Một số kinh nghiệm gây hứng thú cho học sinh khi dạy học
môn ngữ văn 9 về cụm văn bản nhật dụng lớp 9
I/ Nhận thức cũ và tình trạng cũ:
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của văn bản nhật dụng nói chung và văn bản
nhật dụng ở lớp 9 nói riêng: (cụm ba bài: Phong cách Hồ Chí Minh; Đấu tranh cho
một thế giới hoà bình ; Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đợc bảo vệ và phát
triển của trẻ em.) thì khái niệm về văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại
cũng không phải kiểu văn bản mà nó chỉ đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật
của nội dung văn bản mà thôi. Hơn nữa, đây là một loại văn bản mới đợc đa vào học
ở chơng trình cải cách 4 năm rồi nhng việc thi cử ít đề cập tới, kết quả HS học để cho
biết, nên học thờng chủ quan, lơi là đặc biệt đối với học sinh lớp 9 cuối cấp. Căn cứ
vào tình hình hiện tại, việc học văn bản nhật dụng ở trờng PTTH, PTCS nói riêng và
tình trạng học ngữ văn nói chung. Xu thế học sinh không ham học, không thích học
đặc biệt là cụm 3 bài văn bản nhật dụng ở lớp 9, phơng thức biểu đạt chủ yếu là nghị
luận xã hội nên tính lí luận nhiều, khô khan giờ học thờng căng thẳng, nặng nề mang
tính áp đạt, luân lývì thế học sinh khó nhận thức nội dung bài học, giáo viên dạy loại
văn bản này rất nặng nề .
Đối với ngời giáo viên, có trình độ, có năng lực, có phơng pháp, có hớng dẫn
sách giáo viên, tài liệu Cha đủ mà cần phải luôn luôn tìm tòi qua phơng pháp, qua
thực tế, lịch sử, qua tin tức thời sự quốc tế, trong nớc, tin cập nhậttừng năm, hàng
ngàyđể từ đó áp dụng vào từng bài cụ thể qua cách giới thiệu bài (mở bài) cách liên
hệ hợp lí ngay từng phần trong bài học để tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học
loại văn bản này.
II/ Nhận thức mới và ph ơng pháp mới:
Nh chúng ta đã biết vai trò và chức năng của văn bản nhật dụng nói chung và 3
bài văn bản nhật dụng lớp 9 nói riêng đều có đặc điểm nổi bật là: Về đề tài (văn bản
nhật dụng sử dụng có đề tài đa dạng, phong phú nh: môi trờng, thân nhân, gia đình, xã
hội). Về chức năng:( Có thể bàn luận, thuyết minh, tờng thuật, miêu tả) về tính cập
nhật là tính thời sự kịp thời đáp ứng nhu cầu đòi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống
hiện tại, gắn liền với những vấn đề cơ bản của cộng đồng xã hội
Vì thế học sinh học văn bản nhật dụng có vai trò và mục đích rất quan trọng
việc thờng xuyên và cần thiết của mỗi ngời Việt Nam.
- Văn bản có hai nội dung ( tơng đơng hai luận điểm): 1- con đờng hình thành
phong cách văn hoá Hồ Chí Minh. 2- Vẽ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh thể hiện
trong phong cách sống và làm việc của Ngời.
Để học sinh nhận thức đợc điều đó một cách dễ dàng, giáo viên phải có phơng
pháp đặt câu hỏi, tạo tình huống để gây hứng thú cho học sinh ngay ở phần mở bài
(phần giới thiệu).
Ví dụ:
1.Phần mở bài( phần giới thiệu bài)
*Cách 1: Một sự kiện rất quan trọng và nội bật về tình hình chính trị hiện nay
của 2007 đầu 2008 mà cả nớc từ các cơ quan dân chính Đảng đến các trờng học các tổ
chức đều thi đua học tập vấn đề gì?
*Cách 2: Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn danh nhân
văn hoá thế giới (1990). Bởi vậy phong cách sống và làm việc của Bác không chỉ là
phong cách sống và làm việc của ngời anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn là một nhà văn
hoá lớn, một con ngời của nền văn hoá tơng laiBài viết của nhà giáo, nhà lí luận phê
bình văn học Lê Anh Trà là một minh chứng hùng hồn cho phong cách của Ngời
* Cách 3: Hiện nay, trong thời kì hội nhập với nền kinh tế thế giới, đời sống con ngời
ngày càng đợc cải thiện nâng cao. Hiện tợng một số cán bộ Đảng viên lạm dụng chức
quyền, thoái hoá biến chất, chỉ lo vun vén quyền lới ích kỉ cho bản thân, dòng họ mình
mà quên đi phẩm chất của ngời cán bộ cách mạng vì thế bài viết Phong cách Hồ Chí
Minh của Lê Anh Trà là một minh chứng để thức tỉnh mỗi một chúng ta phải sống và
làm việc nh thế nào? để xứng đáng với tổ tiên, với dân tộc.
