Tiểu luận môn giải phẫu sinh lý và thần kinh cấp cao TRÍ NHỚ - Pdf 28

TRÍ NHỚ
Lớp Tâm lý học K03
Niên khóa: 2010 – 2014.
Nhóm sinh viên thực hiện:
1. NGÔ THỊ YẾN.
2. THÂN THỊ YẾN.
3. NGUYỄN TẤN DŨNG.
4. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG.
5. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP.
Tp Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 12 năm 2010.
qwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiop
asdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklz
xcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqw
ertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopas
dfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxc
vbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwert
yuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfg
hjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbn
mqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyui
opasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjk
lzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmq
wertyuiopasdfghjklzxcvbnmrtyuiopasdfg
hjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbn
mqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyui
opasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjk
lzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmq
wertyuiopasdfghjklzxcvbghjklzxcvbnmq
wercvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnm
qwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiop
TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.
Tâm lí có một đặc điểm quan trọng đó chính là sự phản ánh thế giới bên

trực quan của sự vật và hiện tượng. Như vậy, biểu tượng vừa mang tính chất trực
TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.
quan vừa mang tính chất khái quát, nó giống hình ảnh của cảm giác, tri giác ở tính
trực quan, nhưng nó cao hơn ở tính khái quát. Vì vậy, ở góc độ của hoạt động
nhận thức, trí nhớ được xem là giai đoạn chuyển tiếp từ cảnh tính lên lí tính.
Căn cứ vào mức độ khái quát của biểu tượng, người ta phân biệt biểu tượng
chung và biểu tượng riêng (trong khi đó tri giác luôn luôn chỉ là tri giác riêng, cá
lẻ mà thôi). Nếu căn cứ vào các loại tri giác làm cơ sở cho biểu tượng, thì người ta
lại phân biệt: biểu tượng nhìn, biểu tượng nghe, biểu tượng ngửi biểu tượng nếm,
biểu tượng vân động – sờ mó. Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, vì
biểu tượng thường xuất hiện trên cơ sở hoạt động của hai hay nhiều cơ quan phân
tích, nó mang tính chất tổng hợp.
2- Vai trò của trí nhớ:
Trí nhớ có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, không
có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không thể có bất
cứ một hoạt động nào, cũng như không thể hình thành nhân cách được.
Như đã nói trên trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người thuộc mọi
lĩnh vực: như nhận thức cảm thức và hành vi, vì vậy trí nhớ là một đặc trưng quan
trọng nhất, có tính chất quyết định nhất của đời sống tâm lí con người của nhân
cách của họ. Nó bảo đảm cho nhân cách con người.
Ngày nay người xem ta trí nhớ không phải chỉ nằm trong giới hạn của hoạt
động nhận thức mà nó con là một thành phần tạo nên nhân cách mỗi người, vì đặc
trưng tâm lí nhân cách mỗi người hinh thành trên cơ sở kinh nghiệm cá thể về mọi
mặt của họ mà kinh nghiệm dó lại do trí nhớ đem lại
II. Cơ sở sinh lí của trí nhớ:
Việc rèn luyện trí nhớ cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của công tác trí dục lẫn đức dục trong nhà trường. Vì vậy, V.I.Lênin đã
nói: “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của
mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tang trí thức nhân loại đã tạo ra”.
Cơ sở trí nhớ là thuộc tính đặc biệt của mô thần kinh bị biến đổi dưới tác

