Văn hoá doanh nghiệp của Viettel trong giai đoạn chủ động hội nhập quốc tế - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
QUÁCH THỊ NGỌC HÀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP CỦA VIETTELTRONG
GIAI ĐOẠN CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - Năm 2015 XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN PGS.TS Đỗ Minh Cương
PGS.TS Hoàng Văn Hải
Hà Nội - Năm 2015

CAM KẾT
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện. Các
thông tin và số liệu sử dụng trong Luận văn được trích dẫn đủ nguồn tài liệu, kết
quả phân tích trong Luận văn là trung thực. Luận văn không trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào. Ngày 10 tháng năm 2015
Tác giả
Quách Thị Ngọc Hà

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các cán bộ, nhân viên Tập đoàn Viễn thông
Quân đội Viettel đã cung cấp các thông tin giá trị, đóng góp một phần quan trọng để
tác giả hoàn thành Luận văn.
Xin được trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã tạo
mọi điều kiện tốt nhất để tác giả có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu nội dung
của Luận văn. Tác giả

Quách Thị Ngọc Hà
MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU………………………………………………………….i
DANH MỤC HÌNH…………………………………………………………………ii
DANH MỤC HÌNH
STT
Hình
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1
Tác động của môi trường bên trong và bên ngoài
tới VHDN

2
Hình 1.2
Các thành phần VHDN Gerry Johnson

3
Hình 2.1
Quy trình nghiên cứu

4
Hình 3.1
Tăng trưởng doanh thu của Viettel giai đoạn
2000 – 2012

5
Hình 3.2
Mặt tiền của Viện nghiên cứu và Phát triển
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thị trường kinh doanh của các
doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng ra toàn cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam phải
đối diện và tìm cách thích nghi với môi trường cạnh tranh khốc liệt và đa văn hóa.
Họ cũng sớm nhận ra rằng, trong khi các nguồn lực hữu hình có hạn thì khai thác
các nguồn lực vô hình như văn hóa doanh nghiệp sẽ trở thành xu thế và tạo được lợi
thế cạnh tranh lớn. Do đó, để khẳng định vị thế của mình, mỗi doanh nghiệp cần
xây dựng cho mình một hệ thống văn hóa riêng. Văn hóa doanh nghiệp (VHDN)
được coi là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng hình ảnh, thương hiệu và tạo nên
thành công của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh đa quốc gia, đa văn hóa.
Một ví dụ điển hình về vấn đề này ở Việt Nam là Tập đoàn viễn thông quân đội -
Viettel
Tập đoàn Viễn thông Quân đội là doanh nghiệp kinh tế quốc phòng 100%
vốn nhà nước, một doanh nghiệp quân đội kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính -

Viettel đã được Chính phủ quy định rõ hai nhiệm vụ là phát triển kinh tế và phục
vụ an ninh quốc phòng, vì vậy hoạt động kinh doanh của Viettel cũng có những đặc
thù so với các doanh nghiệp cùng ngành, có thể nói là nặng nề hơn. Các hoạt động
kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng của Viettel đã có những đóng góp to lớn cho
quốc gia, tạo nên sự thay đổi về chất lượng mạng thông tin quân sự;cánh sóng của
Viettel đã vươn tới biển khơi, góp phần thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng tại
địa bàn chiến lược này. Vùng sâu, vùng xa, nông thôn, hải đảo những nơi mà
khoảng chục năm trước đây hoàn toàn xa lạ với mạng thông tin di động thì nay
Viettel đã cho thấy nó là của mọi người, mọi nhà, thông thường như cơm ăn, áo
mặc. Có được thành quả ấy là do trong văn hoá doanh nghiệp Viettel, trong nếp
nghĩ cách làm của người Viettel đã thấm nhuần những giá trị cốt lõi và hành động
một cách thống nhất từ những sứ mạng, tầm nhìn và triết lý nhân văn giàu bản sắc .

