trương Thị Thiên Thanh – 1056160080
BÀI THUYẾT TRÌNH
TIẾNG NÓI
2
Tạo hóa đã ban cho con người những khả năng kì diệu. Và việc con người khám
phá được chính bản thân mình cũng đã là một điều kì diệu rồi. Để khám phá, các
nhà khoa học đã đặt ra rất nhiều câu hỏi tại sao và không ngừng đi tìm câu trả lời
cho nó. Vậy có bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình lại nói được mà những loài động
vật khác lại không nói được hay không (?!) Tất nhiên các nhà khoa học đã tìm ra
câu trả lời cho câu hỏi này rồi nhưng họ vẫn tiếp tục nghiên cứu bởi lẽ những gì
chúng ta đã biết còn giới hạn lắm !
Cơ sở để phân biệt con người và các loài động vật khác chính là hai hệ thống tín
hiệu. Hệ thống tín hiệu thứ nhất chung cho cả con người và động vật. Còn hệ
thống tín hiệu thứ hai thì chỉ con người mới có. Chúng ta có thể hiểu đơn giản
rằng hệ thống tín hiệu thứ nhất là các tín hiệu trực tiếp, cụ thể ( lý, hóa, sinh )
từ thế giới bên ngoài mà cả con người và động vật có thể biết được thông qua
các giác quan, trừ tiếng nói. Tiếng nói – một loại tín hiệu đặc biệt với cơ chế
hình thành phức tạp, vì vậy mà tiếng nói mới được Pavlov “đặt cách” thành hệ
thống tín hiệu thứ hai, ông cũng đã nói rằng: “Nếu những cảm giác và khái niệm
của chúng ta về thế giới xung quanh là do tác động của các tín hiệu thực tiễn thứ
nhất, do các tín hiệu cụ thể, thì tiếng nói là sự kích thích đặc biệt, trước hết là kích
thích động học từ các cơ quan phân tích truyền về vỏ não, là tín hiệu thứ hai – tín
hiệu của các tín hiệu. Chúng được xem là sự trừu tượng hóa từ thực tiễn dưới dạng
yếu tố đồng hành diễn ra khoảng cuối năm thứ nhất, khi đứa trẻ sắp tròn một tuổi.
Để sự hình thành tiếng nói có thể xảy ra thì sự có mặt cũng như thời gian tiếp xúc
với người lớn ( đặc biệt là bố, mẹ ) đối với trẻ là rất quan trọng. Và sự giáo dục của
người lớn thì ảnh hưởng đến tốc độ hình thành. Từ lý do đó mà chúng ta có thể
hiểu vì sao những trẻ biết nói chậm không hẳn là do não chúng có vấn đề mà là
bố mẹ chưa biết cách dạy và quan tâm chúng.
5
Ví dụ: người lớn bảo em bé “mẹ kia” đồng thời chỉ tay vào người mẹ, còn người
mẹ thì luôn thay đổi vị trí đứng của mình – khi ở phòng này, khi ở phòng khác…
và thay đổi trang phục; nhờ sự lặp đi, lặp lại giữa tiếng nói với các kích thích cụ
thể và các hoàn cảnh khác nhau, tiếng nói dần dần sẽ chiếm ưu thế, còn các kích
thích cụ thể sẽ giảm dần ý nghĩa ( sự có mặt ) của chúng trong phức hợp kích thích.
Lúc này ta hỏi: “mẹ đâu”, dù không có người mẹ ở đó và hỏi bất cứ nơi nào thì em
bé cũng hiểu được câu hỏi và có phản ứng nhất định.
Đối với những trẻ bị tổn thương các vùng vỏ não liên quan đến tiếng nói, đặc biệt
là vùng Wernicke và vùng Broca sẽ dẫn đến một số hội chứng lâm sàng chẳng hạn
như mất ngôn ngữ. Sự hình thành tiếng nói cũng đã thể hiện những đặc điểm
tác dụng của nó như:
1. Tiếng nói là một loại kích thích
2. Tiếng nói tác dụng bằng ý nghĩa của nó
3. Tiếng nói có khả năng thay thế các kích thích cụ thể
Ví dụ: ta thử nói về các loại quả chua – đóng vai trò là kích thích cụ thể
( chanh, mơ, mận, me, khế…) trước các trẻ em và phụ nữ, ta sẽ quan sát
được hiện tượng tiết nước bọt ở họ giống như khi ta đưa các loại quả trên
vào miệng họ. Nhờ khả năng thay thế tác dụng của các kích thích cụ thể của
tiếng nói, mà sự phản ánh hiện thực khách quan trong não được thực hiện
không chỉ bằng con đường vận dụng các cảm giác trực tiếp, mà còn bằng
cách vận dụng tiếng nói nữa.
