Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học Việt Nam trung cận đại - Pdf 28

TRỞ LẠI VẤN ĐỀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO
GIÁO ĐỐI VỚI NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM
THỜI TRUNG CẬN ĐẠI

GS. Nguyễn Đình Chú

Tạm chưa nói đến những ý kiến của các sử gia, các bậc đại nho thời trung cận
đại, khi nói đến sự du nhập của nền Hán học vào nước ta mà từ đã không thể không
chạm vào vấn đề ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học trung cận đại Việt Nam vốn
chưa thực sự tự giác trong nhận thức mà một phần là do quan niệm văn sử triết bất
phân, do tính độc lập tương đối của văn học chưa được phát hiện tới mức cần có. Cũng
tạm chưa nói đến nhiều ý kiến của nhiều chí sĩ ái quốc đầu thế kỷ XX như Phan Bội
Châu, như các nhà Đông Kinh nghĩa thục, kể cả nhiều nhà cựu học, và một vài nhà vừa
cựu vừa tân học vào những năm 20 của thế kỷ XX nói về nền cựu học, về vấn đề quốc
học của nước nhà mà ở đấy ít nhiều cũng đụng chạm đến vấn đề ảnh hưởng của Nho
giáo đối với văn học trung cận đại Việt Nam.
Chỉ nói riêng trong phạm vi các công trình văn học sử Việt Nam, kể từ ngày nó
có mặt chính thức vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX cho tới nay thì hầu như không
một công trình nào khi viết về lịch sử văn học Việt Nam thời trung cận đại không nói
đến ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học.
Cuốn sách "Việt Nam văn học sử yếu" của Dương Quảng Hàm, từng được coi là
công trình mở đầu của Khoa văn học sử Việt Nam, trong thiên thứ hai nói "Ảnh hưởng
của nước Tàu" đã có chương thứ 2 nói về "Văn chương cổ điển - những điều giản ước
về sách giáo khoa cũ để học chữ Nho" và chương thứ 3 nói về "Công dụng của văn học
Tàu xét qua bộ Tứ thư" đã có đoạn viết: "… dân tộc Việt Nam ngay từ khi thành lập đã
chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu. Cái văn hóa ấy truyền sang nước ta có nhiều cách,
nhưng thứ nhất là do văn học, tức là nhờ sự học chữ nho và sách chữ nho của người
Tàu tràn sang. Chính cái văn học của người Tàu ấy đã chi phối tư tưởng, học thuật,
luân lý, chính trị, phong tục của dân tộc ta. Trong các trào lưu tư tưởng của người Tàu
tràn sang bên ta, có ảnh hưởng sâu sắc đến dân tộc ta, nhất là Nho giáo. Các sách làm
gốc cho Nho giáo là Tứ thư và Ngũ kinh. Các sách ấy vừa là kinh điển của các môn về

