GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO hộ NÔNG dân HUYỆN QUẾ võ TỈNH bắc NINH - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHẤN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHẤN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. CHU THỊ KIM LOAN
HÀ NỘI, NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phấn
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban
giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nay là Học viện Nông nghiệp

thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ 96
c.Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 97
d.Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ khuyến nông cơ sở và ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật 99
e.Mở rộng thị trường 100
f.Hoàn thiện bộ máy tổ chức, quản lý 101
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng ngàn
năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng, nhưng về
căn bản vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, kĩ thuật lạc hậu mang nặng tính độc canh, tự
cung, tự cấp là chính.
Những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có sự phát triển
vượt bậc, đạt được những thành tựu đáng khích lệ với năng suất và sản lượng
ngày càng tăng. Có sự chuyển biến tích cực đó là nhờ vào sự đổi mới chính sách
kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước đó là quyết định tiến hành công cuộc
đổi mới chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước. Nhất là từ khi có Chỉ thị 100
của Ban bí thư Trung ương Đảng (1981) về “cải cách công tác khoán, mở rộng
khoán sản phẩm đến người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp”, đặc biệt
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng (1988) về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp”. Với Nghị quyết này hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh
tế tự chủ góp phần quan trọng vào sự phát triển của nông nghiệp nước ta trong
những năm qua.
3
Tuy nhiên bên cạnh mặt đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn. Đây là
tất yếu khách quan. Đó là nền kinh tế hàng hoá đã tạo ra sự phân hoá giàu nghèo
ngày càng sâu sắc, vấn đề chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa
các vùng, giữa thành thị và nông thôn ngày một rõ. Hiện nay, hơn 70% dân số

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện
Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Khái niệm về hộ, hộ nông dân?
- Phương pháp tính thu nhập của hộ nông dân?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân?
- Kinh nghiệm nâng cao thu nhập của hộ nông dân của 1 số quốc gia là gì?
Tình trạng thu nhập của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu?
- Đặc điểm nhân khẩu, lao động, tiền vốn, đất đai của hộ nông dân trên
địa bàn nghiên cứu như thế nào?
- Tổng thu, chi phí sản xuất và thu nhập của nhóm hộ điều tra trên địa bàn
nghiên cứu như thế nào?
- Những nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân điều tra
là gì?
- Các giải pháp nào để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện Quế Võ
tỉnh Bắc Ninh?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh. Đối tượng khảo sát của đề tài là các hộ nông dân thông qua điều
tra, phỏng vấn để thấy được thực trạng về thu nhập của các hộ nông dân trong
huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các
nông hộ trong điều kiện hiện nay.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1. Phạm vi về thời gian
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2013 – tháng 10/ 2014.
5
- Số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2011 – 2013, số liệu điều tra được
thực hiện ở năm 2013.
1.4.2.2. Phạm vi về không gian

nêu trên, khái niệm hộ được khái quát như sau: “Hộ là nhóm người chung huyết
tộc hoặc không chung huyết tộc, họ không nhất thiết cùng sống chung dưới một
mái nhà nhưng có chung nguồn thu nhập và ăn chung. Các thành viên của hộ
cũng tiến hành các hoạt động sản xuất và có cùng chung ngân quỹ”.
7
“Ăn chung” được hiểu theo nghĩa là các thành viên trong hộ được phân
phối bởi nguồn thu nhập chung, cái mà họ đã cùng sáng tạo ra trong một khoảng
thời gian nhất định.
Theo GS. Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ là một nhóm người cùng chung huyết
tộc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộc trong
cùng một mái nhà. Ăn chung và có chung ngân quỹ, có phân phối chung nguồn
thu nhập mà các thành viên của họ sáng tạo ra”.
2.1.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Theo GS .Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ nông dân là những người có phương
tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình cho sản xuất,
luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi
sự tham gia từng thành phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao”.
Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra làm
thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ đó hoạt động kinh tế của nông hộ cũng có
những biến đổi sâu sắc. Xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện những nông hộ vì lý do
nào đó không có đất canh tác mà phải đi làm thuê tạo thu nhập. Cũng có hộ
chuyển sang nghề khác và cho thuê đất sản xuất của mình theo kiểu “Phát canh
thu tô”. Tất cả những hộ này đều được coi là hộ nông dân. Ngược lại, những hộ
không kinh doanh kiếm lợi từ ruộng đất mà hoạt động kinh tế trong lĩnh vực
ngành nghề phi nông nghiệp tuy sống ở nông thôn nhưng không được coi là hộ
nông dân.
2.1.1.3. Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là tổ chức cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó các
nguồn lực như: đất đai, lao động, nguồn vốn và các tư liệu sản xuất khác của
nông hộ là nguồn lực chung để tiến hành sản xuất.