2
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng dư địa phát triển của Viettel đã cạn vì khi
đem lực lượng đi kinh doanh tại nước ngoài các lợi thế đã có của Tập đoàn không
còn nữa? Liệu văn hoá của Viettel giàu bản sắc “bộ đội cụ Hồ” có thể phát huy
được sức mạnh của nó tại các nước mà họ đang kinh doanh với các nền văn hoá dân
tộc khác biệt với Việt Nam như Mozambique, Haiti, Cameroon hay không? Đây
chính là một câu hỏi nghiên cứu đối với đề tài của Luận văn.
Hoạt động đầu tư kinh doanh của Viettel đã phát triển ở cả 3 châu lục là
Châu Á, Châu Mỹ và Châu Phi; người Viettel đã trở thành công dân của nhiều nước
trên thế giới. Thực tế này có thể dẫn đến nguy cơ "sự phát triển quá nóng" trong
chiến lược phát triển của Tập đoàn? Có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa
doanh nghiệp của Viettel, làm phai nhạt bản sắc của nó? Trong bối cảnh đó, việc
duy trì và phát triển văn hoá doanh nghiệp cũng như áp dụng nó vào công tác quản
trị doanh nghiệp hướng tới sự phát triển bền vững đòi hỏi những người Viettel
"luôn đặt mình trong thách thức" phải đối mặt với những vấn đề và thử thách mới.
Nghiên cứu vấn đề này không đơn giản song có sức hấp dẫn và có tính cấp bách từ
thực tế phát triển của Viettel.

Ba là, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện, phát triển văn hoá
doanh nghiệp của Viettel trong điều kiện Tập đoàn chủ động và đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh trong nước và nước ngoài.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Văn hóa doanh nghiệp của Viettel được xây dựng,
duy trì và phát triển trong quá trình hoạt động của Tập đoàn.
Phạm vi nghiên cứu :
Về không gian : Trụ sở Viettel, các chi nhánh tại TP.Hà Nội chủ yếu trong
lĩnh vực hoạt động kinh doanh viễn thông.

2
Về thời gian : Từ khi Viettel xây dựng và thực hiện Văn hóa doanh nghiệp
đến nay, nhất là giai đoạn từ khi Tập đoàn đầu tư kinh doanh ra nước ngoài (năm
2006).
4. Đóng góp của luận văn
Luận văn có một số đóng góp về mặt lý luận, giúp ích cho việc nghiên cứu về
VHDN của Viettel :
- Luận văn tổng hợp về lý luận về VHDN của một số nhà nghiên cứu, xây
dựng nên khung lý thuyết về VHDN, dùng nó làm cơ sở lý luận và công cụ nghiên
cứu khi xem xét, đánh giá về VHDN của Viettel.
- Luận văn đã tập trung, đi sâu vào việc tìm hiểu bản sắc văn hoá Viettel.
Lãnh đạo Tập đoàn và trong các văn bản VHDN thường nói đến "truyền thống bộ
đội Cụ Hồ và cách làm người lính", Luận văn đã lý giải thực chất của vấn đề này. .
- Viettel là một doanh nghiệp nhà nước do quân đội quản lý nhưng lại xây
dựng được một hệ thống VHDN mạnh và đẹp, đã áp dụng có hiệu quả trong quản trị
doanh nghiệp của mình, tạo ra sự thành công trong nhiều lĩnh vực hoạt động và sự
phát triển bền vững của Tập đoàn. Đây là một vấn đề mới, hấp dẫn mà Luận văn đã
cố gắng nghiên cứu, lý giải.
- Viettel là một trong số ít doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
Cách làm của Viettel cũng rất khác biệt : chọn các nước nghèo, lạc hậu và xa xôi để
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VÀ TỔNG QUAN TÌNH
HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP.
1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
VHDN quyết định sự phát triển trường tồn của doanh nghiệp. Sức sống của nó có
thể còn lâu dài hơn đời sống của những nhà sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp để

2
trở thành tài sản tinh thần, nguồn lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển
bền vững. Vì vậy, VHDN có vai trò quan trọng không chỉ trong công tác quản trị
doanh nghiệp mà nó còn được xem là một giải pháp để nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Nó định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp, tạo ra sự
đồng thuận trong tư tưởng và hành động của mọi thành viên từ đó làm giảm xung
đột trong doanh nghiệp. VHDN mang trong mình bản sắc, là cái phân biệt doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác và có tính di truyền qua nhiều thế hệ thành viên,
tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển bền vững.
Với những vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, VHDN đã được
nhiều nhà khoa học, các học giả rất quan tâm nghiên cứu. Ở nước ta đã có nhiều
công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ kinh tế đề cập và
giải quyết các vấn đề liên quan đến VHDN. Có thể nêu ra một số công trình tiêu
biểu sau :
- PGS.TS. Đỗ Minh Cương - "Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh" –
NXB.Chính trị quốc gia, (2001). Đây là công trình đầu tiên ở nước ta trình bày một
cách hệ thống về các vấn đề văn hoá kinh doanh, VHDN, triết lý kinh doanh từ
phương diện cơ sở lý luận và thực tiễn trên thế giới và tại Việt Nam. Công trình là
một tài liệu tham khảo tốt, cung cấp những kiến thức hữu ích đối với quá trình