6
4. Tiếng nói có thể tăng cường, ức chế, thay đổi tác dụng của kích thích cụ thể.
Tiếng nói quả thật kì diệu !
MỞ RỘNG
Sự trầm hoặc bổng của giọng nói đều được chúng ta làm chủ. Đó cũng là lý do giải
thích cho việc các ca sĩ luyện tập cho giọng hát của họ. Ngay cả trong trò làm cho
giọng nói của mình khác đi hay giống một nhân vật nào đó, tất cả đều có cơ chế
hoạt động chung. Khi chúng ta muốn giọng nói thế nào thì lúc đó, tín hiệu từ não
sẽ “thông báo” cho phổi đẩy luồng không khí mà trước đó được hít vào, một cách
nhanh hay chậm. Luồng không khí này sẽ đi qua thanh quản, nó sẽ làm rung nắp
thanh quản trước khi qua vòm miệng và phát ra ngoài. Nắp thanh quản giống như
hai tấm mành mỏng có khe hẹp ở giữa để khi không khí đi qua thì dễ dàng đóng
mở ( rung ). Nắp thanh quản rung càng mạnh thì âm phát ra càng to và ngược lại,
nó cũng điều khiển được giọng nói mà thân chủ muốn có, điều này thực sự không
dễ nên không phải ai cũng làm được, muốn làm được thì phải luyện tập tích cực
lắm đấy !
8
TÀI LIỆU SƯU TẦM
Tật nói lắp là một chứng rối loạn trong các diễn đạt lời nói. Thí dụ đáng lẽ nói:
“Con đi ăn cơm đây” thì câu đó sẽ thành “Co co con đia an ăn cơ cơm
đây”. Và nhiều câu khác cũng bị nói lắp tương tự. Tật nói lắp thường xuất hiện ở
các em trai nhiều gấp 3 lần so với em gái. Ngoài tật nói lắp ra, trẻ hoàn toàn bình
thường, vẫn hiểu được lời người khác nói, vẫn học hành được. Dạng bất thường
này có thể phát triển trong giai đoạn bắt đầu tập nói, trong giai đoạn này nhiều trẻ
em thường có tật nói lắp. Khoảng 5%-10% trẻ thường bị tật này khi mới nhập học
và khoảng 1% trẻ sau tuổi dậy thì bị tật nói lắp dai dẳng.
Về nguyên nhân nói lắp còn chưa thật rõ ràng, bởi vậy còn có những ý kiến
khác nhau:
- Do chấn thương ở trẻ sơ sinh: Một số người cho rằng trong trường hợp đẻ khó
phải dùng forceps cặp vào đầu thai nhi để lôi ra khỏi bụng mẹ. Hoặc với trẻ nhỏ bị
ngã va đầu vào vật cứng gây tổn thương vùng Broca.
- Do mắc bệnh: Cũng có nghi vấn cho rằng khi thai nghén, sản phụ mắc một bệnh
óc. Để các buổi rèn luyện khỏi buồn chán, thỉnh thoảng cho trẻ tập đọc các mẩu
chuyện cười và hỏi các câu hỏi vui. Nếu kiên nhẫn duy trì luyện tập được thường
xuyên thì kết quả sẽ tốt đẹp.
- Sử dụng phương pháp hiện đại: Một số nhà khoa học CHLB Đức đã nghiên cứu
thực hiện một chương trình máy vi tính (gọi tắt CP) đặt tên là “bác sĩ lưu loát” để
chữa tật nói lắp. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc: dù không thể chữa được
10
nguyên nhân nói lắp, bệnh nhân vẫn hoàn thiện tốt khả năng nói lưu loát nhờ tập
luyện liên tục. Người có tật nói lắp nói các cụm từ đặc biệt vào một micro nối với
máy vi tính, tăng giảm giọng nói trong giới hạn thời gian quy định. “Bác sĩ lưu
loát” sẽ ghi nhận các lỗi sai trong phần phát âm, nhấn giọng, hơi thở của người đọc
và lập hồ sơ. Điều này cho phép mỗi bệnh nhân tự chứng kiến sai sót của mình,
làm lại lần nữa
Tiến sĩ y học Gudenberg cùng với giáo sư tâm lý Harald Euler (Trường đại học
Kassel) đã thử nghiệm trên 23 người nói lắp, họ được học qua khóa đặc biệt 3 tuần,
sau đó luyện tập tại nhà. Những kết quả cho thấy, ngay cả với những người nói lắp
nghiêm trọng vẫn tiến bộ đáng kể, họ nói lưu loát hơn và một số lỗi nói lắp hầu
như không đáng kể.
BS. Vũ Hướng Văn