HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở xã Hòa Phú,
huyện Ứng Hòa, T.P Hà Nội”
Giáo viên hướng dẫn: Đoàn Bích Hạnh
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Ninh
Lớp: K56- PTNTC
Khoa: Kinh tế và phát triển nông thôn
Hà Nội, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, khóa luận tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao thu
nhập cho hộ nông dân ở xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, T.P Hà Nội”, chuyên
ngành phát triển nông thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Số liệu và kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố cho việc bảo vệ một
học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đều
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Đào Thị Ninh
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ
nông dân xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, T.P Hà Nội”, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể, tôi xin được bày tỏ
sự biết ơn sâu sắc tới các cá nhân, tập thể đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
hộ nông dân đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng nền kinh tế nước
nhà, có thể thấy kinh tế nông nghiệp đang làm tốt vai trò “bệ đỡ” của nền kinh
tế. Kinh tế hộ nông dân đang ngày càng được quan tâm, chú trọng phát triển. tuy
nhiên trong thời gian qua, đời sống người nông dân đang còn gặp nhiều khó
khăn. Thu nhập của người nông dân ngày càng đa dạng và có xu hướng tăng
nhưng mức chênh lệch về lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp thì
ngày càng giãn rộng. Vì vậy vấn đề nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trong
khu vực nông nghiệp, nông thôn là hết sức cần thiết trong tiến trình công nghiệp
hóa – hiện đại hóa, cũng như quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Hòa Phú là một xã nằm phía nam huyện Ứng Hòa, T.P Hà Nội với nền
sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chính. Đời sống nhân dân nơi đây
đang được cải thiện từng ngày tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong sản
xuất và đời sống. Cùng với xu thế chung của sự phát triển là sự chuyển dịch cơ
cấu lao động giữa các ngành ( chủ yếu là nông nghiệp sang các ngành khác), thế
nhưng thu nhập của các hộ nông dân trong xã vân còn thấp và không ổn định. Vì
vậy, việc nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
trên địa bàn xã là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở xã Hòa phú, huyện Ứng hòa, T.P Hà
Nội”. Nghiên cứu này nhằm đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giúp người
nông dân trong xã phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
của gia đình.
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu nghiên cứu đánh giá thực trạng thu
nhập, các khoản chi tiêu của hộ nông dân, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng
đến thu nhập của hộ nông dân, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập
iii
cho hộ nông dân trên địa bàn xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, T.P Hà Nội. Đề tài
nghiên cứu với các nội dung cụ thể sau:
- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập của
hộ nông dân.
địa bàn xã cho thấy, nhìn chung thu nhập của các hộ nông dân nơi đây còn thấp
và có sự khác nhau giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ nghèo có thu nhập ở mức thấp
nhất là 16361,54 nghìn đồng/hộ/năm, sau đó đến nhóm hộ trung bình là
46791,35 nghìn đồng/hộ/năm, và có mức thu nhập cao nhất là nhóm hộ khá với
56549,1 nghìn đồng/hộ/năm. Nhóm hộ nghèo là nhóm hộ có xu hướng đầu tư
hoàn toàn vốn sản xuất vào các hoạt động nông nghiệp, bao gồm trồng trọt và
chăn nuôi là chủ yếu nên thu nhập của nhóm hộ này phụ thuộc hoàn toàn vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhóm hộ trung bình và nhóm hộ khá là nhóm
hộ đa dạng các hoạt động sản xuất hơn cả, ngoài thời gian làm nông nghiệp,
nhóm hộ này còn làm thêm ngành nghề phụ như khâu chiếu, xâu hạt đệm xe,
nấu rượu… để giải quyết thời gian nông nhàn ngoài mùa vụ, đồng thời tạo thêm
thu nhập cho hộ.
Sự khác nhau về thu nhập của các nhóm hộ là do tác động của nhiều yếu
tố: yếu tố số lượng lao động và trình độ lao động (đặc biệt là chủ hộ), yếu tố đất
đai, yếu tố nguồn vốn, yếu tố thị trường, khuyến nông, …
Kết quả trên là cơ sở để tôi nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nâng
cao thu nhập cho hộ nông dân trên địa bàn xã. Đề tài nêu những giải pháp chủ
yếu nâng cao thu nhập cho hộ nông dân như sau: (1) Giải pháp về ruộng đât; (2)
Giải pháp về nhân khẩu và lao động; (3) Giải pháp về vốn; (4) Giải pháp về
khoa học kỹ thuật; (5) Giải pháp về khuyến nông; (6) Giải pháp về thị trường;
(7) Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng; (8) Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, TMDV; (9) Hoàn
thiện bộ máy tổ chức, quản lý.