chính viễn thông thông qua các biểu trưng trực quan và phi trực quan ; đề xuất giải
pháp để tiếp tục xây dựng, duy trì và phát triển VHDN của Học viện.
Về luận văn thạc sỹ, đã có một số nghiên cứu đề cập đến văn hoá doanh
nghiệp trong ngành bưu chính viễn thông cũng như Tập đoàn viễn thông quân đội:
-Trần Thị Thu Hà - "Văn hoá doanh nghiệp Công ty Vinaphone" (2012)
-Nguyễn Thị Hoa - "Văn hoá doanh nghiệp tại VNPT Bắc Giang" (2012)
Trần Thị Huyền - "Duy trì và phát triển văn hoá doanh nghiệp Viettel để phát triển
bền vững và hội nhập quốc tế" (2013)
Trong bối cảnh Việt Nam chủ động tham gia và hội nhập mạnh mẽ vào nền
kinh tế toàn cầu, VHDN cũng là đề tài được quan tâm tại nhiều Hội thảo trong nước
với nhiều quy mô khác nhau:

2
- Hội thảo “Phát triển VHDN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp Việt Nam sau khi ra nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO (2008). Với 14
tham luận, Hội thảo đã tập trung vào những vấn đề như văn hóa doanh nghiệp là gì?
Thực trạng VHDN Việt Nam, cơ hội và thách thức với doanh nghiệp hậu WTO;
nhận thức của doanh nghiệp về VHDN; Suy nghĩ của chủ doanh nghiệp về xây
dựng VHDN; xây dựng VHDN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII.
- Hội thảo “Xây dựng Văn hóa doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” do Ban
Tuyên giáo Trung ương cùng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức năm 2008.
Các tham luận tập trung vào 05 vấn đề chính: bàn về xây dựng VHDN; quan hệ hữu
cơ giữa xây dựng VHDN với xây dựng văn hóa quản lý nhà nước; VHDN tiếp cận
từ thực tiễn; những thuận lợi, khó khăn cần giải quyết để xây dựng VHDN; một số
giải pháp để xây dựng và phát triển VHDN Việt Nam.
- Hội thảo về xây dựng và thực hiện VHDN do Đảng ủy Khối Doanh nghiệp
Trung ương tổ chức ngày 30/9/2009. Các Tập đoàn, Tổng công ty xác định bên
cạnh đẩy mạnh hoạt động văn hóa thường xuyên còn gắn xây dựng văn hóa với các
mục tiêu, phương hướng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, sản xuất kinh doanh.
Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận, làm rõ thêm các vấn đề về khái niệm, tiêu

đến một nhân tố quan trọng, một chìa khoá thành công của các công ty Nhật trên
khắp thế giới là văn hoá doanh nghiệp. Cùng với đó, ý tưởng về "môi trường doanh
nghiệp" - một cách hiểu sơ khai của văn hoá doanh nghiệp bắt đầu hình thành. Từ
đầu những năm 1980, thuật ngữ "văn hoá doanh nghiệp" đã được các nhà quản trị,
các học giả, các nhà nghiên cứu sử dụng trong các bài phát biểu, các bài viết, các tài
liệu khoa học. Tại Việt Nam trong những năm gần đây, khái niệm văn hoá doanh
nghiệp cũng được sử dụng rất phổ biến, nó được coi như một " tiêu chí " để đánh
giá sự thành công của doanh nghiệp, là "tài sản vô hình" của mỗi doanh nghiệp.
Tuy nhiên, là một lĩnh vực mới được nghiên cứu nên cho đến nay vẫn tồn tại rất
nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về VHDN và chưa có một định nghĩa nào
được công nhận thống nhất.
Dưới đây là một số ý kiến của các học giả, tổ chức trên thế giới :