thời gian lao động làm việc nhà, thời gian làm SXNN và thời gian làm việc có
tiền công (bao gồm lao động làm thuê ngoài và LĐ đi làm thuê). Từ đó, các ông
khái niệm thu nhập của hộ nông dân như sau: Thu nhập của hộ nông dân được
tính bằng giá trị sản phẩm sau khi đã trừ đi các phần: Phần sản phẩm hộ tiêu
9
dùng, giá trị công lao động thuê ngoài, chi phí đầu vào cho sản xuất và cộng giá
trị tiền lao động đi làm thuê. Song ở đây, các ông lại tính số tiền giống nhau,
điều này không đúng. Sau đó, khái niệm này được Allanlow nghiên cứu và bổ
sung thêm với điều kiện tiền công khác nhau cho các loại lao động, giá cả các
sản phẩm cũng khác nhau.
Để đi sâu vào nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về hộ nông dân, nhiều
nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu hỗn hợp để
đánh giá thu nhập của nông dân. Thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân là phần thu
được sau khi lấy tổng thu (tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản
xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ chi
phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản cố định ). Như vậy trong phần thu
nhập của hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của
các thành viên và lãi kinh doanh.
Xuất phát từ các quan điểm trên và đặc trưng về hộ nông dân ở Việt Nam
chúng tôi tổng quát về thu nhập của hộ nông dân như sau: Thu nhập của một hộ
nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù
đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu
có. Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
mà hộ thực hiện. Có thể phân thu nhập của hộ thành 3 loại: Thu nhập từ nông
nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu khác.
- Thu nhập nông nghiệp: Bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong
nông nghiệp (gồm cả nghề rừng và nghề cá theo nghĩa rộng) như: Trồng trọt
(lúa, màu, rau, quả ); từ chăn nuôi (gia cầm, gia súc ), nuôi trồng thủy sản
( tôm, cua, cá )
Thu nhập phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành

Thu ngoài hoạt động SXNN là các khoản thu thực tế của nông hộ có thể
bằng tiền có thể bằng hiện vật. Phần thu này có được từ các thành viên trong hộ
tham gia vào các hoạt động sản xuất khác ngoài nông hộ như làm trong các nhà
máy, xí nghiệp, đi xuất khẩu lao động hay làm cho các hộ nông dân khác có tiền
11
đóng góp vào ngân quỹ chung của hộ nông dân. Nguồn thu này còn có được từ
các tổ chức hay cá nhân như quà biếu, cho tặng, lương hưu, trợ cấp, lãi suất cho
vay ,
b. Phương pháp tính tổng thu nhập cho hộ nông dân
* Tính tổng thu
Thu từ hoạt động sản xuất nông hộ bằng tổng thu ngành nông nghiệp và
ngành phi nông nghiệp, song mỗi hoạt động khác nhau có cách tính khác nhau.
Đối với hoạt động NN, trước hết là sản xuất trồng trọt, do sản xuất trồng
trọt mang tính thời vụ nên tổng thu được tính theo thời vụ. Tổng thu từ sản xuất
mùa vụ bao gồm thóc, ngô, khoai, sắn Đó là toàn bộ giá trị sản phẩm được
bán, giá trị sản phẩm mà hộ tiêu dùng trong gia đình, làm thức ăn chăn nuôi
giống, cây trồng, vật nuôi, phân bón cụ thể được tính như sau:
Thu từ SXNN = số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán
Thu từ chăn nuôi = Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán
Thu từ hoạt động phi nông nghiệp =( số lượng hàng hóa x giá bán)
Thu nhập khác = Tổng các khoản thu thực tế khác trong năm
* Tính tổng chi phí
Chi phí (CP) sản xuất thể hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật các yếu tố sản
xuất được đưa vào một hoặc nhiều quá trình sản xuất. Thực chất, chi phí sản
xuất bao gồm phần chi phí tự có của hộ (phần không phải trả) và toàn bộ phần
phải chi khác (phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm tương ứng với
một thời kỳ một năm.
Tổng chi phí SX = CP biến đổi + CP cố định
* Tính thu nhập
Thu nhập (TN) của hộ nông dân là phần còn lại sau khi đã trừ đi hết chi phí