Tóm lại, Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương cần quan
tâm hơn nữa đối với kinh tế hộ nông dân; cần có những chính sách khuyến
khích, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển để nâng cao thu nhập
cho người dân, cuộc sống của bà con ngày càng ấm no, hạnh phúc.
v
MỤC LỤC
vi
Biểu đồ 4.6 Cơ cấu thu nhập ngành phi nông nghiệp của các hộ điều tra 75
viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Stt Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
1 BCH TW Ban chấp hành Trung Ương
2 BQ Bình quân
3 BQC Bình quân chung
4 BQĐN Bình quân đầu người
5 BVTV Bảo vệ thực vật
6 CC Cơ cấu
7 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
8 CP Chi phí
9 DT Diện tích
10 ĐVT Đơn vị tính
11 GTSX Giá trị sản xuất
12 HĐSXNN Hoạt động sản xuất nông nghiệp
13 HTX Hợp tác xã
14 KHKH Khoa học kỹ thuật
15 LĐ Lao động
16 Ng Nghèo
17 NN Nông nghiệp
18 NNHH Nông nghiệp hàng hóa
19 NT Nông thôn
20 SX Sản xuất
21 SXHH Sản xuất hàng hóa
22 SL Số lượng
23 SXNN Sản xuất nông nghiệp
24 TB Trung bình
25 TMDV Thương mại dịch vụ
26 TN Thu nhập
trình trợ giúp cho nông dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và mức sống
đã được triển khai thực hiện như: Chỉ thị 100 – CT/TW Ban Bí thư Trung ương
Đảng (1981) về cải tiến công tác khoán; Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung
ương Đảng (1988) về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp… Có nhiều hộ gia
đình đã biết sử dụng có hiệu quả lao động, đất đai tiền vốn nên đã xuất hiện
nhiều hộ sản xuất kinh doanh giỏi. Tuy nhiên do có sự khác nhau về điều kiện
1
sản xuất thể lực và trí lực, kinh nghiệm sản xuất cho nên dẫn đến sự chênh lệch
về thu nhập và mức sống giữa các hộ, số hộ nghèo vẫn còn nhiều, đặc biệt là các
vùng ở nông thôn. Cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân ở vùng
nông thôn là một trong những yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay của
Đảng và Nhà nước nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông
thôn giảm tỷ lệ phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
Xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, T.P Hà Nội là một xã có mật độ dân cư
tương đối cao 1079 người/km
2
, kinh tế chưa phát triển và người dân chủ yếu
bám trụ nhờ nông nghiệp (chủ yếu vẫn tập trung vào cây lúa). Đất nông nghiệp
lại là một tài nguyên có hạn trong khi dân số lại không ngừng tăng lên theo các
năm, bên cạnh đó các ngành nghề cũng chưa thực sự phát triển, chất lượng dân
số còn hạn chế. Vì vậy mà thu nhập của người nông dân trong xã còn tương đối
thấp, mặc dù trong những năm qua thành phố đã có nhiều chương trình, giải
pháp hỗ trợ nông dân chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, thay đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi để tăng thu nhập. Trước thực tế đó cải thiện thu nhập cho hộ nông dân ở
xã Hòa Phú nhằm nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người
dân, làm động lực thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội, địa phương hòa nhập với
tiến trình phát triển chung của đất nước, tạo năng lực cạnh tranh trong khu vực
và thế giới là vấn đề cần được quan tâm.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân xã Hòa Phú,
- Phạm vi thời gian:
Tài liệu được sử dụng để đánh giá thực trạng thu nhập của các hộ nông dân
trong xã từ năm 2011 – 2014.
Đề xuất giải pháp có thể áp dụng từ năm 2015 – 2020.
Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 14/01/ 2015 đến ngày 02/06/2015.
3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập của hộ
nông dân bao gồm những vấn đề, nội dung gì để từ đó phân tích, đáng giá tìm ra
nguyên nhân, giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trên địa
bàn xã?
- Người dân trong xã Hòa Phú có những thuận lợi, khó khăn và tiềm năng gì
trong phát triển kinh tế?
- Nguyên nhân và các yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ
nông dân?
- Cần có các giải pháp gì để nâng cao thu nhập cho người dân trong xã?
4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO THU NHẬP CHO
HỘ NÔNG DÂN
2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
2.1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm thu nhập
Thu nhập là một trong những phương tiện giúp con người định hướng giải
quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về hộ nông
dân, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm đến thu nhập của hộ. Xong
đó được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau cho nên thu nhập hộ nông dân cũng
được nhìn nhận và khái niệm khác nhau (Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2008).
