LỜI NÓI ĐẦU
Trong tình hình đất nước hiện nay, sau khi đã là thành viên của WTO, Việt Nam
chúng ta đang có những cơ hội và thách thức lớn trên con đường phát triển kinh tế
đất nước. Đây là thời kì toàn cầu hoá kinh tế và người dân ta thường gọi là “thời
buổi kinh tế thị trường”, điều này nói lên rằng kinh tế hiện nay có vai trò vô cùng
quan trọng đối với tình hình chính trị xã hội hiện tại và việc quản lý tốt nền kinh tế
hiện tại để cho đất nước không rơi vào khủng hoảng là nhiệm vụ của quan trọng
của chính trị Việt Nam. Đây là mối quan hệ biện chứng cần được điều hoà một
cách thoả đáng để phát triển kinh tế đất nước cũng như tầm và vị trí của chính trị
Việt Nam trên trường quốc tế, nếu thiếu bất kì một trong hai yếu tố thì sẽ dẫn đến
tình trạng đất nước lâm vào khủng hoảng, sẽ ảnh hưởng rất xấu đến xã hội.
“Thật tệ hại- chúng tôi đâu có liên quan gì đến Nga hay châu Á. Chúng tôi chỉ là
một doanh nghiệp nhỏ trong nước đang cố phát triển nhưng chúng tôi đang bị
ngáng đường vì cách thức chính phủ các nước ấy điều hành đất nước họ”- Trích từ
“Chiếc Lexus và cây ô liu”. Qua đoạn trích trên ta thấy chính trị tác động rất lớn
đến nền kinh tế. Đó là lý do mà em chọn nghiên cứu đề tài này, để làm rõ mối quan
hệ kinh tế với chính trị và một số phương thức để nâng cao lãnh đạo của chính trị
với kinh tế.
I/ Cơ sở lý luận:
1) Khái niệm:
Ta có nhiều quan niệm về chính trị nhưng nói một cách khái quát, chính trị là
mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, các lực lượng xã hội trong
việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà tập trung là quyền lực nhà nước.
1
Kinh tế là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội, là
tổng thể nên kinh tế quốc dân. Thực chất của kinh tế là lợi ích kinh tế, hiệu quả
kinh tế, sự phát triển của lực lượng sản xuất.
2) Vai trò của kinh tế đối với chính trị:
Hoạt động kinh tế của con người xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con
người, thực chất kinh tế đây là sự sản xuất, nói rõ hơn là việc tìm kiếm thức ăn để
kinh tế. Các nhà lãnh đạo đất nước tìm mọi cách cũng để tăng trường kinh tế cho
quốc gia mình. Do đó mà ta thấy được động lực sâu xa nhất của chính trị là do lợi
ích kinh tế tạo ra. Đơn cử là cuộc chiến Irag do Mỹ phát động với lý do chống
khủng bố và lật đổ chính quyền tổng thống đương nhiệm. Sau khi chính quyền Irag
sụp đổ thì chính phủ Mỹ chiếm ngay các mỏ dầu và khai thác thu lợi nhuận. Dù có
chiến tranh thì suy cho cùng cũng là vì lợi ích kinh tế. Quả thật “chính trị là biểu
hiện tập trung của kinh tế” –Lênin.
3) Vai trò của chính trị với kinh tế:
Chính trị về thực chất là quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội,
các quốc gia dân tộc trong quan hệ với quyền lực nhà nước. Trong đó, trước hết và
cơ bản nhất là quan hệ lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế của từng chủ thể ấy chỉ được
giải quyết bằng con đường nắm lấy sử dụng quyền lực chính trị nói chung, quyền
lực nhà nước nói riêng, tác dụng vào các quá trình kinh tế xã hội làm cho nền kinh
3
tế phát triển theo yêu cầu của mình. Cho nên, việc giải quyết vấn đề quyền lực
chính trị sẽ trực tiếp tác động đến động lực của sự phát triển kinh tế. Vì vậy từ góc
độ của kinh tế, vấn đề chính trị thực chất cũng là vấn đề kinh tế.
