Mục lục
[ẩn]
• 1 Di truyền và môi trường tác động lên trí thông minh
o 1.1 Môi trường
o 1.2 Phát triển
o 1.3 Sự chậm phát triển trí não
o 1.4 IQ và sự liên quan đến giáo dục và thu nhập
o 1.5 Sự quay lại
• 2 IQ và bộ não
o 2.1 Kích cỡ bộ não
o 2.2 Những vùng não tương ứng với IQ
o 2.3 Cấu trúc bộ não và IQ
• 3 Hiệu ứng Flynn
• 4 Sự liên quan IQ
o 4.1 Chủng tộc và trí thông minh
o 4.2 Giới và trí thông minh
o 4.3 Tôn giáo và IQ
o 4.4 Sức khỏe và IQ
o 4.5 Sự phát triển kinh tế và IQ
• 5 Sự hiệu quả thực tế
• 6 Những chỉ trích xung quanh vấn đề IQ
• 7 Hiệp hội của những người có IQ cao (High IQ societies)
• 8 Ghi chú
• 9 Tài liệu tham khảo
Chỉ số thông minh, hay IQ (viết tắt của intelligence
quotient trong tiếng Anh), là một khái niệm được nhà khoa học người
Anh Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất
bản vào cuối thế kỷ 19. Sau đó, nó được học trò của ông là J.Cattell
và nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet phát triển bằng việc thảo
ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi đi
học. Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học của một
hệ sau được biểu diễn bằng một số trong khoảng từ 0 đến 1, gọi là
hệ số di truyền. Ta có thể hiểu một cách khác là hệ số di truyền là
phần trăm khả năng di truyền cho đời sau của một gene. Nghiên cứu
ở những cặp sinh đôi và những gia đình có nhận con nuôi là những
nơi thường được nghiên cứu nhiều nhất. Cho đến gần đây hệ số di
truyền hầu hết chỉ được nghiên cứu ở trẻ em và người ta cho rằng
hệ số di truyền trung bình là 0,5. Điều này cho thấy một nửa số trẻ
trong nghiên cứu có gene đã biến dị. Phần còn lại được giải thích
rằng do tính toán sai hay do yếu tố môi trường. Con số 0,5 cho thấy
trí thông minh một phần là do thừa kế từ cha mẹ. Nghiên cứu ở
người lớn tuy vẫn chỉ ở những mức rất sơ khai nhưng cũng có
những kết quả rất thú vị: hệ số di truyền có thể lến đến 0,8. Hiệp hội
tâm lý học Hoa Kì vào năm 1995 trong công trình "Intelligence:
Knowns and Unknowns" (Trí thông minh: những điều đã biết và chưa
biết) kết luận rằng hệ số di truyền là "khoảng 0,75"
[1]
.
[sửa]Môi trường
Yếu tố môi trường đóng vai trò rất lớn trong nhiệm vụ xác định trí
thông minh trong một số trường hợp. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý
trong lúc nhỏ được cho là rất quan trọng; sự dinh dưỡng kém có thể
làm suy giảm trí thông minh. Một số nghiên cứu khác về yếu tố môi
trường còn cho rằng thai phụ trước khi sinh hay cho con bú nếu tiếp
xúc với những loại độc tố hay thiếu các vitamin và muối khoáng quan
trọng có thể ảnh hưởng đến IQ của đứa bé. Trong xã hội đã phát
triển, môi trường trong gia đình có thể tạo ra 25% sự khác biệt. Tuy
nhiên, khi lớn lên, điều này hầu như biến mất. Do đó, trong một xã
hội đang phát triển càng hiện đại hơn, trí thông minh của con người
càng di truyền.
Theo như một số nguồn khác
còn lại là do những nguyên nhân bên trong cơ thể như sự bất
thường ở các nhiễn sắc thể hay chấn thương ở não
[4]
. Sự chậm phát
triển trí tuệ từ nhẹ đến vừa có thể có nguyên nhân là do sự rối loạn
của một gene cho đến nhiều nhiễm sắc thể bất thường, có thể bao
gồm hiện tượng mất đoạn nhiễm sắc thể. Theo như nhiên cứu trên
những cặp sinh đôi, sự kém phát triển trí tuệ từ vừa đến nặng là
không do yếu tố di truyền, nhưng dạng nhẹ của bệnh lại là do di
truyền. Đó cũng là lý do họ hàng của những người kém phát triển trí
tuệ nặng hầu hết đều bình thường còn trong những gia đình có
người kém phát triển trí tuệ nhẹ thì có chỉ số IQ thấp hơn hẳn so với
mức trung bình.