hàng hóa (SXHH) thì mới có cơ hội để phát triển kinh tế nông hộ. Đối với tài
nguyên đất đai, cần chú ý đến hai yếu tố đó là diện tích và độ màu mỡ làm giảm
chi phí sản xuất và tăng năng suất.
13
Quy mô diện tích là nhân tố quan trọng để xác định mức thu nhập từ sản
xuất mà hộ khai thác được. Nếu hộ nào có điều kiện sản xuất trên quy mô rộng
thì việc tăng quy mô diện tích sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa, trang trại. Ngược lại nếu hộ nào không đủ điều kiện, không có khả
năng sản xuất kinh doanh thì quy mô diện tích rộng sẽ không những không làm
tăng thu nhập mà còn làm tăng chi phí sản xuất, lãng phí đất đai, lãng phí sức
lao động
Chất lượng đất đai thể hiện ở độ phì, độ mầu mỡ của đất. Độ phì, độ mầu
mỡ của đất là chất dinh dưỡng cho cây trồng tồn tại và phát triển. Chất lượng
của đất còn quy định lợi thế của từng vùng, tạo ra sự đa dạng của sản phẩm chất
lượng đất không những làm tăng khối lượng sản phẩm mà còn làm giảm được
chi phí sản xuất.
c. Ảnh hưởng của yếu tố thị trường
Nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của xã hội đối với nông sản phẩm và
giá cả của các yếu tôt đầu vào. Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn
toàn tự lựa chọn sản xuất những sản phẩm mà họ có khả năng và chi phí cơ hội
thấp. Đối với từng hộ nông dân, để đáp ứng nhu cầu của thị trường nông sản, họ
có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau. Thị trường là nơi mà giá cả của
các yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất được hình thành, nên thị trường có
ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ người dân.
d. Ảnh hưởng của nhân tố về phong tục tập quán .
Ở mỗi vùng điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội khác nhau, đặc biệt yêu
cầu thích nghi của các cây trồng, vật nuôi cũng khác nhau ở mỗi vùng sinh thái,
đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác và nuôi trồng phù hợp với điều kiện
từng vùng. Ngoài ra mỗi vùng mỗi địa phương còn có những ngành nghề truyền
thống khác nhau quan niệm về kinh doanh TMDV khác nhau.

Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm năng suất cao và chất lượng tốt. Cải
tiến kỹ thuật là tăng khối lượng và chất lượng hàng hóa và giảm được chi phí,
15
cải tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa
và tăng thu nhập cho hộ nông dân.
d. Ảnh hưởng của trình độ tổ chức, quản lý đến thu nhập
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân, việc lựa
chọn phương án sản xuất và cách bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực hiện có
vai trò quyết định đến thu nhập của hộ nông dân. Yếu tố này phụ thuộc vào trình
độ văn hóa, kinh nghiệm sản xuất và nhạy bén với thị trường của chủ hộ.
e. Ảnh hưởng của các khoản thu khác đến thu nhập
Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như số
người được hưởng trợ cấp, số người hưởng hưu, số người đi làm việc ở công ty,
xí nghiệp số người đi xuất khẩu lao động trong đó trình độ của số người đi
làm ở nước ngoài thể hiện ở số tiền mà lao động nhận được trong một đơn vị
thời gian. Thu nhập của những hoạt động này thể hiện ở số tiền đóng góp vào
ngân sách của hộ, khoản thu này tuy không lớn so với thành thị nhưng có ảnh
hưởng lớn đến thu nhập của hộ nông dân ở nông thôn.
2.1.3. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân có 6 đặc trưng cơ bản là:
Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản
lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung,
mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn,
đất đai để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ.
Thứ hai: Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ với
nhau và được chi phối bởi quan hệ huyết thống. Thông thường chủ hộ thường là
người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất. Với đặc điểm này, việc
tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất, cơ cấu
tổ chức rất đơn giản.