Có 2 thuyết phân loại trí nhớ:
 Thuyết đa trí nhớ phát biểu rằng có 3 loại trí nhớ: trí nhớ cảm giác,
trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ dài hạn.
 Thuyết cấp độ xử lí thừa nhân sự tồn tại của trí nhớ cảm giác nhưng
không nhất trí với việc phân biệt giữa trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Họ
cho rằng chúng thuộc cùng 1 hệ thống. sở dĩ ta quên nhanh 1 điều gì đó
là do xử lí ở mức tối thiểu, còn nhớ được lâu hơn là do xử lí sâu và rộng
hơn.
TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.
Dưới đây, trình bày về vấn đề phân loại trí nhớ theo thuyết đa trí nhớ.
1/ Trí nhớ cảm giác ( Sensory Memory):
Là dạng trí nhớ lưu giữ cảm nhân thị giác trong 1-2 s ngay cả sau khi bạn
nhắm mặt lại, đủ cho các tiến trình nhân biết hoạt động.Hơn thế, các thông tin
thị giác còn được truyền qua 1 cách ngắt quãng khi bạn chớp mắt.
Bạn hãy thử hươ cây bút chì ngang mắt bạn, bạn sẽ thấy bóng cây bút
chì như cứ chạy theo phía sau nó, tức là hình ảnh cảm giác của cây bút chì vẫn
còn đọng lại sau khi nó dời sang 1 vị trí khác, sau đó mất đi trong 1 hoặc 2 s.
THÍ NGHIỆM CỦA SPERLING:
L B Q N
G R X K
T C Y F
12 kí tự được trình bày thành 3 dòng, mỗi dòng 4 kí tự, ông chiếu sáng
các kí tự này trong 1 khoảng thời gian là 50 mili giây và yêu cầu đối tượng
tham gia kể tên các kí tự đó).
Kết quả và giả thuyết: Người tham gia kể được 4,5 kí tự mặc dù họ thừa
nhận họ thấy được nhiều hơn thế. Một số lí tưởng thì nhìn thấy được nhiều hơn
số kí tự mà họ kể tên được, vì họ quên mất 1 số trước khi kể tên chúng.
Các đối tượng không nhìn thấy hết các kí tự vì thời gian chiếu quá
ngắn. Ông tiếp tục làm thêm 1 thí nghiệm nữa để kiểm tra giả thuyết của mình.
Ông dùng các tone âm thanh khác nhau để hướng các đối tượng tới 1 phần


Gỉa sử khi đang đi trên đường, một chiếc xe máy chạy ngang qua bạn, ngẫu
nhiên bảng số xe đập vào mắt bạn, trong lúc này, bạn chỉ có đủ thời gian để nhận
diện các chữ cái. Nếu như vậy bạn sẽ không nhớ nỗi các con số cùng với những
chi tiết khác mà bạn không có đủ thời gian để nhận diện. Tuy nhiên, cía phần mà
bạn đã nhận diện được sẽ được lưu lại. Khi đó những thông tin này sẽ được di
chuyển vào trí nhớ ngắn hạn để xử lí tiếp. Qua đó chứng minh đươc rằng việc
chuyển thông tin từ trí nhớ cảm giác vào trí nhớ ngắn hạn thường làm mất đáng
kể thông tin. Tiến trình lặp lại thông tin nhằm duy trì trí nhớ ngắn hạn được gọi là
tiến trính nhắc lại ( rehearsal). Nếu chúng ta không nhắc lại thông tin thì trí nhớ đó
sẽ mấy đi một cách nhanh chống.
TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.

Peterson và Peterson (1959) đã phát triển một cách thức để xác định xem
thông tin được lưu ở trí nhớ ngắn hạn trong bao lâu nếu không được nhắc lại. Họ
chia qui trình đó thành ba giai đoạn: Thể hiện (presentation), giữ lại ( retention) và
nhớ lại (recall). Trong giai đoạn thể hiện, các đối tượng nhìn vào một tổ hợp gồm
ba kí tự, chẳng hạn như ASD. Trong giai đoạn giữ lại, các đối tượng được làm một
bài toán được thiết lập để khiến họ phải nhắc lại tổ hợp ba kí tự đó.Trong giai đoạn
nhớ lại, các dối tượng chỉ làm một việc đơn giản đó chính là kể tên tổ hợp đã được
thể hiện.Kết quả cho thấy, các đối tượng nhớ được 50% tổ hợp ba kí tự đó sau 3
giây, 25% sau 9 giây, và 8% sau 18 giây. Bên cạnh thí nghiệm này, các thí nghiệm
khác đã chứng minh rằng, chúng ta quên những điều mới và bị tách biệt trong
khoảng thời gian dưới 30 giây nếu chúng ta không nhắc lại chúng.