Chương II: Sự hình thành và phát triển của loại hình nhà nho tài tử trong môi
trường xã hội phi cổ truyền.
Chương III: Nhà nho tài tử và sự phát triển của văn học Việt Nam trong các thế
kỷ XVIII - XIX.
Chương IV: Chung cục và nối tiếp.
Quả đấy là một công trình học thuật có nhiều đóng góp mới. Nhưng vấn đề ảnh
hưởng của Nho giáo chủ yếu chỉ mới được xem xét trong phạm vi loại hình nhà nho tài
tử chưa phải với toàn bộ nhà nho - văn gia của thời trung cận đại.
Gần đây nhất, GS. TSKH Phương Lựu với tham luận "Khái quát về quan niệm
văn học Nho giáo ở Việt Nam" tại Hội thảo quốc tế do Viện Hán Nôm Việt Nam và
Viện Harward - Yenching Hoa Kỳ tổ chức (2004) tại Hà Nội đã có những đóng góp
mới đáng ghi nhận trong việc nhận diện "ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt
Nam trung cận đại" theo hướng miêu tả cụ thể điều mà học thuật đang cần.
Việc nhận diện về ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam trung cận
đại đã từng bước phát triển như trên vừa nói nhưng thiết tưởng vẫn đòi hỏi những khám
phá mới, những nhận thức mới. Đúng với bản chất của sự nghiên cứu khoa học là
Recherche trong tiếng Pháp, tức là tìm đi, tìm lại, đã tìm được còn phải tìm thêm. Trong
việc tìm thêm này, một điều không thể thiếu là cần nhận ra những hạn chế để có hướng
khắc phục dần với vai trò cá nhân đã đành, mà quan trọng nữa là vai trò của tập thể.
Trong việc nhận diện ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học trung cận đại Việt
Nam, cái vướng, cái phức tạp, để cần có điều chỉnh mới, bổ sung thêm trước hết vẫn từ
sự nhận thức về Nho giáo là gì, văn học là gì, vốn trực tiếp liên quan đến việc nhận diện
ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học nói chung, văn học Việt Nam trung cận đại
nói riêng. Chúng ta đều biết Nho giáo là một vấn đề vô cùng phức tạp ngay trên quê
hương của Nho giáo và cả ở Việt Nam, chưa nói là với cả thế giới. Ở Trung Hoa, Nho
giáo có cả một lịch sử vận động lâu đời qua các thời đại, từ nảy sinh đến tiếp biến, phái
sinh với những nội dung mang tính lịch sử cụ thể của từng thời đại. Khi nói đến "Ảnh
hưởng của Nho giáo đối với văn học trung cận đại Việt Nam" vốn có liên quan mật
thiết với Nho giáo của Trung Hoa mà né tránh, bỏ qua tính lịch sử cụ thể của nó thì liệu
là không rơi vào tình trạng nhìn ngọn không nhìn gốc, chung chung, xô bồ sao. Còn ở

của tự thân văn hóa nằm ngoài quan hệ giữa nó với chính trị. Chứng cớ là: Nho giáo đi
theo đội quân xâm lược của nhà Hán vào Việt Nam và từng là công cụ thống trị của nhà
Hán ở Việt Nam nhưng sau khi nhà Hán xâm lược cút khỏi Việt Nam thì văn hóa Hán,
Nho giáo vẫn ở lại Việt Nam, góp phần tạo ra nền văn hóa Việt Nam bề thế trong lịch
sử Việt Nam, được người Việt Nam tự hào, coi là của chính mình. Không nhận ra quy
luật thứ hai để lên án Nho giáo một cách gay gắt và phiến diện thực tế đã chi phối rõ rệt
một thời với nhiều người Việt Nam khi nghĩ về Nho giáo, và do đó là về "Ảnh hưởng
của Nho giáo đối với văn học Việt Nam trung cận đại".
Việc nhận diện về ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam, xét cho
cùng là lệ thuộc vào tình hình, vào chất lượng cao thấp của việc nghiên cứu, đánh giá về
Nho giáo và về văn học. Trong thực tế phải thừa nhận rằng: thành quả nghiên cứu văn
học đã có bề dày lịch sử lớn hơn thành quả nghiên cứu Nho giáo. Ở đây, tôi muốn nói
đến thành quả của Nho giáo trong sự tiếp biến, phái sinh của người Việt Nam trên đất
Việt Nam - có thể gọi là Việt Nho - chứ không phải của người Việt Nam nghiên cứu về
Nho giáo gốc của Trung Hoa. Kể từ ngày có các công trình sáng giá như "Nho giáo"
của Trần Trọng Kim, "Khổng học đăng" của Phan Bội Châu, "Kinh Dịch" của Ngô Tất
Tố, "Khổng giáo phê bình tiểu luận" của Đào Duy Anh… ra đời vào những năm 30-40
của thế kỷ XX và tiếp theo là nhiều công trình khác hoặc ít hoặc nhiều bàn giải về Nho
giáo của các nhà nghiên cứu lớp sau như: Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê, Giản
Chi, Nguyễn Duy Cần…, cả đến sau này nữa như Bùi Văn Nguyên, Trần Trọng Sâm,
Hoàng Tuấn, Lê Văn Quán, Đỗ Anh Thơ… quả đã ngày một phong phú thêm, nhưng
đó chủ yếu vẫn thuộc nội dung nghiên cứu Nho giáo gốc của Trung Hoa. Còn Việt Nho
mà tôi đang muốn nói là có trong nhiều thư tịch Hán Nôm, trong không ít sách của
nhiều bậc đại nho, trong văn sách thi đình của nhiều thế hệ với yêu cầu thí sinh nhớ
kinh truyện Nho giáo đi đôi với phần bình luận mang dấu ấn cá nhân người thi, trong
loại sách gia huấn thường có trích lời thánh nhân của Nho giáo kèm theo lời giải thích,
giảng giải của người viết… Tham luận có nhan đề "Thư tịch Hán Nôm Việt Nam luận
giải về Tứ thư và Ngũ kinh hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm" của PGS. Viện trưởng
Viện Hán Nôm - Trịnh Khắc Mạnh, tham luận có nhan đề "Tổng quan tài liệu Nho giáo
và Nho học ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm" (Khảo sát đánh giá về trữ lượng và giá trị)

ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam thời trung cận đại, là quan niệm
"Văn dĩ tải đạo" và "Thi ngôn chí" vốn là quan niệm chủ đạo của văn học Việt Nam
trung cận đại. Với quan niệm này, đạo đức vừa là nền tảng vừa là cứu cánh của văn học.
Từ đó, chung quanh mối quan hệ giữa văn và đạo cũng đã diễn ra hai khuynh hướng
khác nhau. Một khuynh hướng chỉ coi văn là phương tiện đơn thuần để chở đạo. Một
khuynh hướng vừa coi văn là phương tiện để chở đạo vừa chú trọng đến tính độc lập
tương đối của văn. Hai câu thơ của cụ đồ Chiểu: "Văn chương ai cũng muốn nghe/
Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần" là thuộc khuynh hướng thứ hai và là khuynh
hướng tối ưu trong sáng tạo nghệ thuật. Nói theo ngôn ngữ ngày nay là sự kết hợp hài
hoà giữa nội dung và hình thức nghệ thuật trong sáng tác văn chương. Nền văn học Việt
Nam thời trung cận đại đã tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan điểm văn dĩ cải tạo ở
cả hai hướng nhận thức đó.
Quan niệm "Văn dĩ tải đạo" cũng như "thi ngôn chí" chính là sản phẩm truyền
thống văn hóa của phương Đông - trong đã có vai trò rất lớn của Nho giáo - với đặc
trưng lấy đức trị làm đầu, khác với phương Tây, coi pháp trị là chính. Có thể nói trong
các học thuyết đã có của nhân loại từ xưa tới nay, không một học thuyết nào coi trọng
vấn đề đạo đức, trước hết là đạo đức cá nhân, coi trọng vấn đề tu thân bằng Nho giáo.
Trong lịch sử phương Đông, trong đó có Việt Nam, thời trung cận đại, với môi trường
văn hóa đó, đã có một bầu khí quyển đạo đức dày đặc dù rằng trong cuộc sống bấy giờ
vẫn không thóat khỏi quy luật muôn đời: thiện ác tương tranh. Trong đó, dù có những
nguyên lý đạo đức cứng nhắc, nhưng vẫn chứa chan chất nhân bản, cả trên phương diện
lý trí, cả trên phương diện tình cảm, cảm xúc, đủ làm cơ sở cho sự kết tinh nghệ thuật
văn chương. Sự thật là thế, nhưng đến thời hiện đại, chưa nói với cả phương Đông, chỉ
có riêng ở Việt Nam ta thì trước sự áp đảo của văn hóa phương Tây dẫn đến tình trạng
ít nhiều bị cắt đứt với quá khứ, thực tế đã có hiện tượng suy giảm về đạo lý. Nhìn về
đạo đức truyền thống, không ít người chỉ thấy phần nguyên lý cứng nhắc mà không
thấy phần tích cực, nhân bản chân chính của nó. Trong văn học, từ đó mà có xu hướng
coi nhẹ, thậm chí là muốn phủ nhận chức năng giáo huấn, vốn lấy đạo đức làm nền tảng
cho văn chương. Quan niệm "văn dĩ tải đạo", "thi ngôn chí" của thời kỳ trung cận đại
do đó dường như cũng bị coi là lạc hậu. Khái niệm "văn học chức năng", "văn học hành