quốc dân phát triển. Kinh tế nông hộ có sắc thái riêng về kinh tế nhân văn và xã
hội. Ở các nước trên thế giới, nông hộ góp phần cung cấp một khối lượng không
nhỏ các nông sản phẩm cho đời sống xã hội.
17
Ở Việt Nam, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm một tỷ trọng lớn
trong nền kinh tế. Mặt khác đối với nông nghiệp sản xuất hàng hoá chưa cao nên
kinh tế nông hộ càng có vai trò hết sức to lớn, nó thúc đẩy nông nghiệp và nông
thôn phát triển. Theo ước tính thì kinh tế hộ nông dân đã cung cấp cho xã hội
khoảng 90% sản lượng thịt và cá, 90% sản lượng lương thực, thực phẩm, cây
công nghiệp, cây ăn quả. Đẩy mạnh xuất khẩu và góp phần sử dụng tốt hơn tài
nguyên đất, lao động, vốn, rừng, biển nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Từng bước phát triển các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn theo tinh thần mà
Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới là CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn.
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế chúng ta đang chủ trương xoá bỏ
thế độc canh tiến đến đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành nghề, dịch
vụ ở nông thôn theo điều kiện từng vùng, từng bước xoá bỏ cơ chế sản xuất tự
cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo hình thức trang trại gia đình để tăng
khả năng đầu tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng suất cây
trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng cao thu nhập cho người
nông dân, từng bước “thành thị hoá” trong lòng nông thôn để phát triển một nền
nông nghiệp mạnh và bền vững.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam
2.2.1.1. Thời kỳ Pháp thuộc
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 do thực dân và phong kiến chiếm đa số
ruộng đất, vì vậy mà đại bộ phận nông dân phải đi làm thuê cho địa chủ phong
kiến, chỉ có một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hoá theo kiểu cổ truyền
với kinh nghiệm và kĩ thuật thô sơ.
2.2.1.2 Giai đoạn từ 1955 đến 1959
Sau khi giành được chính quyền, Đảng ta đa thực hiện cải cách ruộng đất