2
Theo Deal và Kennedy, "văn hóa doanh nghiệp đơn giản là cách thức mà
doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình". (18)
Theo Schneider - một trong những học giả đầu tiên đi sâu nghiên cứu về văn
hoá doanh nghiệp, "văn hoá doanh nghiệp là chất keo kết dính toàn bộ tổ chức lại
với nhau bằng cách cung cấp sự cố kết và liên kết mạch lạc giữa từng bộ phận nhỏ
của doanh nghiệp". (22)
Theo Robert A. Cooke, "văn hoá doanh nghiệp chính là những hành vi mà
các thành viên tin rằng họ cần phải phù hợp và đáp ứng mong đợi trong tổ chức của
họ" (17). Định nghĩa này nhấn mạnh đến ý thức của mỗi cá nhân trong tổ chức, họ
phải tự điều chỉnh hành vi của mình để phù hợp với hành vi chung được tổ chức
thừa nhận và áp dụng.
Theo chuyên gia nghiên cứu về văn hoá tổ chức Edgar Schein, "VHDN là
tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được
trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường
xung quanh". (19)
Theo Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO),

Theo PGS.TS. Nguyễn Mạnh Quân: "Văn hoá công ty là một hệ thống các ý
nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, (cách) nhận thức và phương pháp tư duy được mọi
thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến
cách thức hành động của từng thành viên" (13). Định nghĩa này thể hiện hai đặc
điểm của văn hoá doanh nghiệp : thứ nhất là VHDN liên quan đến nhận thức, thứ
hai là VHDN có tính thực chứng.
Như vậy, có thể hiểu : VHDN là toàn bộ những nhân tố và sản phẩm văn hoá
(vật thể và phi vật thể/tinh thần và vật chất) được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra,
biểu hiện trong hoạt động kinh doanh. Nó tạo nên bản sắc của doanh nghiệp, đồng
thời có tác động chi phối tới nhận thức, hành vi của các thành viên trong doanh
nghiệp.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của văn hoá doanh nghiệp

2
Theo Edgar Schein (19), hai yếu tố chính tác động đến sự hình thành và phát
triển của văn hoá doanh nghiệp là :
- Sự thích ứng của doanh nghiệp với môi trường bên ngoài : theo đó, văn hoá
doanh nghiệp được hình thành dựa trên sự tồn tại song song với những biến động
của các yếu tố bên ngoài như môi trường chính trị, văn hoá, công nghệ
- Sự hoà nhập vào môi trường bên trong : là một chức năng nhằm xây dựng
một "cấu trúc xã hội" phù hợp trong doanh nghiệp. Cấu trúc xã hội này được xây
dựng nhằm phù hợp với đặc thù loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp
với triết lý, sứ mệnh mà doanh nghiệp lựa chọn, phù hợp với cấu trúc nhân sự, tổ
chức của doanh nghiệp.
Williams, Dobson và Walters (16), dựa trên những phân tích của Schein đã
khái quát về sự thích ứng với môi trường bên ngoài và hòa nhập vào môi trường bên
trong của văn hóa doanh nghiệp như Hình 1.1:


2

Hình 1.1: Tác động của môi trƣờng bên trong và bên ngoài tới văn hóa doanh nghiệp
Nguồn: Williams, A., Dobson, P., Walters, M., 1989. Changing Culture: New
Organizational Approaches. London: IPM
Nghiên cứu về cách thức các thành viên học tập, trải nghiệm và tham gia vào
quá trình xây dựng VHDN, về các nhân tố, thành phần của VHDN, Gerry Johnson
(21) mô tả dưới hình thức một mạng văn hóa, với các thành phần giúp thành viên
của doanh nghiệp có thể nhận diện và ảnh hưởng trực tiếp tới VHDN bao gồm: Hệ
giá trị cốt lõi, Hệ thống kiểm soát, Cấu trúc doanh nghiệp, Cấu trúc quyền lực, Biểu
tượng, Các thủ tục, lễ nghi, Các câu chuyện, giai thoại như Hình 1.2:

những giá trị văn hoá khác với giá trị văn hoá của các công ty trách nhiệm hữu hạn
và các công ty nhà nước. Các công ty nhà nước hoạt động dựa trên nguồn vốn của