Chính trị là tiền đề cho kinh tế vận động và phát triển, chính trị có thể tiên
đoán được kinh tế, vạch hướng phát triển kinh tế. Điều này được thể hiện thông qua
các quyết định Đảng chính trị, của nhà nước. Chính trị có thể điều chỉnh cơ cấu các
thành phần kinh tế trong phạm vi một quốc gia. Ngoài ra, chính trị có thể tiên đoán
được kinh tế vì các nhà lãnh đạo quốc gia thì phải có tầm nhìn cao, rộng mà ta gọi
là tầm nhìn chiến lược để đưa ra các giải pháp hiện tại và tương lai để phát triển
kinh tế xã hội.
Mục tiêu và nhiệm vụ chính trị trong một số trường hợp chi phối đời sống kinh
tế. Do đó với tính độc lập tương đối, chính trị tác động trở lại đối với kinh tế theo
những chiều hướng khác nhau: thúc đẩy hoặc kiềm hãm. Ta giải thích điều này dễ
dàng thông qua quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất sẽ tạo địa bàn rộng lớn cho lực lượng sản xuất phát triển. Khi
Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng tồn tại với vai trò chủ đạo của nền
kinh tế nhà nước là chiến lược lâu dài của việc đảm bảo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, tính tất yếu không phải là một sự áp đặt chính trị, mà là trong
môi trường cạnh tranh với hành lang pháp lý do nhà nước định ra.
5
Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, tạo sự bình đẳng trong kinh doanh, bình đẳng trong phân phối và
hưởng thụ, khuyến khích tài năng và năng lực. Nhà nước thực hiện chính sách xã
hội, chăm lo đến những người có công với đất nước, có sự hy sinh trong chiến
tranh giữ nước nên đã chịu thiệt thòi trong phát triển kinh tế. Nhà nước là trung tâm
quyền lực chính trị thực hiện điều tiết, hạn chế sự chênh lệch tuyệt đối giữa các cực
giàu nghèo.
II/ Thực trạng kinh tế- chính trị:
1) Chuyển đổi cơ cấu kinh tế:
Trong thời gian dài trước đổi mới, cũng như nhiều nước khác, chúng ta đã áp
dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô với những đặc trưng chủ yếu là: xây
dựng nền kinh tế khép kín về lực lượng sản xuất, không thừa nhận sự tồn tại của
nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ, thực hiện cơ chế quan liêu bao
cấp. Mô hình đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu
của đất nước thời kỳ có chiến tranh nhưng sau đó đã bộc lộ những khiếm khuyết,
tình hình kinh tế xã hội đất nước ngày càng khó khăn.
Cuối năm 1986, tại đại hội VI, Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo
của mình. Về kinh tế, đại hội khẳng định phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm phát
triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Phát huy những kết quả đổi mới đã đạt được, sau nhiều năm nghiên cứu tìm
tòi, tổng kết lý luận thực tiễn, đại hội IX (2001) đã chính thức đưa ra khái niệm
6
“kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, khẳng định chủ trương xây dựng
mục tiêu thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm
tới.
Chúng ta đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng, kinh tế xã hội tăng
trưởng nhanh, cơ sỡ vật chất kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân không
ngừng được cải thiện. Tốc độ tăng trường kinh tế cao, năm vừa rồi là 8.5%. Cơ cấu
kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các ngành, các vùng
đã được phát huy. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện.
Thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đảng đã
quan tâm đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước. Luật doanh
nghiệp nhà nước ra đời cho thấy sự tiến bộ rõ ràng về mặt quản lý kinh tế.
Cho đến những năm gần đây, doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế nước ta: năm 2000 doanh nghiệp Nhà nước đóng góp
39.5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu, 39.2% tổng
thu ngân sách nhà nước.
Kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã đã được đổi mới theo luật, chính
sách Đảng và nhà nước. Các hợp tác xã đã chứng tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối
với kinh tế hộ gia đình trong sản xuất hàng hoá, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất
nhà nước. Từ năm 1988, hộ gia đình nông dân đã tự mình quyết định sản xuất cái
8
gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, bán cho ai và tự quyết định cả giá bán.
Địa vị nói trên của hộ gia đình không chỉ là kết quả của các biện pháp đổi mới kinh
tế hợp tác, chế độ quản lý đất đai, mà cả các biện pháp cải cách vĩ mô như về giá
cả, về thị trường…
Đẩy mạnh khu vực tư nhân: sau nhiều năm phân biệt đối xử với khu vực tư
nhân, chính phủ đã hoàn toàn thay đổi cách đối xử và giờ đây nó khuyến khích khu
vực tư nhân. Những đạo luật về các công ty và doanh nghiệp tư nhân đã chính thức
thừa nhận khu vực đã có một thời kỳ là khu vực không chính thức này. Kinh tế tư
nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, nhất
là sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000. Đến nay cả nước đã có rất nhiều doanh
nghiệp tư nhân mà đóng góp quan trọng nhất của kinh tế tư nhân là tạo việc làm và
trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế
hoạch, cơ chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.
Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Nước ta từ
chỗ chưa khai thác dầu đến nay đã khai thác có sản lượng khá cao gần 20 triệu
tấn/năm; ngành công nghiệp chế tác chuếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp;
công nghiệp xây dựng phát triển khá mạnh được thể hiện quaviệc các cao ốc cũng
như chung cư cao tầng liên tục xuất hiện ở các thành phố lớn; sản phẩm công
nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng như một số ngành may mặc, thực phẩm… Ngành
nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đã chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng
sản phẩm có năng suấ và hiệu quả kình tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu.
Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng tốt nhu cầu của sản xuất đời
10
sống. Ngành bưu chính viễn thông và du lịch phát triển nhanh. Các dịch vù tài
chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý… có bước phát triển khá.
Cơ cấu vùng kinh tế có sự chuyển biến theo hướng phát huy lợi thế của mình.
Các vùng kinh tế khó khăn đang từng bước vươn lên, có chuyển biến tốt về đời
sống kinh tế xã hội. Ở đây có vài thí dụ xác thực như khu công nghiệp Dung Quất ở
Quảng Ngãi, điều này thể hiện sự chuyển đổi vùng kinh tế, nhà nước tạo điều kiện
cho mỗi vùng đều có khả năng tự lực hoặc như thị xã Tam Kỳ thì nay là thành phố
Tam Kỳ cho thấy tốc độ đô thị hoá tương đối nhanh.
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sản
xuất thuần nông, tăng tỷ lệ trong công nghiệp và dịch vụ. Điều này có ý nghĩa rất
lớn quan trọng trong công cuộc đưa nước ta từ nước nông nghiệp sang nước công
nghiệp phát triển.
Tóm lại, theo em từ khi đổi mới đến nay kinh tế nước ta đã đạt được hai thành
công lớn do sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.
Thứ nhất là việc xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu, bao cấp. Chấp nhận nền
kinh tế nhiều thành phần. Đó là thành tựu vô cùng to lớn mà Đảng chính trị đã đạt
được trong thời kỳ đổi mới. Điều này thể hiện sự sáng suốt, trí tuệ của Đảng cầm
nghiệp nhà nước vẫn còn rất nghiêm trọng. Đó là: năng lực cạnh tranh còn thấp
12
kém, do chất lượng thấp, giá thành của nhiều sản phẩm còn cao, nhiều mặt hàng
cao hơn giá mặt hàng cùng loại nhập khẩu (như sắt, thép, phân bón, xi măng,
đường), công nợ quá lớn, nợ quá hạn, nợ khó đòi ngày càng tăng (doanh nghiệp
Nhà nước chiếm tới 74.8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thương mại quốc
doanh), quy mô quá nhỏ, công nghệ lạc hậu, v…v… Có những doanh nghiệp đáng
ra phải cho phá sản vì thua lỗ kéo dài, không thể nào cứu vãn được, nhưng vẫn phải
để tồn tại, hàng năm tiếp tục lỗ thêm.