Bảng chỉ số IQ
kém phát triển trí tuệ dạng nhẹ: có IQ từ 50-55 đến 70, trẻ em
như thế cần giúp đỡ nhẹ nhàng.
kém phát triển trí tuệ dạng trung bình: có IQ từ 35-40 đến 50-
55, trẻ em cầy giúp đỡ nhiều và theo dõi.
kém phát triển trí tuệ dạng nặng: có IQ từ 20-25 đến 35-40, trẻ
chỉ có thể được dạy các kĩ năng cơ bản trong cuộc sống, cần
được theo dõi thường xuyên.
kém phát triển trí tuệ dạng rất nặng: có IQ dưới 20-25, thường
bị gây ra bởi những vấn đề về hệ thần kinh, rất cần chăm sóc
thường xuyên.
Tỉ lệ mắc chứng kém phát triển trí tuệ ở nam cao hơn ở nữ, ở người
da đen cao hơn người khác, theo như một nghiên cứu năm 1991 của
Trung tâm Điều khiển và Phòng chống Dịch bệnh (CDC)
[5]
.
Đối với chủng tộc, tỉ lệ chung là 1,66% cho người da đen và 0.68%
m và b: chỉ số thông minh của mẹ và bố đứa bé.
Vì vậy, nếu hệ số di truyền là 50%, một cặp có IQ trung bình là 120
và sống trong xã hội có IQ trung bình là 100 thì con của họ có nhiều
khả năng có IQ là 110.
[sửa]IQ và bộ não
[sửa]Kích cỡ bộ não
Những nghiên cứu hiện đại sử dụng kĩ thuật MRI cho thấy kích cỡ bộ
não có liên quan đến IQ với một hệ số là khoảng 0,4. Một nghiên cứu
trên những cặp sinh đôi do Thompson cùng những cộng sự xuất bản
vào năm 2001 cho thấy rằng chất xám có liên quan đến hệ số g và
cũng có hệ số di truyền rất cao (một nghiên cứu gần đây cho thấy
con số đó là 0,85)
[sửa]Những vùng não tương ứng với IQ
Nhiền nguồn thông tin khác nhau cùng đồng ý ở một điểm là não
trước đóng một vai trò quyết định trong việc hình thành những "dòng
suy nghĩ". Những bệnh nhân có những vấn đề về não trước có kết
quả IQ và chất trắng cũng đã được cho là có liên quan mật thiết với
trí thông minh tổng quát. Tuy nhiên, những hình chụp mới về bộ não
cho thấy điều đó chỉ giới hạn ở vùng hai bên vỏ não trước. Ducan và
các đồng sự khi sử dụng phương pháp chụp PET thì xác định phần
não dùng để giải quyết các vấn đề liên quan rất lớn đến trí thông
minh nằm ở vùng hai bên vỏ não trước. Gần đây hơn, Gray và các
cộng sự (2003) đã dùng phương pháp fMRI để chứng minh ở những
người có trí thông minh cao thì vùng này có thêm khả năng chống lại
những sự mất tập trung. Gray và Thompson (2004) có một bài viết về
điều này.
[sửa]Cấu trúc bộ não và IQ
Một nghiên cứu bao gồm 307 trẻ em từ 6 đến 19 tuổi bằng cách đo
kích cỡ từng phần của bộ não bằng phương pháp MRI và đo các khả
năng từ vựng và suy luận đã được thực hiện (Shaw, 2006). Nghiên
nhạy cảm của nó.
[sửa]Giới và trí thông minh
Theo Jackson và Rushton, một cuộc khảo sát đầu thế kỷ 20 cho thấy
giới không đóng vai trò về trí thông minh.
[7]
Trước đó thì Cyril Burt và
Lewis Terman cũng không tìm thấy sự khác biệt về trí thông minh
giữa hai giới. Năm 1995, Hedges và Nowell chỉ ra những sự khác
biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê về chỉ số IQ trung bình
giữa nam và nữ sử dụng các số liệu trong các nghiên cứu phổ biến
xuất bản thời đó.