thể loại văn chương chính luận. Do đó, có thể nói ảnh hưởng rõ nhất của Nho giáo đối
với văn học Việt Nam trung cận đại, trước hết là ở những tác phẩm thuộc thể loại chính
luận. Ví như: Tứ thư thuyết ước của Chu Văn An (đã thất truyền), Luận ngữ ngu án của
Phạm Nguyễn Du, Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt, Bùi gia huấn hài của Bựi
Dương Lịch v.v… và thể loại văn sách thi Đình, thể loại gia huấn như đã nói. riêng với
văn chương mỹ thuật (belles lettres), ảnh hưởng của Nho giáo bộc lộ trực tiếp, dễ thấy
là ở thành tố triết luận mà loại tác phẩm này tuy đã mang tính nghệ thuật nổi trội nhưng
vẫn chưa thóat hẳn khỏi quy luật văn triết bất phân của văn học trung cận đại. Lời mở
đầu Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu
phạt trước lo trừ bạo" (học thuyết nhân nghĩa), hai câu thơ mở đầu Truyện Kiều của
Nguyễn Du: "Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét
nhau"(thuyết tài mệnh tương đố), hai câu thơ mở đầu truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn
Đình Chiểu: "Trai thì trung hiếu làm đầu/ Gái thì tiết hạnh là câu sửa mình" (đạo đức
trung hiếu tiết hạnh)… là những dẫn chứng. Tất nhiên, ở đây sự ảnh hưởng còn được
tan biến vào nội dung kết cấu, hình tượng nghệ thuật.
2. Nho giáo góp phần hướng văn học vào cuộc sống. Có lẽ cho đến nay, trong
các học thuyết xã hội ít nhiều có tính chất triết học, thì Nho giáo và chủ nghĩa Mác là
hai học thuyết có tính chất nhập thế sâu sắc nhất, tự giác nhất. riêng Nho giáo thì như
mọi người đã thấy, với tính chất nhập thế này, nó có tuổi thọ hơn hai ngàn năm tại các
nước Đông Á, kể cả một phần thuộc Nam Á. Trên quê hương của mình, Nho giáo từng
kết duyên với chế độ phong kiến hơn hai ngàn năm. Qua thời đại Mác xít, nó bị hất hủi,
nhưng nay đang là gì trên quê hương đó, ai có điều kiện theo dõi sẽ thấy. Với Nhật Bản
thì Nho giáo đã gắn bó từ xa xưa và luôn luôn được bảo vệ, được lợi dụng và được coi
là một trong bốn cây cột cái của cái gọi là "tinh thần Nhật Bản" từ buổi đầu đón nhận
"kỹ thuật phương Tây" để nhanh chóng trở thành siêu cường, và đến nay có thể dõng
dạc tuyên bố với thế giới: "tinh thần Nhật Bản" và "kỹ thuật Nhật Bản". Rồi nữa, Hàn
Quốc, Đài Loan, Singapore mấy con rồng ấy đều là những xứ sở biết tận dụng khai thác
tính chất nhập thế của Nho giáo. Tính chất nhập thế của Nho giáo đã góp phần hướng
văn học vào cuộc sống. Ở phương diện này, Nho giáo có vai trò hơn Phật giáo vốn
mang tính chất xuất thế, hoặc nhập thế dưới hình thức xuất thế. Trần Đình Hượu trong