Các chính sách, bộ luật về đảm bảo kinh tế vẫn chưa được xây dựng hoàn
chỉnh. Vẫn tồn tại những yếu tố theo kiểu “ phép vua thua lệ làng” làm mất các cơ
hội được nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đặc biệt sự quản lý về thuế lỏng lẽo đã
làm thất thoát ngân sách nhà nước rất nhiều và ngày càng xuất hiện nhiều thủ đoạn
tinh vi hơn để trốn thuế thu lợi bất chính.
GDP có tăng cao nhưng việc kiềm chế lạm phát không hiệu quả, gây hệ luỵ
xấu về sức mua. Ví dụ đơn giản cho thấy một người kiếm được một triệu, GDP
tăng 10% thì thu được 1100000 nhưng mức độ lạm phát, giá cả các sản phẩm tiêu
dùng lại tăng hơn 10%. Vậy cuộc sống sẽ ngày càng eo hẹp hơn.
Ngoài ra gần đây nhất, tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 cũng bộc lộ một số
hạn chế, bất cập. Ngoài những hạn chế, bất cập tồn tại từ những năm trước, thì năm
nay cũng nổi lên ba vấn đề lớn. Giá tiêu dùng tăng cao nhất so với 11 năm trước đó
và cao hơn tốc độ tăng GDP. Nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ
lệ nhập siêu. Ách tắc và tai nạn giao thông nghiêm trọng,
13
III/ Một số giải pháp:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá trên cơ sở tiếp tục cuộc cách mạng
khoa học kĩ thuật phù hợp với trình độ, bước đi của công cuộc đổi mới. Phải xác
định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển khoa học- công nghệ.
Sở dĩ như vậy là vì, khoa học công nghệ là lĩnh vực hết sức rộng lớn, trong khi có
đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ nước ta còn nhỏ bé, chất lượng thấp, khả năng
cơ sở.
Xây dựng nên bộ luật kinh tế hoàn chỉnh để thay cho các văn bản luật hiện có
nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài cũng như tạo môi trường kinh doanh ổn định hơn
nữa để thu hút các nhà đầu tư. Muốn vậy cần phải tham khảo các bộ luật quốc tế
hiện có nhằm nắm lấy cái chung kết hợp với thực trạng về xã hội, tập quán của
người Việt tức là cái riêng. Như vậy sẽ tạo ra một bộ luật hoàn chỉnh, điều này thể
hiện sự lãnh đạo của nhà nước cũng như trình độ văn minh của nước ta.
Để thực hiện đúng đắn chức năng phân phối của mình, nền kinh tế thị trường
đòi hỏi một loạt thể chế phát triển cao, trong đó có hệ thống pháp lý để chống lại
bạo lực và gian lận bao gồm: hệ thống có liên quan tới những quyền sở hữu, những
điều luật về phá sản và khả năng thanh toán, hệ thống tài chính với ngân hàng trung
ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấp tiền mặt được thực
hiện một cách nghiêm ngặt… Thật vậy, trong các nền kinh tế thị trường không có
gì bảo đảm để không diễn ra bạo lực và gian lận. Đó là lý do tại sao Nhà nước cần
15
phải có lưu trữ văn bản, hồ sơ, chứng từ về đất đai, nhà ở, đảm bảo các hợp đồng
mua bán tất cả các loại sản phẩm. Cả người mua lẫn người bán đều muốn là khi cả
hai phía đã đồng ý trao đổi thì sự thoả thuận nhất định phải được thực hiện. Tình
hình đó cũng giống như đối với quan hệ giữa người chủ và người làm công. Người
lao động đã với tư cách cá nhân hay tập thể trong các tổ chức hiệp hội cũng đều có
sự thoả thuận nhất định về điều kiện làm việc, tiền lương với chủ sử dụng lao động.