Ủng hộ cho các kết quả cảu Peterson và Peterson, thuyết đa tri nhớ nhận
định rằng, chúng ta duy trì những điều mới và bị tách biệt trong trí nhớ ngắn hạn
cho tới khi chúng ta chuyển chúng vào trí nhớ dài hạn. Như vậy để có thể nhớ lâu
hơn một vấn đề nào đó, thông tin đó cần được xử lí sâu chứ không phải được
chuyển qua một dạng trí nhớ khác.

đắm chìm vào đại dương của tất cả các tác nhân kích thích. Trong quá trình tiếp
nhận thông tin, cùng 1 lúc lượng thông tin tác động vào các giác quan của ta luôn
nhiều hơn lượng thông tin mà trí óc ta có thể xử lí nhưng ta vẫn xoay xở được
trong các tình huống đó là vì ta tập trung trung 1 cách có chọn lọc vào các thông
tin quan trọng. Khả năng tiếp nhận thông tin và ghi nhớ nó tốt hay không là phụ
thuộc vào mức độ tập trung của bạn. Mã hóa không chỉ đơn thuần là lựa chọn các
thông tin cụ thể mà nó còn thể hiện thông tin đó dưới 1 dạng nhất định. Có 2 dạng
mã: mã lời nói và mã thị giác.
o Mã lời nói: nhiều thí nghiệm cho thấy, chúng ta có xu hướng dùng
mã lời nói cho các “tư liệu” bằng lời chẳng hạn như con số, chữ cái
và từ vựng.
o Mã thị giác: trong khi chúng ta có xu hướng thích dùng mã lời nói
đối với “tư liệu” lời nói, thì chúng ta không phải lúc nào cũng sử
dụng chúng. Đôi khi chúng ta ghi nhớ những thông tin được tiếp
nhận bằng hình ảnh.
b/ Ghi nhớ và cấu trúc lại:
Thông tin khi đã được mã hoá sẽ được ghi nhớ cuối cùng trong tân não
(neocortex): vùng chẩm cho các thông tin thị giác chi tiết, vùng thái dương ngoài
cho các thông tin ngữ nghĩa. Ghi nhớ có hiệu quả ít hay nhiều tuỳ theo chất lượng
củng cố.
Trong khi trí nhớ dài hạn có thể lưu giữ 1 lượng thông tin bất kì thì trí nhớ
ngắn hạn chỉ có thể nhớ được 1 số giới hạn các chữ số. Chiều dài trí nhớ ngắn hạn
là số lượng các khỏag mục mà chúng ta có thể đọc wa 1 lần rồi sau đó nhớ lại
được theo thứ tự mà không mắc lỗi. Tất cả các người trưởng thành bình thường
hầu hết đều có chiều dài trí nhớ ngắn hạn ở vào khỏang từ 5 – 9 khỏang mục.
TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.
Cắt khúc là tiến trình nhóm các tác nhân kích thích thành các đơn
vị có nghĩa. Khi xử lí thông tin, chúng ta nhóm các phần tử lại với nhau thành các
đơn vị có chức năng như 1 tổng thể. Chúng ta nhóm các đặc điểm thị giác thành
các kí tự, nhóm các kí tự thanh các từ và nhóm các từ thành các câu. Miller (1965)

TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.
Saul Sternberg đã tiến hành thí nghiệm để chứng tỏ điều này. Chúng ta có thể dễ
dàng hình dung ra thí nghiệm của ông bằng bài trắc nghiệm sau. Hãy nhớ các con
số 2, 3 và 8 sau đó che chúng đi. Bây giờ hãy tự hỏi các con số sau có trong danh
sách đó hay không. Câu trả lời sẽ xuất hiện ngay trong đầu bạn cực nhanh mà
không cần phải cố gắng, điều đó khiến bạn khó nhận biết được mình đang phải lục
tìm trong trí nhớ ngắn hạn của mình.
PHỤC HỒI TRÍ NHỚ DÀI HẠN: Chúng ta thường không thấy được nỗ lực
của bản thân để tìm kiếm trong trí nhớ dài hạn. Tuy nhiên, thỉnh thỏang ta nhận
biết được các cố gắng đó nhằm phục hồi thông tin từ trí nhớ dài hạn và ta chủ tâm
kiểm sóat sự tìm kiếm của mình. Tâm trạng của ta cũng ảnh hưởng đến sự phục
hồi thông tin từ trí nhớ. Chẳng hạn như sự lo lắng. Ví dụ như khi chúng ta thi và
đang trong tâm trạng sợ hãi, chúng ta thường không nhớ được những gì mình đã
học cho đến khi ta bình tĩnh lại hoặc có thể là khi chúng ta đã thi xong. Bản thân
sự lo sợ không ngăn cản sự phục hồi thông tin. Nó làm sản sinh ra những suy nghĩ
tiêu cực và những suy nghĩ đó mới là thủ phạm làm bạn không thể nhớ ra những gì
mình muốn.
Do liên quan đến các vùng khác nhau của não nên rối loạn của một trong
các vùng này sẽ ảnh hưởng đến trí nhớ, do đó trí nhớ của chúng ta rất mỏng manh.
V. Quên lãng (Forgetting):
1. Khái niệm:
Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta không thể hình dung ra hoặc không thể
Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta không thể hình dung ra hoặc không thể
hồi tưởng lại những điều mà mình đã từng làm, từng nhớ. Hiện tượng đó thường
hồi tưởng lại những điều mà mình đã từng làm, từng nhớ. Hiện tượng đó thường
được gọi là sự quên lãng. Đây là tật thường gặp trong quá trình ghi nhớ của con
được gọi là sự quên lãng. Đây là tật thường gặp trong quá trình ghi nhớ của con
người.
người.
Quên lãng(forgetting) nghĩa là không có khả năng để nhớ lại, hay đó có

có chủ ý. Chính bạn là người muốn quên đi những điều không đáng nhớ từ trong
suy nghĩ của mình. Tuy nhiên Lavelle đã từng nói: “Nếu ta càng tìm cách tách rời
dĩ vãng, nó càng bám lấy chúng ta”. Do đó không có tác vi hữu ý quên vì càng
muốn quên con người ta tự nhiên càng nhớ.

b/ Quên vì thiếu sự khêu gợi tự phát:
Đặc điểm của hiện tượng này chính là quên đi những điều cần thiết, những
điều đáng lí ra phải nhớ.
Ví dụ: Đôi khi trong quá trình nấu ăn, bạn lại quên đi mình phải nêm thêm
đường hoặc muối vào nồi canh. Trường hợp khác, một số người đi chợ nhưng lại
quên mang theo tiền.

c/ Quên vì không nhớ liền:
Đôi lúc trong khi nói chuyện với một người , bạn tự hỏi: “ Ô hay, mình
định nói gì, sao lại không nhớ ra”. Lúc đó, trong trí nhớ của bạn đang diễn ra hiện
tượng quên vì không nhớ liền. Hiện tượng này chỉ diễn ra trong chốc lát, ngay sau
đó bạn có thể nhớ ra những gì mà mình muốn nói.

d/ Quên mất:
Đây là hiện tượng bạn không còn nhớ một sự việc nào đó đã diễn ra trong
quá khứ, sự việc này có thể xảy ra cách lúc bạn đang cố nhớ lại nó với khoảng thời
gian rất lâu.
Sau khi vừa đọc xong những dòng chữ này, bạn hãy thử tự hỏi mình: vào giờ này,
ngày này, năm trước mình đang làm gì?
3. Nguyên nhân:
Người ta dựa vào thuyết phân rã dấu tích (Trace Decay Theory) và thuyết
can thiệp (Interference Theory) để giải thích nguyên nhân của sự quên.