triển. Và chính trong thời gian này đã có nhiều địa phương tiến hành “ khoán
chui ”, “khoán gọn” đến từng nhóm người và đến từng người lao động. Ví dụ
19
như: ở Hải Phòng, Vĩnh Phú, Thái Bình và hình thức này tỏ ra có hiệu quả hơn
HTX rõ rệt.
Cũng chính trên cơ sở này mà qua một thời gian đấu tranh và phân tích kĩ
lưỡng và ngày 13 tháng 1 năm 1981 Ban bí thư TW Đảng đã ban hành Chỉ thị
100CT/ TW nêu rõ mục đích của việc thực hiện cơ chế khoán mới nhằm thúc
đẩy sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế, lôi kéo mọi người hăng hái
tham gia sản xuất, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực và cơ bản nâng cao
thu nhập cho xã viên, tích luỹ cho HTX và tăng thu cho nhà nước. Cũng chính
do được đầu tư vốn, sức lao động trên ruộng đạt được khoán và hưởng trọn phần
vượt khoán nên kinh tế nông hộ được khôi phục và phát triển nhanh chóng. Kết
quả là từ năm 1981 đến năm 1985 sản lượng lương thực tăng 20,7%, năng suất
tăng 232%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, thu nhập quốc dân trong nông
nghiệp tăng 5,6% và lương thực bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm:
từ 273kg năm 1981 lên 304kg năm 1985. Kinh tế nông hộ trong giai đoạn này
tuy được tự chủ chút ít nhưng vẫn còn phụ thuộc vào tập thể và vẫn bị mô hình
này chi phối.
Và chỉ sau một thời gian ngắn Khoán 100 bắt đầu bộc lộ những hạn chế.
Bởi vì, tuy là khoán nhưng HTX vẫn đảm nhiệm đến 5 khâu, còn xã viên chỉ
đảm nhận 3 khâu, HTX vẫn dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất, sản xuất tập
trung và phân phối theo công điểm. Mức độ khoán lại do HTX quy định nên đã
xảy ra tình trạng quan liêu như: mức khoán thì quá cao không xuất phát từ thực
tế làm cho xã viên không có lợi trong việc đầu tư thâm canh vì vậy mà xã viên
trong giai đoạn cuối này mong muốn mất mùa hơn là được mùa, cho nên sản
xuất nông nghiệp lại đi vào khủng hoảng.
2.2.1.5.Giai đoạn từ 1988 đến nay
Trước những hạn chế khó khăn của Chỉ thị 100CT/TW các địa phương tiên
phong như: Hải Phòng, Vĩnh Phú lại làm thử hình thức giao hẳn ruộng đất cho

cao, kinh tế nông hộ ngày càng đa dạng hơn về thành phần. Nhiều hộ đã chuyển
sang đa ngành chứ không còn tình trạng nông nghiệp thuần tuý nữa. Cơ cấu thu
21
nhập trong nông hộ cũng thay đổi, xã hội nông thôn ngày càng ổn định và phát
triển.
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được kinh tế nông hộ còn bộc lộ
những yếu điểm sau:
- Nguồn lực trong nông hộ có quy mô nhỏ: ruộng đất bình quân đầu người
thấp. Đặc biệt là ở vùng đồng bằng Sông Hồng cộng với việc manh mún dẫn đến
kinh tế nông hộ bị hạn chế rất nhiều trong việc phát triển.
- Lao động thì thiếu việc làm, trong khi đó số người ăn theo thì cao, điều
này làm hạn chế sự tích luỹ của nông hộ trong quá trình tái sản xuất.
- Mất cân đối và thiếu vốn trong sản xuất: hầu hết các nông hộ trong nông
thôn đều thiếu vốn trong sản xuất, có một số nông hộ không dám vay vốn để
phát triển sản xuất vì sợ thất bại, còn có những hộ muốn vay nhưng không được
vay vì nhiều lý do.
- Phân bổ sản xuất không đều có sự chênh lệch lớn giữa đồng bằng và miền
núi, điều này dẫn đến sự mất cân đối trong phát triển sản xuất. Vùng thì thiếu,
vùng thì thừa.
- Vấn đề ra quyết định sản xuất của nông hộ nhìn chung còn bị động và
chưa thể hạch toán được quá trình sản xuất. Do vậy mà cơ hội làm giầu của
nông hộ bị giảm.
- Thị trường nông thôn kém phát triển và không thường xuyên dẫn đến sự
mất thông tin thị trường của các nông hộ. Điều này đã hạn chế quá trình sản xuất
của nông hộ.
Những vấn đề tồn tại trong nông thôn Việt Nam mà khi phát triển kinh tế
nông hộ cần quan tâm giải quyết.
- Sản xuất nông hộ vẫn còn mang tính tự cung tự cấp chưa thoát hẳn những
tư tưởng cũ, năng suất sản phẩm thấp và chưa ổn định.
- Thất nghiệp: thực tế cho thấy chúng ta dư thừa khoảng 20 - 30% lao động.

Hiện nay kinh tế nông hộ nước ta đóng một vai trò không nhỏ đối với nền
kinh tế quốc dân. Vì vậy sự phát triển phong phú các loại hình kinh tế hộ dẫn
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status