- Khái niệm hộ
Xoay quanh vấn đề về khái niệm hộ là gì vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm
ngân quỹ, ăn chung và tiến hành sản xuất chung.
- Khái niệm hộ nông dân
Theo Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ nông dân là những người có phương tiện
kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình cho sản xuất, luôn
nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự
tham gia từng thành phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao”.
Tác giả Nguyễn Sinh Cúc (2003) đưa ra khái niệm: “Hộ nông dân là
những hộ có toàn bộ hoặc hơn 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp
vào các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp như làm đất, thủy
nông, giống cây trồng…”
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra làm
thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ đó hoạt động kinh tế của nông hộ cũng có
những biến đổi sâu sắc. Xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện những nông hộ vì lý do
nào đó không có đất canh tác mà phải đi làm thuê tạo thu nhập. Cũng có hộ
6
chuyển sang nghề khác và cho thuê đất sản xuất của mình theo kiểu “Phát canh
thu tô”. Tất cả những hộ này đều được coi là hộ nông dân. Ngược lại, những hộ
không kinh doanh kiếm lợi từ ruộng đất mà hoạt động kinh tế trong lĩnh vực
ngành nghề phi nông nghiệp tuy sống ở nông thôn nhưng không được coi là hộ
nông dân.
Từ những khái niệm trên, hộ nông dân được khái quát như sau: Hộ nông
dân là những hộ ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là sản xuất nông
nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu là nghề nông. Ngoài nông nghiệp
hộ nông dân còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp như tiểu thủ công
nghiệp, thương mại dịch vụ ở mức độ khác nhau.
- Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất
thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản
xuất và thường là một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng
bởi sự tham gia cục bộ vào thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không
các doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn. Khi gặp điều kiện thuận lợi, nông
hộ có thể phát huy tối đa nguồn lực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn
tất yếu của mình. Trong hoàn cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có
thể quay về với sản xuất giản đơn.
Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao
động. Trong nông hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế, huyết
thống và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực để phát triển kinh
tế. Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác.
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả, quy
mô nhỏ nhưng không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp. Kinh tế nông
hộ vẫn có khả năng cho năng suất cao hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn.
8
Kinh tế nông hộ sử dụng lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu. Chỉ khi
nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các hoạt động mua bán hay đi
thuê mới diễn ra.
Với những đặc trưng trên, có thể khẳng định rằng kinh tế nông hộ luôn là
hình thức tổ chức kinh tế rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp. Bởi vì, đối
tượng sản xuất của nông nghiệp là các sinh vật sống rất cần sự chăm sóc trực
tiếp và thường xuyên của con người. Người lao động trong nông hộ với ý thức
trách nhiệm cao, có sự gắn bó mật thiết với cây trồng vật nuôi nên hoàn toàn có
thể đảm nhận công việc đó.
2.1.3 Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp
nông thôn
Trong nền kinh tế quốc dân, sự tồn tại và phát triển của các thành phần
kinh tế, các phương thức sản xuất là hoàn toàn khách quan. Kinh tế nông hộ là
một bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Từ trước đến nay kinh tế hộ dù phát
triển dưới bất cứ hình thức nào đều là nhân tố quan trọng giúp nền kinh tế quốc
dân phát triển kinh tế nông hộ có sắc thái riêng về kinh tế nhân văn và xã hội. Ở
các nước trên thế giới góp phần không nhỏ các sản phẩm cho đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm một tỷ trọng lớn
của chủ hộ và các thành viên trong hộ, và các khoản thu nhập ngoài nông hộ.
Một phần thu nhập sẽ được sử dụng vào chi tiêu đời sống, sinh hoạt, một phần
dùng để đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo hay gửi tiết kiệm.
Phương pháp tính thu nhập
Thu nhập của hộ = Tổng thu của hộ - Tổng chi phí
Tổng thu nhập của hộ = TN từ HĐSXNN +TN từ Phi NN + TN khác.
10
b) Tổng thu nhập của hộ nông dân
Tổng thu của hộ nông dân có được từ hoạt động sản xuất khác nhau trong
nông hộ do các thành viên cùng chung gánh vác tạo ra. Một số khác lại cho rằng
việc kiếm được từ các công việc khác ngoài nông hộ như làm thuê, lương hưu,
trợ cấp … cũng làm tăng nguồn thu nhập cho hộ. Như vậy, tổng thu của hộ có
được từ ba nguồn chính là thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu nhập
từ hoạt động phi nông nghiệp và thu nhập từ các khoản thu khác.