a/ Thuyết phân rã dấu tích (Trace Decay Theory):
Đây là một trong những thuyết sớm nhất về sự quên lãng. Thuyết này phát

 Ví dụ: Bạn đổi số điện thoại cảu mình và dùng số này cách đây 6
tháng, giờ đây bạn sẽ không còn nhớ rõ số điện thoại trước đó
nữa.Chính sự can thiệp của số điện thoại sau cản trở việc nhớ số điện
thoại trước đó trong đầu bạn.
4. Cải thiện trí nhớ của bạn (Improving Your Memory):
a/ Mã hóa một cách hiệu quả (Encoding Efficently):
Điều quan trọng để mã hóa thông tin một cách hiệu quả đó chính là sự tập
trung. Cụ thể đó là bạn phải thật sự tập trung vào một điều gì đó nếu bạn muốn
nhớ nó. Sự tập trung có vai trò rất quan trọng trong quá trình làm việc của bộ nhớ
của chúng ta. Nó giúp ta nhớ sự việc lâu hơn thay vì không tập trung.

Ví dụ: Khi ngồi nghe giáo viên giảng bài, nếu bạn tập trung vào những lời
giảng chắc chắn bạn sẽ hiểu rõ và nhớ vấn đề lâu hơn là không tập trung.
TRÍ NHỚ GV: ThS. PHẠM LÊ BỬU TRÚC.

Một điều cũng không kém phần quan trọng đó chính là bạn cần có một trí
tưởng tượng phong phú. Để dễ nhớ vấn đề, bạn hãy tưởng tượng và gắn nó với
một vật nào đó liên quan.
Để có thể tập trung một cách hiệu quả, chẳng hạn trong việc đọc sách, bạn
cần chọn một nơi yên tĩnh. Với một nơi lí tưởng như thế, bạn có thể tập trung đọc
cuốn sách mà mình muốn và thỏa sức tưởng tượng, hình dung ra vấn đề một cách
tường tận.
Dưới đây là các bước cụ thể giúp bạn tập trung váo đúng những nơi cần
tập trung:
 Xem khái quát tài liệu trước khi đọc kỹ. Bạn có thể xác định các ý quan
trọng sau khi xem xét hết một đoạn. Ví thế nên đọc nhanh một đoạn, tập
trung vào các ý chính. Các đầu mục thường nói lên các điểm chính. Các
mục tiêu của chương cũng rất hữu ích. Hãy đọc chúng trước khi đọc toàn
bộ các đoạn khác.
 Hãy tự hỏi “Những điểm chính là gì?” Hãy đưa ra một số danh sách tạm

• Phê bình tài liệu. Đặt ra các câu hỏi có thể là ý kiến của bạn đối với
những kiến thức có trong tài liệu đó.

c/ Phục hồi thông tin một cách hiệu quả:
Trong quá trình này, chúng ta cần thiết lập trước gợi ý phục hồi khi hình
thành hình ảnh, từ khóa và các trung gian trong khi mã hóa. Lập kế hoạch là điều
nên làm khi cần phục hồi thông tin đã có sẵn.
Ví dụ: Bạn vô tình đánh mất danh sách mua hàng khi chưa nhớ ngững thứ
cần mua. Trong tình huống này có hai cách để giúp bạn nhớ lại được danh sách
đó:
• Lục lại trí nhớ một cách có hệ thống. Hãy nhớ theo từng loại
hàng một.
• Cố thiết lập lại bối cảnh mà bạn viết danh sách đó. Sau đó dần
dần hồi tưởng lại những gì mà bạn đã làm và đã viết những gì.
Vừa rồi là những cách giúp bạn nhớ một vấn đề tốt hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status