[8]
Một nghiên cứu năm 1995 bởi Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ cũng không
chỉ ra được sự khác biệt về IQ giữa hai giới. Những nghiên cứu thực
hiện giữa thập niên 1990 chỉ ra rằng có sự khác biệt nhỏ giữa chỉ số
IQ của nam và nữ.
[8][9]
Một số liệu phân tích từ 2,404 người của
"California Verbal Learning Test" kết luận rằng "Khi các biến trung
gian được kiểm soát, những sự khác biệt về giới có xu hướng biến
mất trong các bài test có lợi thế cho nam và có xu hướng phóng đại
trong các bài test có lợi thế cho nữ"."
[10]
Một nghiên cứu của Richard Lynn năm 1999 trong đó ông phân tích
số liệu từ một số bài test được xuất bản trước đó và phát hiện ra
rằng chỉ số IQ trung bình của nam giới cao hơn của nữ giới khoảng
3-4 điểm IQ.
[11]
Các phân tích quy mô lớn của Lynn thực hiện năm
2004 khảo sát sự khác biệt giới cũng chỉ ra nam giới có chỉ số IQ
Một số cuốn sách gây tranh cãi của tác giả Dr. Richard Lynn,
Professor Emeritus về tâm lý học tại Đại học Ulster, Bắc Ireland, và
Dr. Tatu Vanhanen, Professor Emeritus về khoa học chính trị tại Đại
học Tampere, Tampere, Phần Lan IQ and the Wealth of
Nations (2002) (IQ và sự thịnh vượng của quốc gia) và IQ and Global
Inequality (2006) cho rằng sự giàu có của một quốc gia một phần lớn
có thể giải thích bằng cách nhìn vào chỉ số IQ trung bình của nước
đó. Luận điểm trên đã và đang được ủng hộ nhưng cũng có nhiều
chê bai. Thông tin đó đang được đặt câu hỏi để nghiên cứu thêm.
[sửa]Sự hiệu quả thực tế
Bằng chứng về hiệu quả thực tế của chỉ số thông minh được kiểm
chứng bằng cách kiểm soát "độ liên quan giữa IQ và thực tế cuộc
sống.
Những điều kiện kinh tế và xã hội liên quan đến IQ
Yếu tố Độ liên quan
Học vấn và IQ 0,5
Tổng số năm học tập và IQ 0,55
IQ và điều kiện kinh tế xã hội của cha
mẹ
0,33
Hiệu suất làm việc và IQ 0,54
Những rắc rối trong xã hội và IQ -0,2
IQ của những cặp sinh đôi 0,86
IQ của vợ và chồng 0,4
Chiều cao của bố mẹ và đứa trẻ 0,47
Đặc điểm về kinh tế và xã hội của IQ
IQ <75 75–90 90–110 110–125 >125
Chiếm tỉ lệ tong dân số Hoa Kì 5 20 50 20 5
Kết hôn trước 30 tuổi 72 81 81 72 67
Không lao động trên 1 tháng mỗi
giống nhau giữa những gì mà họ thể hiện trong bài kiểm tra và trong
thực tế (được đo bằng nhiều tiêu chí, trong đó có đánh giá của thủ
trưởng, thăng thưởng, ) là một con số từ -1,0 (sai hoàn toàn) đến
1,0 (đúng hoàn toàn). Người ta nhận thấy rằng độ liên quan với
những việc chưa từng làm là 0,2 trong khi những việc đã có kinh
nghiệm là 0,8.
Một cuộc phân tích lớn (Hunter and Hunter, 1984) trên 32,124 công
nhân trên phương diện thông minh tổng quát cho thấy rằng độ liên
quan của những người mới vào làm là 0,54, thử việc 0,44, có kinh
nghiệm 0,18, phỏng vấn 0,14, tuổi tác -0,01, đang được huấn luyện
0,10. Một bài kiểm tra được thiết kế tốt có thể cho phép các công ty
lựa chọn những người có IQ cao. Đó cũng là lý do sau khi xem xét
tất cả các ứng viên, người ta thường có phỏng vấn (độ liên quan
0,14) hơn lựa chọn ngẫu nhiên (độ liên quan 0,00).