1. Phần liên hệ nội dung bài học:
Giáo viên không cần phân tích nhiều mà cho học sinh chuẩn bị trớc: Tìm hiểu
những mẫu chuyện kể về Bác. (giáo viên phải định hớng những mẫu chuyện về chủ đề
nói về phong cách sống, làm việc, ăn ở giản dị cảm động của Bác)
Ví dụ:
- Trớc khi mất Bác muốn nghe một câu hát dân ca, một câu hò xứ Nghệ
- Bác tiết kiệm: (đi một đôi dép cao su đã 11 năm, Bác gọt những quả chuối đã
nay chúng ta đợc nghe tiếng nói của nhà văn Nam mĩ (Cô-lôm-bi-a) đã từng đạt giải
thởng Nô-ben văn học nói về vấn đề này.
* Cách 2: Việt Nam trong những năm chiến tranh phá hoại do đế quốc Mĩ
gây ra 1954 đến 1975 đã để lại nhiều mất mát và đau thơng do sự huỷ diệt của bom
nguyên tử hạt nhân. Chiến tranh đã lùi xa rất lâu nhng di chứng, hậu quả của chiến
tranh hạt nhân vẫn mãi mãi là nỗi đau nhức nhối cho cả dân tộc Việt Nam. Tiếng nói
của nhà văn Nam mĩ G.G Mác-két giúp chúng ta thấy rõ nguy cơ về chiến tranh hạt
nhân và chúng ta cần phải làm gì để đấu tranh cho một thế giới hoà bình.
* Cách3:
- Em biết gì về nguyên tử hạt nhân? Những ứng dụng của nó trong hoà
bình và trong chiến tranh?
- Chiến tranh thông thờng và chiến tranh nguyên tử hạt nhân khác nhau nh
thế nào? Hai cuộc chiến tranh thế giới (chiến tranh thế giới I và II). Các cuộc chiến
tranh chống xâm lợc ở nớc ta ở thế kỉ XX thuộc loại chiến tranh nào? Phải làm gì để
ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân trên thế giới? Bài viết của Mác-két hôm nay ta
đợc học sẽ bàn luận về những vấn đề thiết yếu và thời sự đó.
2. Phần liên hệ nội dung bài học:
Giáo viên cần đa ra những dẫn chứng cập nhật mới nhất để liên hệ vào các
luận điểm trong bài.
Trong luận điểm 1: Hiểm hoạ của chiến tranh hạt nhân.
Giáo viên đa ra dẫn chứng:
- Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở nớc ta đế quốc Mĩ đã rãi xuống Việt
Nam 19 triệu gallon chất độc, trong đó 7 triệu gallon chất diệt cỏ, 12 triệu gallon chất
độc màu da cam.
Trong luận điểm 2: Đoàn kết ngăn chặn chiến tranh hạt nhân vì một thế giới
hoà bình là nhiệm vụ của mọi ngời.
Giáo viên đa ra các dẫn chứng :
9-10-2006 Liên hợp quốc, Nga và nhân dân thế giới phản đối kịch liệt vụ thử
thành công hạt nhân của CH nhân dân Triều Tiên (sau 4 năm chuẩn bị dới lòng
đất) bất chấp mọi sức ép của cộng đồng thế giới.
thách những cản trở không nhỏ ảnh hởng xấu đến tơng lai phát triển của trẻ em. Một
phần văn bản: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đợc bảo vệ và phát triển của
trẻ em tại hội nghị cấp cao thế giới họp tại Liên hợp quốc cách đây 18 năm
(1990) đã nói lên tầm quan trọng của vấn đề này.
2. Liên hệ nội dung bài học:
- Trong mục: * Các giải pháp cụ thể của cộng đồng quốc tế về quyền trẻ em-
nhiệm vụ.
Giáo viên cần liên hệ đa ra các thông tin cập nhật ở Việt Nam, thế giới với
hình thức đặt câu hỏi để học sinh thảo luận sau đó giáo viên đa ra các số liệu, thông tin
quan trọng, cập nhật, cụ thể trong thời gian gần nhất:
Ví dụ:
+ Theo em trẻ em Việt Nam đã đợc hởng những quyền lợi gì từ những nỗ lực
của Đảng và nhà nớc ta? (quyền đợc học tập, quyền đợc chữa bệnh, đợc sáng tác, đợc
vui chơi).