Nếu như không có sự đảm bảo cho các thoả thuận ấy, nghĩa là không có sự thực thi
của luật pháp thì các giao dịch trên thị trường trở nên khó mà có thể thực hiện. Nhà
nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư
nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng
quyền sở hữu đó. Nếu không có sự đảm bảo ấy, một số người sẽ gặp phải những rủi
ro nếu đầu tư thời gian và tiền vốn của mình vào lĩnh vực kinh doanh mà rốt cuộc,
tiền lãi thu về lại có thể rơi vào Nhà nước hoặc các tập đoàn khác.
Ngoài ra, sự bảo hộ của Nhà nước đối với sở hữu tư nhân thể hiện một cách rõ
ràng đối với đất đai, nhà máy, công xưởng, kho chứa và các sản phẩm hữu hình
tình trạng trốn thuế hoặc để nợ thuế quá lâu mà không trả làm mất giá trị đồng tiền.
Kết hợp với các bộ ngành khác để hạn chế việc tham nhũng cũng như đưa người
kém năng lực vào những vị trí chủ chốt. Có như vậy ta mới đưa nền kinh tế nhà
nước trở thành nền kinh tế chủ lực được.
Đó chỉ là những giải pháp hiện thời, còn về lâu dài cần có những giải pháp
chiến lược hơn là tăng cường giáo dục cho học sinh sinh viên. Không chỉ về học
vấn mà cả trình độ đạo đức, đào tạo ra những con người thực sự là con người cộng
17
sản, hết lòng vì tổ quốc. Bên cạnh đó cũng cải cách, sửa chữa, bổ sung hoặc làm
mới giáo trình một số môn ảnh hưởng đến kinh tế như kinh tế chính trị, quản lý
kinh tế nhà nước… tạo cho sinh viên những kiến thức hoàn chỉnh nhất để bắt tay
vào công việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế sau này. Ngoài ra cần xây
thêm trường đào tạo nghề để cho mọi người đều có cơ hội đi học và đi làm, điều
này không chỉ góp phần làm tăng thu nhập gia đình mà còn làm tăng kinh tế quốc
dân và ổn định trật tự an ninh xã hội nữa.
LỜI KẾT
Chính trị và kinh tế luôn song hành cùng nhau, nắm được quy luật vận động
phát triển và làm theo quy luật thì sẽ mang lại cho chúng ta những thành tựu đáng
kể về kinh tế cũng như chính trị. Do yêu cầu của bài luận và trình dộ nhận thức có
hạn, em chỉ trình bày những vấn đề chung nhất về thực trạng kinh tế- chính trị đất
nước cũng như những giải pháp cơ bản nhất, chưa chuyên sâu cụ thể. Song, qua bài
18
luận trên cũng cho chúng ta được những cơ sở lý luận chủ yếu, những thực trạng
chung nhất của nước ta sau khi đổi mới cũng như nắm được những giải pháp chung
nhất để trên cơ sở những cái chung đó tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, tìm hiểu để
giải quyết những vấn đề riêng lẻ. Góp phần tăng cường kinh tế vi mô, ổn định kinh
tế vĩ mô và quan trọng là góp phần ổn định chính trị xã hội.
Phương pháp nghiên cứu: Dựa vào giáo trình chính trị học làm “khung” cho quá
trình phân tích, kết hợp một số tài liệu, sách báo cùng những nhận thức bản thân về
tình hình chính trị- kinh tế hiện nay để phát triển, chọn lọc thành bài luận.