Tuy nhiên, có những hàng rào luật pháp như quyền con người, như
trong năm 1971, tòa án tối cao Hoa Kì sau vụ án Griggs và công ty
năng lượng Duke đã cấm hoàn toàn việc các công ty Hoa Kì dùng
những bài kiểm tra thông minh để lựa chọn nhân viên khi kết quả của
bài kiểm tra có ảnh hưởng quyết định đến việc người đó có được
nhận vào làm hay không. Tuy nhiên, Microsoft rất nổi tiếng trong việc
sử dụng những bài kiểm tra trên một cách bất hợp pháp bằng cách
kết hợp nó với quá trình phỏng vấn, và đôi khi họ đặt vấn đề thông
minh cao hơn cả kinh nghiệm (xem thêm ở
[17]
và
[18]
).
Những nhà khoa học cũng đã lên tiếng "trong kinh tế, sự đo lường trí
thông minh đồng nghĩa với sự suy giảm những giá trị đạo
đức"(Detterman and Daniel, 1989, xem thêm ở
những nhà khoa học.
Arthur Jensen, giáo sư khoa tâm lý giáo dục, Đại học California tại
Berkeley hưởng ứng ý kiến của Gould và có một bài báo mang
tên The Debunking of Scientific Fossils and Straw Persons (Vạch trần
những luận điểm khoa học cũ kĩ của những người rơm)
[23]
.
[sửa]Hiệp hội của những người có IQ cao (High IQ societies)
Top 5% (1 trên 20; IQ 124 sd15, IQ 126 sd16, IQ 139
sd24): International High IQ Society
Top 2% (1 trên 50; IQ 130 sd15, IQ 132 sd16, IQ 148
sd24): Encefálica Society, High Potentials Society, Mensa
International,Mysterium Society
Top 1% ( 1 trên 100; IQ 135 sd15, IQ 137 sd16, IQ 156
sd24): Intertel, Top One Percent Society
Top 0,7% (1 trên 147; IQ 137 sd15): Sunesis Society(Defunct)
Top 0,5% (1 trên 200; IQ 139 sd15, IQ 141 sd16, IQ 162
sd24 ): Colloquy (Society), Poetic Genius Society
[24]
Top 0,37% (1 trên 270; IQ 140 sd15, IQ 142 sd16, IQ 163
sd24): Tổ chức những người IQ cao Việt Nam, Infinity
International Society, HispanIQ International Society
Top 0,3% (3 trên 1 nghìn; IQ 141 sd15, IQ 144 sd16, IQ 166
sd24 ): Cerebrals Society
Top 0,2% (1 trên 500; IQ 143 sd15, IQ 146 sd16, IQ 169
sd24): exactiq high IQ society
Top 0,13% (13 trên 10.000; IQ 145 sd15, IQ 148 sd16, IQ 172
sd24): CIVIQ Society
Top 0,1% (1 trên 1 nghìn; IQ 146 sd15, IQ 149 sd16, IQ 174
sd24 ): Glia Society, International High IQ Society
Plomin, 2001–2003
4. ^
a
b
Sailer, Steve. “IQ Defenders Feel Vindicated by Supreme
Court”, UPI, 24 tháng 6 năm 2002.
5. ^ Boyle, Coleen A.; Marshalyn Yeargin-Allsopp; Nancy S.
Doernberg; và các cộng sự (19 tháng 4 năm 1996).
“Prevalence of Selected Developmental Disabilities in Children
3-10 Years of Age: the Metropolitan Atlanta Developmental
Disabilities Surveillance Program, 1991”.Morbidity and
Mortality Weekly Report 45 (SS-2): 1–14.
6. ^ Nghiên cứu của Gottfredson, 1994. Arvey, Richard; Thomas
J. Bouchard, Jr.; John B. Carroll; và các cộng sự. “Mainstream
Science on Intelligence”, The Wall Street Journal, Dow Jones
& Company, 13 tháng 12 năm 1994, trang A18.
7. ^ Jackson, Douglas N.; Rushton, J. Philippe (September-
October 2006). “Males have greater g: Sex differences in
general mental ability from 100,000 17- to 18-year-olds on the
Scholastic Assessment Test”. Intelligence 34 (5): 479–
486. doi:10.1016/j.intell.2006.03.005.
8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ
ref có tên Hedges_and_Nowell
9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ
ref có tên lrainc.com
10. ^ Jorm, Anthony F.; Anstey, Kaarin J.; Christensen,
Helen; Rodgers, Bryan (January-tháng 2 năm 2004). “Gender
differences in cognitive abilities: The mediating role of health
state and health habits”. Intelligence 32 (1): 7–