nhà nho - nghĩa khí. Đạo tu thân của Nho giáo mà Hồ Chí Minh ít ra đã hai lần nói tới
và đề cao, không phải là yếu tố góp phần quyết định nhân cách vĩ đại của Hồ Chí Minh
đó sao.
Nói đến văn học Việt Nam trung cận đại, không thể không ghi nhận những giá trị
đạo đức cao đẹp, sâu đậm bao gồm cả tư đức và công đức trong đó có tư tưởng thân
dân, vốn đã không tồn tại dưới dạng nguyên lý khô cứng mà đã trở thành Tâm huyết
không dễ gì thấy lại ở loại văn chương thời hiện đại. Đặc biệt là thứ tâm huyết gắn chặt
với nghĩa khí thành nghĩa khí - tâm huyết đáng được coi là một phạm trự mỹ học. Mà từ
đó, lại không thể không nghĩ đến một phần cội nguồn của nó là Nho giáo, chân Nho.
Nho giáo có bao nhiêu danh ngôn để đời như: "Kiến nghĩa bất vi vụ dũng giả", "Sát
thân thủ nghĩa", "Xá thân thành nhân", "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di,
uy vũ bất năng khuất", "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", "Kỷ sở bất dục, vật
thi ư nhân", "Thế thiên hành đạo", "Quân tử thận kỳ độc", "Nhất nhật tam tỉnh ngô
thõn", "Tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc" v.v… Thử tưởng tượng, ở thời trung cận đại,
trên đất nước ta, thiếu đi những ý tưởng đó của Nho giáo, của chân nho, thì con người
Việt Nam ta, và cũng là văn học Việt Nam ta sẽ thế nào? Chắc chắn, không như những
gì nó đã có và đã là nguồn tư tưởng tình cảm nuôi dưỡng tinh thần nhân dân ta, làm đẹp
con người Việt Nam ta, văn học Việt Nam ta, ít ra là ở thời trung cận đại mà văn học là
một trong các phương tiện chuyển tải hữu hiệu.
4. Xét về hạn chế của Nho giáo đối với văn học trong đó có văn học trung cận
đại Việt Nam một cách tương đối đầy đủ thì như sau:
4.1 Trước hết, như đã nói là sự hạn chế do kiểu tư duy Nho giáo ít khả năng
phù hợp, thậm chí cũng có thể nói phần nào cản trở hoạt động sáng tác văn chương
mặc dù Nho giáo rất coi trọng văn chương trong sứ mệnh xây dựng cuộc sống con
người.
4.2 Trong Nho giáo, bên cạnh thành phần chân chính, có ý nghĩa nhân văn
cao cả, vẫn có không ít nguyên lý đạo đức cứng nhắc, đen trắng lẫn lộn như trong
đạo tam cương, thậm chí phản nhân văn như trong đạo tam tùng… kể cả một số
quan điểm nhân sinh, phản tiến hóa như tinh thần phục cổ (dù rằng cũng đã có ý
thức duy tân: "Nhật nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân" - Đại học), quan điểm

(4)
Sách này gồm những tham luận trong hội thảo khoa học về Nho giáo do Viện Triết
học thuộc UBKDXHVN tổ chức vào năm 1972 nhưng phải tạm đình. Mãi đến năm
1994, các tham luận mới được NXB Khoa học Xã hội in ấn phát hành.
(5)
Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Nho giáo do Viện Hán Nôm (Việt Nam) và Viện
Harvard - Washington (Hoa Kỳ) phối hợp tổ chức năm 2004. NXB Khoa học Xã hội -
2006.
(6)
,
(7)
Tài liệu đã dẫn.

6-4-10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status