Phương pháp tính tổng thu nhập của hộ nông dân
Thu từ sản xuất nông nghiệp = ∑ số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán
Thu từ chăn nuôi = ∑ Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán
Thu từ hoạt động phi nông nghiệp =∑ Số lượng hàng hóa x giá bán
Thu nhập khác = Tổng các khoản thu thực tế khác trong năm.
c) Chi phí sản xuất của hộ nông dân
Chi phí sản xuất thể hiện bằng tiền mặt hoặc hiện vật các yếu tố sản xuất
được đưa vào một hoặc nhiều quá trình sản xuất. Thực chất chi phí sản xuất bao
gồm chi phí tự có của hộ (phần không phải trả) và toàn bộ phần phải chi khác
(phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm tương ứng với thời kỳ
một năm.
Phương pháp tính chi phí
Tổng chi phí sản xuất = Chi phí biến đổi + Chí phí cố định + Chi phí
chung khác.
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân
a) Điều kiện tự nhiên
tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất. Trong đó, kiến thức
chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường, ở các lớp tập huấn
ngắn hạn và dài hạn. Thông qua đó, người lao động hiểu biết được các đặc điểm
quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi từ đó lựa chọn
12
phương án sản xuất tối ưu, đồng thời tiếp thu nhanh tiến bộ kỹ thuật, hiểu biết
thị trường, nắm được các chính sách kinh tế của nhà nước.
Như vậy, để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thì kiến thức
chuyên môn cho người lao động là rất cần thiết. Đặc biệt đối với chủ hộ vì họ là
người cuối cùng đưa ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất, những quyết
định của chủ hộ có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích lũy được trong
cuộc sống. Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, nó tuân thủ
theo quy luật của tự nhiên dù chúng ta kiến thức chuyên môn cao vẫn có thể thất
bại nếu không có kinh nghiệm. Vì vậy, kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng rất lớn
đến thu nhập của hộ nông dân.
d) Quy mô vốn đến thu nhập
Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành tổ chức
sản xuất, kinh doanh nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất. Có
vốn có thể mở rộng quy mô sản xuất chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, có vốn
thì có thể mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất làm giảm chi phí,
góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
e) Khoa học kỹ thuật
Sản xuất hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm có năng suất cao và chất lượng tốt. Cải tiến
kỹ thuật làm tăng khối lượng và chất lượng hàng hóa và giảm được chi phí, cải
tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa và
tăng thu nhập cho hộ nông dân.
f) Thị trường
nghiệp nông thôn, là môi trường thuận lợi để nông dân phát triển sản xuất theo
hướng hàng hóa với quy mô lớn.
14
i) Các yếu tố khác
Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như
số người được hưởng trợ cấp, số người có lương hưu, số người đi làm việc ở các
công ty xí nghiệp, số người đi xuất khẩu lao động … Trong đó, trình độ của số
người đi làm việc ở nước ngoài thể hiện ở số tiền mà lao động nhận được trong
một đơn vị thời gian, thu nhập của những hoạt động này thể hiện ở số tiền đóng
góp vào ngân quỹ chung của hộ, khoản thu này tuy không lớn so với thành thị
nhưng có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ nông dân ở nông thôn.
2.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
2.2.1 Tình hình thu nhập của hộ nông dân ở Việt Nam
2.2.1.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về việc phát triển kinh tế
hộ nông dân
Trước khi có chỉ thị 100 CT/TW: Đến cuối năm 1960, hơn 84% tổng số nông
dân đã tham gia vào HTX NN. Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, các quan hệ
mua bán trao đổi ruộng đất bị cấm đoán. Ruộng đất và SXNN chủ yếu giao cho
nông lâm trường và HTX với cơ chế kế hoạch tập trung, trực tiếp và toàn diện.
Hộ nông dân chỉ được sản xuất trên 5% diện tích đất canh tác. Hộ được chia làm
hai loại: hộ nông dân cá thể, hộ gia đình xã viên và công nhân viên (trong các
nông lâm trường). Đối với hộ xã viên và công nhân viên, thu nhập của kinh tế
gia đình gồm hai thành phần: một phần do kinh tế tập thể đem lại qua ngày công
lao động (hoặc lương), phần còn lại là thu nhập trên đất 5% của hộ. Trong thời
kỳ này, hộ nông dân bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của kinh tế phụ gia
đình.
Do hoạt động của kinh tế tập thể kém hiệu quả và ngày càng giảm sút, nên
phần thu nhập từ kinh tế tập thể ngày càng giảm so với tổng thu nhập của gia
đình nông dân (thời kỳ 1960 -1965 phần thu nhập từ kinh tế tập thể chiếm 70%
đến 75%, thời kỳ 1975 – 1980 chỉ còn lại từ 25 – 30%).