2
nhà nước, chủ yếu trong các lĩnh vực độc quyền và theo các chỉ tiêu kế hoạch của
nhà nước thông qua thì tính chủ động và tự giác sẽ thấp hơn các công ty tư nhân.
- Mối quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp : Một doanh nghiệp
có những giá trị phù hợp để mọi thành viên cùng chia sẻ, quan tâm ; có sự hài hoà
quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động ; quy trình kiểm soát, đánh giá chính xác
hiệu quả lao động sẽ tạo được sự gắn bó, đoàn kết giữa các thành viên.
- Văn hoá vùng miền : Trong doanh nghiệp có các nhân viên đến từ các địa
phương, các vùng khác nhau thì các giá trị văn hoá vùng miền thể hiện rất rõ nét.
Những mâu thuẫn tại nơi làm việc cũng có thể nảy sinh giữa các nhân viên đến từ
các vùng miền khác nhau mặc dù làm việc trong một công ty và chịu tác động
chung của văn hoá công ty đó.
Những giá trị văn hoá học hỏi được bao gồm :
- Những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệp : là những kinh nghiệm có
được khi xử lý các công việc chung, rồi sau đó được tuyên truyền và phổ biến toàn
doanh nghiệp và các thành viên mới.
- Những giá trị học hỏi được từ các doanh nghiệp khác
- Những giá trị văn hoá được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với các nền
văn hoá khác.
- Những giá trị do một hay nhiều thành viên mới đến mang lại.
- Những xu hướng và trào lưu xã hội
PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân (13) đề cập đến hai hệ thống công cụ tác
động đến việc phát triển văn hoá doanh nghiệp là việc quản lý hình tượng và các hệ
thống trong tổ chức. Về việc quản lý hình tượng, ông cho rằng người lãnh đạo, quản
lý doanh nghiệp cần định nghĩa rõ những giá trị đạo đức, triết lý mong muốn và tìm
cách sử dụng các công cụ biểu tượng (biểu trưng, khẩu hiệu, ấn phẩm ) để diễn đạt
chúng. Về việc quản lý các hệ thống trong tổ chức, ông cho rằng cần phân định rõ

của những người lãnh đạo sẽ gây ảnh hưởng đến toàn doanh nghiệp và dần dần định
hình nền văn hoá của doanh nghiệp đó. Các triết lý, giá trị được lựa chọn, đạo đức

2
của người lãnh đạo có thể được truyền đến các thành viên qua các bài phát biểu, các
ấn phẩm, các tuyên bố về chính sách, và đặc biệt là qua hành vi của người lãnh đạo.
Khi người lãnh đạo thưc sự nghiêm túc, nhất quán trong lý tưởng và hành động thì ý
chí của họ sẽ được mọi thành viên khác cùng tôn trọng.
Ảnh hưởng của văn hoá dân tộc: Văn hoá của doanh nghiệp là một bộ phận
của văn hoá dân tộc. Những cá nhân trong một doanh nghiệp sẽ mang theo những
nét nhân cách chung do được nuôi dưỡng, giáo dục trong một môi trường văn hoá
dân tộc trước đó. Các giá trị của nó phải phù hợp, tương đồng với văn hoá dân tộc,
văn hoá vùng miền, văn hoá địa phương. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các
doanh nghiệp kinh doanh trên cùng một thị trường ngành hàng, thuộc một khu vực
địa lý và cùng một dân tộc đều có văn hoá doanh nghiệp giống nhau. Điều này cũng
là do bản sắc của văn hoá doanh nghiệp in đậm dấu ấn cá nhân của người lãnh đạo.
Nhưng ở đâu đó, ta vẫn có thể nhận ra những đặc điểm chung nhất trong bản sắc
văn hoá của các doanh nghiệp này. Ví dụ như các doanh nghiệp của cộng đồng
người Hoa tại khu vực Chợ Lớn - Thành phố Hồ Chí Minh đều được đánh giá rất
cao về uy tín. Sự thành công của họ là do các doanh nghiệp luôn lấy chữ tín làm
đầu. Đây là quy ước bất thành văn, buộc mọi thành viên trong cộng đồng, bang hội
nghiêm túc tuân thủ nếu không sẽ bị "tẩy chay" và trên thực tế bản sắc này đã tạo
nên thành công của nhiều doanh nghiệp. Một số thương hiệu nổi tiếng trong nước
hiện nay cũng là do Hoa kiều làm chủ như thương hiệu giày dép Bình Tiên, bánh
kẹo Kinh Đô, bút bi Thiên Long, công ty dệt Thái Tuấn
Những giá trị văn hoá học hỏi được: Hình thức của những giá trị học hỏi
được khá phong phú, có thể kể đến những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệp,
những giá trị học hỏi được từ các doanh nghiệp khác, những giá trị văn hoá thu
nhận được trong quá trình giao lưu với các nền văn hoá khác, những giá trị do một
hay nhiều thành viên mới đem lại, những xu hướng hoặc trào lưu xã hội Tất nhiên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status