+ Việt Nam là nớc đầu tiên kí công ớc về quyên trẻ em với Liên hợp quốc
(1989) đợc Liên hợp quốc thông qua việc chăm sóc bảo vệ trẻ em.
- Về thế giới:
+ Đầu năm 2005 hội nghị trẻ em toàn thế giới có hoàn cảnh đặc biệt, nạn nhân
của thiên tai đợc tổ chức ở Tô-Ki-Ô (Nhật Bản) đó là những cuộc gặp gỡ giao lu của
thanh thiếu nhi năm châu, những đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ sau trận động đất, núi
lửa, bão biển, nạn khủng bố 11-9 ở Mĩ
+ Hiện nay một số cá nhân tổ chức vì mục đích lợi nhuận, ích kỉ đã biến trẻ
em thành những đứa trẻ bị phạm tội sớm, nạn nhân của bạo lực, của sự hành hung độc
ác, mù chữ, nạn nhân của tệ nạn xã hội, của các đại dịch Bằng chứng cho thấy:
- Báo nhân dân 18-12-2007 đã đăng tin quyết định của Bộ giáo dục và đào tạo
về việc ngăn chặn và xử lí nạn bạo hành học sinh và giáo viên. Phát hiện và thống kê
đến tháng 12-2007 đã có 10 tỉnh trên cả nớc có gần 20 vụ trẻ em bị giáo viên hành hạ
bạo hành, có những trờng hợp bị thơng tích nguy hiểm dẫn đến tình trạng nh: bé Bảo
Trâm(18 tháng tuổi) ở trờng mần non t thục Thiên Thơ (Hồ Chí Minh) bị bảo mẫu Lê
Vi dùng băng keo dán miệng vì bé hay khóc.
muốn tạo hứng thú say mê cho học sinh học và đạt đợc kết quả cao trong giờ dạy thì
ngời giáo viên cần:
1. Ngoài kiến thức trong sách giáo khoa (văn bản), sách giáo viên, sách thiết
kế, thì ngời giáo viên cần phải đọc, tìm hiểu thật kỹ về tác phẩm, tác giả, hoàn cảnh
sáng tác. Đọc và tìm hiểu thêm các t liệu liên quan đến kiểu văn bản nhật dụng
2. Ngời giáo viên cần phải tìm hiểu trăn trở, suy nghĩ những phơng pháp,
chọn lựa những giải pháp, tình huống tích cực nhất để vận dụng vào từng loại văn bản
phù hợp với từng đối tợng học sinh từng vùng, từng lớp, thậm chí từng nhóm đối tợng.
3. Đối với loại văn bản nhật dụng và văn bản nghị luận, tính lý luận cao nên
thờng tâm lý học sinh căng thẳng vì kiến thức dài, khô khan, khó hiểu. Giáo viên cần
vận dụng các mẫu chuyện, dẫn chứng mang tính thực tế, lịch sử (áp dụng tuỳ vào nội
dung từng bài), để kích thích gây tòi mò, hứng thú, say mê cho học sinh. Giúp học
sinh hiểu bài dễ hơn, nhanh hơn qua phần giới thiệu bài và liên hệ ngay từng
phần của bài học.
4. Để đạt đợc những yêu cầu, kết quả đó, ngời giáo viên không chỉ giảng
dạy rặp khuôn, máy móc theo hớng dẫn sách giáo viên mà phải luôn luôn tìm tòi, lắng
nghe, nắm bắt thông tin cập nhật (liên quan đến nội từng văn bản nhật dụng) qua đài,
trên báo chí, qua thông tin mạng, qua tình hình thời sự trong nớc, quốc tế, qua từng
ngày, từng năm cụ thể để vận dụng vào bài giảng, liên hệ vào phần nội dung phù hợp
thì sẽ gây sự chú ý, tin tởng hơn, giúp học sinh hiểu nhanh hơn, hứng thú học bài hơn
qua kiến thức sách giáo khoa và kiến thức thực tế.
Nh vậy theo tôi để dạy học thành công một tiết văn bản nhật dụng, giáo
viên cần chuẩn bị đầy đủ các bớc, các khâu nh dạy các tiết văn bản khác. Ngoài ra ng-
ời giáo viên cần tìm hiểu thêm về các kiến thức thực tế, cập nhật để vận dụng linh hoạt
vào bài giảng một cách cụ thể, phong phú thì mới giúp học sinh dễ hiểu và gây đợc
hứng thú, đam mê khi học kiểu văn bản này. Kinh nghiệm này không phải là tất cả,
song theo tôi nó rất quan trọng để giúp học sinh ham thích học môn ngữ văn hơn trong
thời đại khoa học công nghệ hiện nay.
class="bi x0 y0 w1 h1"
Phòng GD & ĐT yên thành